Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tăng San Bốc Dịch

Bài tổng quan

Hôn Nhân: Hào Tài, Hào Quan Và Những Dấu Hiệu Hợp Tan

Bói Dịch - Tăng San Bốc Dịch19/09/202618 phút đọc4 lượt đọc
Hôn Nhân: Hào Tài, Hào Quan Và Những Dấu Hiệu Hợp Tan

Một người vợ hỏi về cuộc hôn nhân đang rạn nứt, quẻ hiện hào Ứng gặp Sửu tương hợp — Dã Hạc lão nhân đọc ra ngay: chồng cô đang có nhân tình. Ông đoán thẳng: hôn nhân này chẳng phải duyên phận, vợ chồng ắt phải chia lìa. Quả nhiên năm sau người vợ bị chồng bỏ. Trường hợp khác: một người cưới vợ của kẻ khác, bị chồng cũ về thưa kiện, quẻ hiện Lục hợp biến Lục xung — cả hai không chỉ chia lìa, mà còn bị phạt trượng vì tội gian dâm. Tăng San Bốc Dịch dựng nguyên một chương dài để đọc hôn nhân qua hào Tài, hào Quan, hào Ứng, từ lúc dạm hỏi cho đến khi đã nên vợ nên chồng. Điều gì khiến cùng một chữ duyên, có cuộc hôn nhân bền lâu, có cuộc lại kết thúc nơi công đường?


Nguyên Tắc Gốc: Hào Tài, Hào Quan Và Hào Ứng Trong Việc Xem Hôn Nhân

Giác Tử bàn rằng: Nhà trai xem về người nữ, thì bất kể là cha mẹ, hay người thân, bạn bè xem hộ, đều lấy hào Tài làm Dụng thần. Nhà gái xem về người nam, đều lấy hào Quan làm Dụng thần. Nếu như Quan được sinh phò, hào Tài vượng tướng, thì hôn sự sẽ thành. Nay thấy các sách thời xưa đều cho rằng, hào Tài vượng sẽ thương khắc cha mẹ, thực Không hiểu Tài vượng là tốt hay không vượng mới tốt.

Có người lại hỏi: Trong "Hoàng kim sách" có viết rằng: "Cha mẹ chồng bất hòa, vì hào Thê động"; sách "Hải để nhãn" lại viết: "Hào Tài động, song thân mất"; sách "Dịch mạo" cũng có câu: "Thê Tài động, cha mẹ đôi đường"; tức đều cho rằng hào Thê Tài động sẽ tổn thương đến cha mẹ, chứ không nói Tài vượng sẽ ra sao.

Ta cho rằng: Tài động sẽ tổn thương đến Phụ Mẫu, Tài vượng lẽ nào lại không tổn thương? Ví dụ mùa xuân xem quẻ, mà hào Tài thuộc mộc, thì cho rằng người nữ mệnh vượng, nên có thể lấy làm vợ. Nhưng hào Phụ Mẫu đương nhiên thuộc thổ, khi đó hào Tài đắc lệnh đương quyền chắc chắn sẽ thương khắc hào Phụ Mẫu hưu tù, chứ đâu phải chỉ động mới khắc. Nói như thế là không hiểu được rằng, người xưa nói động, mà không nói vượng, là sợ người đời sau bài bác, nên tránh không nói vượng, mà bất đắc dĩ phải nói là động, nhưng không ngờ lại bị nhìn ra.

Có người lại hỏi: "Nếu nói như ông, thì lấy gì làm tiêu chuẩn?" Ta đáp: "Nên chia ra để xem. Quẻ đầu tiên xem cô dâu hoặc chú rể, nếu được Tài hoặc Quan vượng tướng là quẻ tốt. Sau đó xem tiếp xem có khắc cha mẹ không."

