Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tăng San Bốc Dịch

Bài tổng quan

Cáo Lão, Xây Dựng, Tăng Đạo Và Cấp Bậc: Những Chặng Cuối Đường Công Danh

Bói Dịch - Tăng San Bốc Dịch19/09/202611 phút đọc4 lượt đọc
Cáo Lão, Xây Dựng, Tăng Đạo Và Cấp Bậc: Những Chặng Cuối Đường Công Danh

Một người xem hộ cha đang chờ bổ nhiệm, thấy Phụ Mẫu hóa Quan tinh hồi đầu sinh, đoán năm Dần cha sẽ được phục chức — quả đúng như vậy. Nhưng trong quẻ còn ẩn một tầng nghĩa khác: hào Mão mộc hóa Mùi Mộ chờ ngày thực Mộ, và đến năm Mùi, cha ông qua đời. Một Huyện lệnh hỏi liền ba quẻ về thăng tiến, cả ba lần đều hiện Tử Tôn trì Thế — quả nhiên sau đó bị giáng chức về hưu. Tăng San Bốc Dịch nối liền năm chặng cuối đường công danh: cáo lão, xây dựng công trình, làm sư sãi hay thầy thuốc, xét cấp bậc phẩm hàm, và con cái xem giúp vận quan lộ cho cha. Vì sao cùng một hào Tử Tôn, có lúc là phúc để về hưu, có lúc lại là điềm mất chức?


Cáo Lão, Từ Quan: Hào Tử Tôn Định Ngày Về Hưu Thanh Thản

Tử vượng Tử hưng, tất năng toại nguyện; Quan khắc Quan Thế, tổng bất như tâm.

Tử vượng, Tử phát động, ắt được toại nguyện; Quan khắc, Quan trì Thế, chẳng được hài lòng.

Hào Tử Tôn trì Thế, Tử Tôn động, là tượng không bị lụy về việc quan, ắt được toại nguyện, về hưu thỏa chí an nhàn. Hào Quan trì Thế, hoặc Quan động khắc Thế, hợp Thế, khó mà thoát khỏi danh lợi ràng buộc.

Cáo giả bất kỵ Phản ngâm, hưu trí tu nghi hóa Thoái.

Xin nghỉ không kỵ Phản ngâm; về hưu nên gặp hóa Thoái.

Cáo bệnh hay xin về quê chăm sóc cha mẹ là tạm thời từ chức, nếu được quẻ Phản ngâm, chủ về sau này lại được làm quan, nên không kỵ. Nhưng nếu là từ quan thì không nên gặp quẻ Phản ngâm, chủ về từ chức nhiều lần không được, sau này vẫn phải ra làm quan. Nếu gặp quẻ Phục ngâm, thì không nên từ chức.

Hào Quan, hào Thế hóa Thoái thần, xin nghỉ hay từ quan đều được toại nguyện.

Hào Thế và hào Quan đều hóa Tiến thần, vẫn bị việc quan ràng buộc, không thể dứt bỏ.

Xây Dựng Công Trình: Hào Phụ Mẫu Và Sự Bền Vững Của Công Việc

Còn tại chức, đôi khi quan lại còn phải đứng ra trông coi một công trình của triều đình.

Phúc dao Tử động vô ưu; Quỷ khắc Huynh xung hữu hoạn.

Phúc đức Tử Tôn phát động chẳng lo; Quỷ khắc Huynh xung có họa.

Hào Tử Tôn trì Thế, hào Tử Tôn động trong quẻ, thì công việc không có gì đáng lo, đầu xuôi đuôi lọt.

Hào Quan Quỷ khắc Thế, sẽ gặp phiền phức; hào Huynh khắc, hào Huynh động là phải đền bù tiền của; hào Quỷ, hào Huynh trì Thế cũng tương tự như vậy.

Tân bình thích: Ví dụ, ngày Đinh Hợi tháng Hợi, một người xem xây dựng đập chứa nước có thể thuận lợi hoàn thành hay không? Được Khuê biến Đại Hữu.

Quẻ Hỏa Trạch Khuê
Quẻ biến Hỏa Thiên Đại Hữu

Tử Tôn trì Thế, tuy không được Nhật Nguyệt sinh phù, nhưng Huynh Đệ Sửu thổ động mà sinh Thế, Quan Quỷ tĩnh mà không động, tất có thể thuận lợi hoàn thành. Quả như dự đoán.