"Hoàng kim sách" chuyên dùng hào Ứng để xem về vợ. Sách "Dịch mạo" cũng cho rằng hào Ứng chỉ vợ, nếu vượng tướng, tức người nữ hiền lương, phúc hậu. Lại coi hào Ứng chỉ cha mẹ người nữ; nếu hào Ứng vượng tướng, tức gia đình người nữ giàu sang; nếu hưu tù, tức gia đình người nữ bần hàn. Nếu căn cứ theo đó, thì những phụ nữ hiền lương phúc hậu đều xuất thân từ gia đình phú quý hay sao? Những lý luận sai lầm như thế, không hiểu sao hàng trăm hàng nghìn năm nay vẫn không có ai phát hiện ra.

Nam bốc nữ nhân, Tài yếu vượng; nữ chiêm nam phối, Quỷ nghi hưng.

Trai xem lấy vợ Tài nên vượng; nữ bói chọn chồng Quỷ cần hưng.

Người bên nhà trai xem thay về người nữ, cần lấy hào Tài làm Dụng thần, dùng hào Ứng chỉ gia cảnh nhà gái. Hào Tài nên vượng tướng, hoặc động mà hóa cát. Hào Ứng không nên Không, Phá, hoặc khắc hào Thế.

Người bên nhà gái xem thay về người nam, chuyên dùng hào Quan làm Dụng thần, dùng Ứng chỉ gia thế nhà trai. Hào Quan nên vượng tướng, hoặc động mà hóa cát; hào Ứng không nên Không, Phá, Mộ, Tuyệt, hoặc khắc hào Thế.

Người nam tự xem về vợ, cũng dùng hào Tài làm Dụng thần, lấy hào Ứng chỉ người nữ. Hai hào Tài và Ứng nên sinh Thế, hợp Thế hoặc trì Thế, kỵ gặp Không, Phá, Mộ, Tuyệt. Nếu Tài vượng sinh Thế mà Ứng lâm Không, Phá, cũng nên lấy làm vợ. Nếu hào Ứng sinh Thế, mà hào Tài Phá, Tuyệt thì không nên lấy.

Dã Hạc bàn rằng: Nếu hào Tài, hào Ứng cùng sinh hợp Thế lại càng tốt. Đại để hào Tài là trọng yếu, hào Ứng chỉ là bổ trợ mà thôi. "Hoàng kim sách" viết rằng: "Ứng là người vợ trăm năm", tức coi trọng Ứng mà không coi trọng Tài, như vậy là sai lầm.

Ví dụ: Ngày Kỷ Mùi tháng Mùi năm Tý, xem hôn nhân, được Minh Di biến Phong:

Quẻ Địa Hỏa Minh Di
Quẻ biến Lôi Hỏa Phong

Hào Thế lâm Quan Quỷ, bị Nhật xung Nguyệt phá, may nhờ động hóa Tài hồi đầu sinh, nên trước mắt tuy phá, nên rồi cũng sẽ có lúc không bị phá. Sang năm sau là năm Sửu, sẽ gặp lương duyên. Quả nhiên đến tháng tư năm Sửu gặp duyên lành, ứng vào năm Sửu, vì là năm thực Phá của hào Thế. Đây chẳng phải là hào Tài sinh Thế, hào Ứng khắc Thế hay sao.

Ví dụ: Ngày Quý Dậu tháng Tý, tự xem về hôn nhân, được quẻ Hằng biến Đỉnh:

Quẻ Lôi Phong Hằng
Quẻ biến Hỏa Phong Đỉnh

Đoán rằng: Quan tinh Dậu kim trì Thế, được hào Tài Tuất thổ động mà tương sinh, lại được Thế Ứng tương sinh, Tuất thổ tuy gặp Tuần Không, nhưng động nên không bị Không, đến hôm sau (ngày Tuất) xuất Không, cầu hôn ắt thành.

Quả nhiên đến giờ Tị hôm sau hôn sự được chấp thuận, vợ chồng chung sống đến bạc đầu, con đàn cháu đống.

Ví dụ: Ngày Bính Ngọ tháng Dần, người nhà gái xem thay về hôn nhân, được quẻ Lâm biến Ký Tế:

Quẻ Địa Trạch Lâm
Quẻ biến Thủy Hỏa Ký Tế

Giác Tử bàn rằng: Nhà gái xem về con rể, lấy hào Quan làm Dụng thần, lấy hào Ứng chỉ nhà trai, đó là phép xem trong sách xưa, là cứng nhắc không thông biến. Khi đoán quẻ, cần phải hết sức linh hoạt, vì không phải mọi quẻ đều hiển hiện dễ thấy. Như quẻ này, nhà gái xem về con rể, được Quan Mão mộc vượng trì Thế, nên hôn sự sẽ thành. Nhưng hào Ứng bị khắc, lại có nghĩa nhà trai không ưng thuận. Như vậy cần phải quyết đoán ra sao? Nên biết rằng hào Tài là quan trọng, còn hào Thế, hào Ứng chỉ là thứ yếu, tuy là nhà gái xem người nam, thì hào Tài cũng không nên bị thất hãm. Quẻ này có liên quan đến cả người nam và người nữ. Hào Tài động gặp hồi đầu khắc, lại bị hào động Sửu thổ khắc, nên không thể sinh được Quan tinh Mão mộc, nên nam nữ không thể tương hợp tương sinh, hôn sự tuy thành, nhưng về sau sẽ có biến. Sau quả nhiên sính lễ đã định, chưa kịp thành hôn thì đến tháng tư, bị giặc cướp bắt đi. Ứng với tháng Tị, vì là tháng Hợi thủy gặp Nguyệt phá.

Tân bình thích: Đây là chỗ người mới học rất dễ đoán sai. Xem hôn nhân rất cần Dụng thần vượng tướng, không nên Không Phá, cũng không nên Nguyên thần bị hào động khắc thương. Quẻ này Quan Quỷ mặc dù trì Thế, được Nguyệt tỉ phù, nhưng không nên Không Vong, Nguyên thần lại bị hào biến khắc thương, gian hào phát động khắc Nguyên thần, trì Thế là được, Không Vong là mất, chính là tượng được nhưng lại mất. Gian hào động, tất ở giữa có người phá hoại, hoặc có biến cố. Nhà gái xem, phải lấy Tử Tôn là con nhà gái, Tử Tôn Tuyệt ở Nguyệt kiến Quan Quỷ, Nhật khắc, lại nhập Mộ ở gian hào Huynh Đệ, là tượng con nhà gái tất bị người trung gian cướp đi, Quan Quỷ là giặc cướp, Huynh Đệ là cái kiếp tài, tháng Tị chính là tháng Tử Tôn bị khắc, cho nên mới có phát sinh chuyện này. Không thể lấy Tài là con của nhà gái.

Ví dụ: Ngày Mậu Thìn tháng Tý, nữ đoán hôn nhân con gái, được Tổn biến Lâm.

Quẻ Sơn Trạch Tổn
Quẻ biến Địa Trạch Lâm

Quan Quỷ lưỡng hiện, lấy hào lâm Ứng phát động làm Dụng. Quan Quỷ động mà khắc Thế, nhà gái xin đoán, Thế là nhà gái, con rể đối xử với con gái không tốt, hóa hồi đầu khắc, dương chủ quá khứ, tất chủ đã ly dị. Hào Thế lại là người xin đoán, Tử Tôn phục dưới Thế, Tử Tôn là con gái của người xin đoán, Thế là Mộ khố của Tử Tôn, chính là quản lý con gái rất chặt, hôn nhân là do cưỡng ép. Quả nhiên ứng nghiệm.

Tài trị hưu tù phá tán, chung phi cử án chi duyên. Quan phùng Suy Mộ Tuyệt Không, nan toại tề mi chi nguyện.

Tài gặp hưu tù, phá tán, ắt rằng chẳng phải lương duyên. Quan gặp Suy, Mộ, Tuyệt, Không, khó mong vợ chồng hòa thuận.