Phụ Thế Quan sinh, nhân công gia tước.

Phụ trì Thế được Quan sinh, vì việc công mà ban tước.

Hào Phụ Mẫu trì Thế, hào Quan động mà sinh hào Thế, là tượng được thăng chức vì việc công.

Tài hưng Quan vượng, hoạch lợi vinh danh.

Tài động Quan vượng, được lợi lộc lại vinh danh.

Hào Quan vượng trì Thế, được hào Tài động tương sinh, không những được lợi ích từ việc công, mà còn mang lại công danh. Tài vượng trì Thế, hào Thế động hóa Tài hồi đầu sinh Thế, cũng tương tự như vậy.

Lục xung bất cửu, Lục hợp kiên lao.

Lục xung chẳng bền, Lục hợp kiên cố.

Xem về công trình đều lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng thần, Dụng thần không vượng, hoặc bị xung khắc, hoặc xem được quẻ Lục xung, là tượng không được bền vững. Hóa xung cũng tương tự như vậy. Lại phải xem hào Thế có vượng hay không. Nếu hào Thế hưu tù, bị khắc, thì sau này sẽ bị tai họa bởi công trình. Tốt nhất là hào Phụ vượng tướng, lại được quẻ Lục hợp, là tượng vững chãi lâu dài.

Dã Hạc bàn rằng: Khi xem về việc công, xem phòng tai tránh họa khi bắt đầu thực hiện công trình, đều nên gặp hào Tử Tôn phát động, vì là điềm không có điều lo ngại. Nếu như đã thấy có điều nguy hiểm mà xem, ắt lo lắng về công danh, lúc đó, hào Tử Tôn động là tượng tổn hại đến quan, không thể cho rằng Tử động thì vô lo được. Nếu mới bắt đầu thực hiện công trình, gặp hào Huynh động cần đề phòng đền tiền. Nếu đã thấy nguy hiểm, gặp hào Huynh động, cần đề phòng cắt giảm lương bổng.

Sư Sãi, Đạo Sĩ, Thầy Thuốc: Con Đường Tu Hành Và Nghề Y

Ngoài đường quan lại, sách còn dành một chương riêng cho những người theo nghiệp tu hành, thuốc thang.

Tăng đạo y quan, diệc hỷ Quan Văn phát động.

Tăng, đạo, thầy thuốc, đều nên được Phụ, Quan phát động.

Sách xưa cho rằng sư sãi, đạo sĩ, thầy thuốc xem về công danh đều lấy hào Tử Tôn làm Dụng thần, không nên gặp hào Phụ Mẫu động khắc Tử.

Dã Hạc bàn rằng: Nói như vậy là phi lý. Nếu là người khác xem cho sư tăng, đạo sĩ, thầy thuốc, thì lấy Tử Tôn làm Dụng thần. Nếu Tử Tôn vượng tướng, chủ về đạo hạnh, tay nghề cao; nếu Phụ Mẫu vượng tướng, chỉ là dạng tầm thường, kém.

Nếu sư tăng, đạo sĩ, thầy thuốc tự xem về đạo nghiệp, tay nghề, mà cũng lấy Tử Tôn làm Dụng thần, cho rằng Tử Tôn vượng tướng thì đạo cao nghề giỏi là không đúng. Tự xem về công danh của mình, nếu Tử Tôn động sẽ khắc Quan, làm sao có thể lấy làm Dụng thần được, nên vẫn phải xem hào Quan. Nếu Quan tinh trì Thế, hoặc Nhật, Nguyệt, hào động tương sinh, hoặc Phụ Mẫu trì Thế, hoặc được Quan vượng tương sinh, chắc chắn sẽ thành danh.

Âm dương tạp chức, câu dĩ Tử động vi hiềm.

Các nghề âm dương, đều coi Tử động là không may.

Hào Tử Tôn động, Tử Tôn trì Thế, đều là tượng không thành danh. Ta cho rằng việc này cũng tương tự như xem công danh cho người thường.