Hào Tài và hào Quan không nên gặp Mộ, Tuyệt, Không, Phá, cũng không nên động hóa Phá, hóa Tán, hóa Khắc, hóa Quỷ, vì là mệnh chết yểu, nghèo hèn. Nếu là nhà trai xem về người nữ, hào Tài không nên phạm phải những trường hợp trên; nếu là nhà gái xem về người nam, hào Quan không nên phạm phải những trường hợp trên. Nếu là nam, nữ tự xem, thì hào Thế không nên phạm phải những trường hợp trên. Nếu miễn cưỡng thành hôn, sẽ bất hòa, chia cách.

Thế hào Không Vong, động hóa Thoái, chung tu thất vọng.

Hào Thế lâm Không, động hóa Thoái thần, chỉ là thất vọng.

Khi Nào Hôn Sự Thành, Khi Nào Tan Vỡ Giữa Chừng

Xác định đúng dụng thần rồi, còn phải xoay quanh những dấu hiệu cụ thể báo trước thành hay bại.

Động mà lâm Không, đợi đến ngày, tháng thực Không, hôn sự sẽ thành. Tĩnh mà lâm Không, là điềm hôn nhân không thành. Thế động hóa Tiến, cũng chủ hôn sự thành công; nếu hóa Thoái thần, hôn sự khó nên. Nếu hào Ứng tĩnh mà Không Phá, hoặc hóa Thoái thần, cũng tương tự như vậy.

Tân bình thích: Cần phải xem Thế là lục thân gì, nam đoán hôn nhân, Huynh Đệ trì Thế hóa Tiến thần thì không thành. Nữ đoán hôn nhân, Tử Tôn trì Thế hóa Tiến thần thì không thành.

Ứng hào Tuần Không, Tài hóa Tiến, túc hữu lương duyên.

Hào Ứng lâm Không, Tài hóa Tiến thần, đẹp mối lương duyên.

Hào Ứng lâm Không, chỉ đối phương không thực. Nếu động hóa Thoái thần, tức đối phương có ý thoái thác. Nếu được hào Tài động hóa Tiến thần sinh Thế, tuy gặp thoái thác, nhưng sau hôn sự vẫn thành. Nếu Thế Ứng động mà gặp Phá, sẽ ứng vào lúc thực Phá.

Tân bình thích: Đã hủy hôn, nếu Dụng thần động mà hóa Tiến thì không thành, nếu hóa thoái thì trái lại có thể thành. Vợ chồng cãi nhau ở riêng hoặc ly dị muốn tái kết hôn, thì cũng là như vậy. Hóa Tiến khó quay lại, hóa Thoái vẫn có thể gương vỡ lại lành.

Thế Ứng giai Không đa phí lực, Phản ngâm đa biến sự nan thành.

Thế Ứng đều Không thường phí sức, Phản ngâm đa biến việc khó thành.

Nếu hào Thế, hào Ứng đều lâm Không, thì sự việc khó được thành tựu. Nếu gặp quẻ Phản ngâm, hôn sự cũng tráo trở khó thành.

Dã Hạc bàn rằng: Nếu gặp Không mà vượng, Tài Quỷ lại tương sinh, tuy trước bị từ chối, nhưng về sau hôn sự vẫn thành.

Ví dụ: Ngày Mậu Tý tháng Tị, xem hôn sự có được ưng thuận không, được quẻ Hằng biến Tấn:

Quẻ Lôi Phong Hằng
Quẻ biến Hỏa Địa Tấn

Đoán rằng: Quẻ nội Phản ngâm, nên hôn sự tráo trở, đa biến, lúc ưng thuận lúc lại thoái thác. Người xem bèn nói: "Đúng là như vậy! Không biết sau này ra sao?" Ta đáp rằng: "Hào Ứng lâm Tài, động mà sinh Thế, đến tháng tám tháng chín, hôn sự sẽ thành."

Quả nhiên tháng Dậu thì thành, ứng với tháng Dậu, vì là tháng trực của hào Thế, lại xung mất Mão mộc.

Nam chiêm hề, Huynh động quái trung phi phối ngẫu;

Người nam xem, Huynh động trong quẻ, không phải đôi lứa.

Hào Huynh trì Thế, hoặc hào Huynh phát động, sẽ thương khắc, ngăn trở Thê Tài, nên hôn nhân khó thành. Nếu hôn sự đã thành mà gặp quẻ này, ắt khó tránh hình thương.

Giác Tử bàn rằng: Theo chiêm nghiệm của ta, nếu hào Huynh trì Thế, hào Tài hợp Thế thì hôn sự sẽ thành. Nếu hào Huynh trì Thế, hóa thành hào Tài, cũng thành.

Nữ bốc hề, Quan hào trì Thế thị lương duyên.

Người nữ xem, được Quan trì Thế là mối duyên lành.

Bên nữ xem về người nam, kỵ gặp Tử Tôn trì Thế, Tử Tôn phát động, vì Tử Tôn là thần khắc phu, nên chủ về hôn sự không thành; nếu đã thành hôn, chủ về sát phu, tái giá. Nếu được Quan tinh vượng tướng trì Thế, hợp Thế, sinh Thế, không những hôn sự thành, mà còn là điềm vợ chồng hòa hợp. Nếu Quan tinh hiện nhiều trong quẻ, cũng chủ về tái giá.

Tân bình thích: Quan Quỷ hiện nhiều đôi khi cũng chủ có ngoại tình. Tử Tôn trì Thế bị hào lâm Nhật Nguyệt Quan Quỷ xung phá, cũng chủ thành, là tượng bị đàn ông phá trinh.

Tài Quan Thế Ứng xung hình, phu thê phản mục.

Tài, Quan, Thế, Ứng hình xung, phu thê trở mặt.

Ví dụ: Ngày Ất Hợi tháng Tị, xem vợ chồng hiện đang bất hòa, về sau có hòa thuận không, được quẻ Nhu biến Đại Quá:

Quẻ Thủy Thiên Nhu
Quẻ biến Trạch Phong Đại Quá

Đoán rằng: Vợ xem về chồng, kỵ gặp Tử Tôn trì Thế, vì là tượng khắc chồng. May được Quan Quỷ Dần mộc và Thê Tài Tý thủy tương sinh, không thể tổn thương, nên thành bất hòa. Nay xem thêm hào Ứng chỉ chồng, Ứng gặp Sửu là tương hợp, chủ về chồng có nhân tình. Thủy, mộc tương sinh, nên hai người tình ý rất sâu nặng.

Người xem bèn nói: "Đúng là như vậy! Sau này sẽ ra sao?" Ta đáp: "Vợ chồng chị vốn chẳng phải nhân duyên, tuy không tử biệt, nhưng phải sinh ly."

Quả nhiên đến tháng Dần năm sau, người này bị chồng bỏ, đến tháng Mùi thì chồng lấy người đàn bà nọ. Ứng với tháng Dần vì Quan lâm Dần xung Thế; lại ứng với tháng Mùi, vì Mùi thổ xung khai hào sơ Sửu thổ, nên Tý thủy tương sinh cho Dần mộc.

Tân bình thích: Quan Quỷ là chồng, Quan Quỷ hợp Nhật, Nhật là Tài tinh, chính là thông tin chồng có ngoại tình, Ứng là người khác, Ứng ở trên Tài tinh là một người nữ khác, động mà sinh Quan Quỷ, cũng là có người nữ yêu thích chồng cô ta. Tháng Dần bị chồng bỏ, là bởi vì Tử Tôn động mà gặp Không, tháng Dần xung thực Tử Tôn, Quan Quỷ bị khắc. Tháng 6 là Mùi, Ứng ở trên Tài Tý động mà hóa hợp, tháng này xung khai, Tý thủy có thể sinh Quan, người nữ khác của được chồng của cô ta.