Ví dụ: Ngày Bính Thìn tháng Sửu, một Tăng quan xem về công danh, được quẻ Truân biến Ký Tế:

Chú thích: Tăng quan: Chức quan trông coi các sự việc liên quan đến chùa chiền, tăng ni, do nhà sư đảm nhiệm.

Quẻ Thủy Lôi Truân
Quẻ biến Thủy Hỏa Ký Tế

Vì vị Tăng quan này vướng chuyện kiện tụng, sợ bị cách chức nên mới xem quẻ.

Đoán rằng: Hào Tử Tôn trì Thế, là thần khắc Quan. Quan lại lâm hào Ứng, nên chức quan này sẽ về tay người khác. Quả nhiên sau bị cách chức.

*

Cấp Bậc Công Danh: Phẩm Hàm Cao Thấp Qua Ngũ Hành Của Hào Quan

Dù theo con đường nào, câu hỏi cuối cùng vẫn quay về một điều: phẩm hàm sẽ dừng lại ở đâu.

Sách xưa cho rằng, thủy là nhất phẩm, hỏa là nhị phẩm, mộc là tam phẩm, kim là tứ phẩm và thổ là ngũ phẩm. Như hào Quan thuộc hỏa, sẽ làm quan đến nhị phẩm; Quan tinh thuộc thủy, làm quan nhất phẩm.

Dã Hạc bàn rằng: Chỉ có chừng ấy số, thì làm quan đến công hầu, biết dựa vào đâu để đoán định? Quan vốn chia làm cửu phẩm, mà số chỉ đến 5, nếu là quan lục phẩm, thất phẩm, biết dựa vào đâu mà đoán? Theo chiêm nghiệm của ta, thì nên chỉ rõ ra mà hỏi, như: Tôi có làm được đến công hầu không? Có được làm đến Tể tướng không? Có được làm quan nhất phẩm không?

Nếu Quan vượng, lâm Nhật, Nguyệt, công danh sẽ có hy vọng. Nếu Quan bị Phá, hoặc gặp hình xung, đến hết đời cũng không toại nguyện. Tử Tôn trì Thế, khác gì mò trăng đáy nước. Quan động sinh Thế, là tượng công danh đến dễ dàng.

Từng có viên Huyện lệnh hỏi xem sau này sẽ thăng quan đến cấp nào. Gieo quẻ ngày Ất Mão tháng Tị, được quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá:

Quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá

Quan tinh Ngọ hỏa trì Thế, sau quả nhiên làm quan đến Thiểm sự.

Lại ví dụ: Ngày Ất Hợi tháng Tý, có người Châu trưởng xem tương lai có được thăng chức lên quan phủ không, liền ba quẻ đều gặp Tử Tôn trì Thế, sau quả nhiên bị giáng chức cho về hưu.

Lại có người xem về thi Hội, được tượng quẻ đỗ đạt, lại hỏi xem có được đỗ đầu không. Ta bảo xem thêm một quẻ nữa.

Ngày Giáp Thân tháng Mão, xem được quẻ Tiết biến Kiển:

Quẻ Thủy Trạch Tiết
Quẻ biến Thủy Sơn Kiển

Đoán rằng: Sách xưa cho quẻ Kiển là không cát lợi, ta lại xem trọng Dung thần. Quẻ này hào Thế lâm Tị hỏa, được Nguyệt kiến Mão tương sinh, Nhật thần Thân tương hợp, lại nằm tại Thanh Long, chắc chắn đỗ đầu bảng, nhưng không phải khoa này. Người xem hỏi nguyên nhân, ta đáp: Hào Thế biến thành Quan tinh Thìn thổ, đến năm Thìn mới đỗ đầu.

Người xem nói: "Số của quẻ cũng hợp với ý của tôi, thuở nhỏ tôi gặp điềm báo cũng ứng vào năm Thìn." Người này học xong trở về nhà, đến năm Giáp Thìn, tham gia Điện thí được đỗ đầu bảng. Bởi vậy, chỉ đích xác sự việc mà xem sẽ ứng nghiệm, không nên câu nệ vào phép cổ.

Con Xem Công Danh Cho Cha: Hào Phụ Mẫu Đại Diện Người Sinh Thành

Có một cách xem đặc biệt, khi người đi hỏi không phải hỏi cho chính mình, mà thay lời cha mẹ.

Hào Phụ vượng, được hào Quan động tương sinh, hoặc Nhật Nguyệt làm Quan tinh sinh Phụ Mẫu; hoặc Phụ vượng hóa Quan, hoặc Phụ, Quan động mà hóa cát, đều là tượng thành danh.

Hào Tài khắc Phụ, hoặc Tử động tổn thương Quan, hoặc Phụ, Quan động mà biến hung, hoặc Nhật, Nguyệt khắc Quan, khắc Phụ, hoặc hào Phụ, hào Quan gặp Suy, Mộ, Phá, Tuyệt, đều là tượng nhọc công vô ích.

Ví dụ: Ngày Nhâm Dần tháng Mão, xem cha hao giờ được bổ nhiệm, được quẻ Phong Thủy Hoán biến Quải:

Quẻ Phong Thủy Hoán
Quẻ biến Trạch Thiên Quải

Quẻ nội Phụ Mẫu Dần mộc vượng mà hóa Quan tinh Tý thủy hồi đầu sinh, nên đoán rằng đến năm Dần sẽ được bổ nhiệm. Sau quả nhiên ứng vào năm Dần, được phục hồi phẩm cũ, rồi mất vào năm Mùi. Lúc này ta mới ngộ ra rằng quẻ này hào sơ Phụ Dần mộc, ứng vào năm Dần bổ nhiệm; hào thượng Phụ Mão mộc động mà hóa Mùi Mộ, nên nhập Mộ tại năm Mùi. Lúc xem, hào Mùi gặp Tuần Không, nên là tượng Mộ trống chờ điền thực. Bởi vậy mà người cha qua đời vào năm thực Mộ là năm Mùi. Do Dụng thần trùng lặp, nên gặp Mộ khố để cất trữ.

Lại ví dụ: Ngày Mậu Thân tháng Thìn, xem cho cha đang ở kinh thành chờ bổ nhiệm, được quẻ Quan biến Hoán:

Quẻ Phong Địa Quán
Quẻ biến Phong Thủy Hoán

Hào Mùi thổ Phụ Mẫu trì Thế, được hào Quan Tị hỏa động tương sinh, nên sẽ được điền khuyết. Sau quả nhiên đến tháng Tị được nhiệm chức tạỉ Tứ Xuyên, là do hào Tị hỏa sinh hào Thế.

Lý Ngã Bình bàn rằng: Hỏi về thời gian, địa điểm bổ nhiệm, cần phải chia ra từng quẻ riêng để xem, không thể xem chung trong một quẻ. Nếu như xem gộp, nếu hào Quan nằm ở Thân kim, đoán về thời gian, sẽ là tháng bảy; xem về nơi chốn, sẽ ứng với vùng Sơn Tây, như vậy là tháng bảy thăng chức, sẽ được thuyên chuyển đến phía tây ư? Rõ ràng là phép xem xưa có sai lầm. Có người dựa vào tám cung nam Ly bắc Khảm; có người dựa vào hai mươi tám tinh tú để phân định; có người lại dùng Lộc để xác định; lại có người cho rằng, quẻ Du hồn chủ về nhận chức nơi xa, quẻ Quy hồn chủ về nhận chức ở gần. Sách "Dịch mạo" căn cứ vào ngũ hành, lục thần nhập cung làm kinh, dùng các sao làm vĩ để xác định. Thuyết này chỉ nói được, chứ không áp dụng được.

Ngũ hành bát quái, cùng hai mươi tám tinh tú, còn ít nhiều hữu lý. Nếu dùng lục thần kiêm tinh sát, là nói bừa. Giả sử ngày Đinh xem được quẻ Lôi Phong Hằng, Quan tinh Dậu kim trì Thế, sẽ nắm được binh quyền; lục thần được Đằng Xà, Xà chủ về chức quan chuyên chạy việc bên ngoài. Đinh gặp Dậu là Văn Xương, Văn Xương chỉ về Hàn Lâm. Nếu theo phép đó mà suy đoán, lấy Quan Dậu làm kinh, Đằng Xà, Văn Xương làm vĩ, chẳng phải là nắm binh quyền tại viện Hàn Lâm, bị sai phái mà chạy việc trong trường văn chương ư?


Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tăng San Bốc Dịch