Lục Hợp, Lục Xung Và Những Cuộc Hôn Nhân Kết Thúc Nơi Công Đường

Một tầng dấu hiệu khác nằm ở cách quẻ xung hợp, đôi khi còn quyết định cả việc thành hôn có hợp pháp hay không.

Vượng tướng hào phùng Lục hợp, bỉ thử đồng tâm.

Hào vượng gặp quẻ Lục hợp, vợ chồng đồng lòng.

Nếu xem về hôn nhân nên gặp được quẻ Lục hợp, nếu lại được Tài Quan vượng tướng lại càng tốt. Nam kỵ gặp Tài hào bị Phá, nhập Mộ; nữ kỵ gặp hào Quan bị khắc, gặp Tuyệt. Gặp quẻ Lục xung biến Lục hợp cũng tốt, vì nếu xem về cầu hôn, chủ trước không thuận, sau được thành; nếu xem về đã thành hôn, chủ về vợ chồng trước bất hòa sau hòa thuận.

Nhưng kỵ gặp quẻ Lục xung, nếu không có Tài Quan vượng tướng, thì hôn sự không thành, nếu miễn cưỡng thành hôn, thì không tử biệt cũng sinh ly. Nếu gặp quẻ Lục hợp biến Lục xung, chủ về trước ưng thuận sau đổi ý; nếu đã thành hôn, về sau cũng phải phân ly.

Ví dụ: Ngày Canh Thân tháng Tuất, do cưới vợ của người khác, bị người chồng quay về thưa kiện, xem liệu có phải chia lìa không, được quẻ Khốn biến Đoài:

Quẻ Trạch Thủy Khốn
Quẻ biến Đoài Vi Trạch

Đoán rằng: Hào Tài trì Thế, chủ về nhân duyên tốt đẹp. Nhưng mộc gặp tháng tám nên hưu tù vô khí, bị Nhật thần xung tán, lại thêm gặp quẻ Lục hợp biến Lục xung, không những phải chia lìa, mà còn đề phòng bị phạt tội.

Người xem hỏi rằng: Tôi bị kiện tội gian dâm, không biết sẽ ra sao? Ta đáp: Hào Thế, hào biến và Nhật thần tạo thành Tam hình, nên ông và người đàn bà kia đều khó tránh bị phạt trượng.

Sau quả nhiên bị khép tội gian dâm vợ người, nam nữ đều bị phạt trượng, xử cho ly dị.

Cổ dụng Hàm, Lâm, Tiết, Thái; kỵ phùng Khuê, Cách, Giải, Ly.

Xưa thích Hàm, Lâm, Tiết, Thái; kỵ gặp Khuê, Cách, Giải, Ly.

Giác Tử nói rằng: Sách "Dịch mạo” có câu: Quẻ được Hàm, Lâm, Tiết, Thái, mà không gặp hợp biến xung, tuy Tài Quan suy hãm, hoặc theo Quỷ nhập Mộ, hoặc giúp Quỷ thương thân, đều không hung. Còn gặp quẻ Khuê, Cách, Giải, Ly đều là điềm hung, dẫu Dụng thần trọn vẹn mà sinh hợp cũng không tốt. Tức ý nói Dụng thần không thắng được quẻ, điều này cần phải chiêm nghiệm lại. Ví dụ: Ngày Đinh Mão tháng Tị, xem khi nào kết hôn, được quẻ Thái:

Quẻ Địa Thiên Thái

Ta thấy quẻ này Tử Tôn trì Thế, hào Tài Hợi thủy gặp Nguyệt phá, Tuần Không, hào Tài Tý thủy bị hào Thế tương khắc, bị Nhật thần tương hình, nếu theo phép xem xưa cho rằng gặp quẻ Thái là tốt, nhưng ta đâu dám đem chuyện chung thân đại sự của người ta ra thử nghiệm, nên bảo người này xem lại, được quẻ Khôn:

Quẻ Khôn Vi Địa

Hào Thế hưu tù, lại gặp Nhật phá, hào Tài Hợi thủy gặp Nguyệt phá, lại là quẻ Lục xung, nên là điềm đại hung. Cho nên suy ra rằng quẻ trước tuy là quẻ Thái nhưng không phải là tốt, nên đoán quẻ vẫn phải nhìn vào Tài, Quan, Thế, Ứng, thế nhưng điều này vẫn không phải đúng trong mọi trường hợp. Nếu có điều ngờ vực, không nên rập khuôn theo phép cũ, mà nên xem lại để quyết đoán. Nếu quẻ sau tốt thì đoán là tốt, quẻ sau hung thì đoán là hung. Thần không lừa người, hiện ở cả hai quẻ, sẽ không sai lầm.

Tài Hóa Tài, Quỷ Hóa Quỷ Và Những Điềm Báo Duyên Phận Nhiều Lần

Còn một nhóm dấu hiệu đặc biệt nữa: khi nào một người phải qua nhiều lần đò.

Tài hóa Tài, vị tất hôn nhân lưỡng độ; Quỷ hóa Quỷ, nan viết tương thủ bách niên.

Tài hóa Tài, chưa hẳn kết hôn hai bận; Quỷ hóa Quỷ, khó mà chung sống trăm năm.

"Hoàng kim sách" có viết: "Hào Tài hiện nhiều, đám cưới hai lần". Ta thử nghiệm nhiều lần, thấy rằng nhà trai xem về người nữ, nếu trong quẻ có nhiều hào Tài lại vượng tướng, sinh hợp hào Thế, là chủ vợ hiền, thiếp đẹp. Nếu Tài hóa Tài, sẽ chủ về lấy vợ hai lần, hoặc chủ về có tỳ thiếp theo cùng, hoặc chủ về nhiều thê thiếp, hoặc cũng chủ về nhiều của hồi môn. Chỉ kỵ gặp hào Huynh động, hoặc Nhật Nguyệt xung khắc hào Tài, thì khó tránh khỏi kết hôn nhiều lần.

Nếu là nhà gái xem về người nam, gặp phải Tài hóa Tài, hoặc có nhiều hào Tài sinh Thế, chủ về ngựa xe đầy cửa, sính lễ ngàn vàng. Nhưng kỵ gặp Quỷ động hóa Quỷ, chủ về chết chồng; hoặc có nhiều hào Quỷ khắc Thế, không phải là tranh giành cưới gả, cũng là tráo trở, tai họa. Nếu người nam xem mà gặp phải tình trạng này, cũng chủ về đa biến. Nếu khắc Thế, thì nên dừng lại. Nếu là hào Thế hóa Quỷ, lại càng nên thôi.

Huynh lâm Huyền Vũ phòng kiếp phiến; Quỷ lâm Bạch Hổ ngộ hung tang.

Huynh gặp Huyền Vũ phòng cướp gạt; Quỷ lâm Bạch Hổ chịu hung tang.

Hào Huynh động gặp Huyền Vũ, đề phòng người trong cuộc gian trá, lừa đảo. Cho dù có Thế, Ứng tương sinh, Tài, Quan không bị tổn hại, cũng phải phí tổn nhiều. Quỷ động lâm Bạch Hổ, dù chưa cưới hay mới cưới, đều gặp tang ma.

Ứng Tài Thế Quỷ, phu xướng phụ tùy; Ứng Quỷ Thế Tài, phu quyền thê đoạt.

Ứng ở Tài, Thế ở Quỷ, chồng nói vợ nghe; Ứng ở Quỷ, Thế ở Tài, vợ cướp quyền chồng.

Hào Thế gặp Quỷ, hào Ứng tại Tài, là âm dương đắc vị, chủ về vợ chồng hòa hợp. Hào Ứng gặp Quỷ, hào Thế gặp Tài, chủ về vợ đoạt quyền chồng, nhưng nếu ở rể thì lại là tốt.


Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tăng San Bốc Dịch