Bài tổng quan
Phương hướng kết hôn: mỗi người một trục, tìm theo ngày tháng sinh
Trong một trăm người được thống kê, chín mươi bốn người kết hôn đúng phương hướng; sáu người sai thì bốn người đã mất, hai người ly hôn. Một vị chuyên gia giữa hội thảo quốc tế nghe nói mình sai hướng liền thú nhận cả nhà ba ngày cãi nhau hai lần. Phương hướng ấy đếm ra sao, chỉ từ một ngày sinh...
Gia đình là tế bào của xã hội. Chuyện nam nữ phối hợp không chỉ là điều kiện để dựng nên một mái nhà mà còn là cội nguồn để xã hội dựa vào đó tồn tại và phát triển. Nhưng ngoài tuổi, ngoài ngũ hành, ngoài tám chữ, người ta còn tìm ra một điều rất ít ai nghĩ đến: mỗi người mang theo một trục phương hướng riêng cho chuyện kết hôn.
Có trời đất rồi mới có vợ chồng: hôn nhân trong Chu dịch
Trong lời tự quái của Chu dịch có đoạn:
Có trời đất rồi sau mới có vạn vật, có vạn vật rồi sau mới có nam nữ, có nam nữ rồi sau mới có vợ chồng, có vợ chồng rồi sau mới có cha con, có cha con rồi sau mới có vua tôi, có vua tôi rồi sau mới có thiên hạ, có thiên hạ rồi sau mới có lễ nghĩa.
Con người là cái quý nhất trong thế gian, là chủ thể của xã hội, mà con người lại là sản vật của sự phối hợp nam nữ. Vì vậy hôn nhân là việc lớn không chỉ của cá nhân mà còn của xã hội. Xử lý tốt thì có lợi cho cá nhân, gia đình, xã hội và việc dạy dỗ con cái; ngược lại thì gia đình và cá nhân mang lấy rủi ro, bất hạnh, nhất là nỗi thương tổn tâm linh của con trẻ, không gì bù đắp nổi, đồng thời gây thêm bao phiền phức cho xã hội. Cho nên hôn nhân cũng là một đề tài lớn của xã hội học.
Chu dịch cho thấy tổ tiên từ rất sớm đã coi trọng hôn nhân. Nhiều quẻ bàn về chuyện này. Nam nữ phối hợp đúng cách thì trưởng nam phối trưởng nữ, trung nam phối trung nữ, thiếu nam phối thiếu nữ; hai khí cảm ứng phải tương đương mới tốt, tức là cuộc hôn nhân mỹ mãn phải là hai khí âm dương cùng kết hợp mới đến được bách niên giai lão. Quẻ Hàm chính là cặp nam nữ chính phối. Ở quẻ Cấu có lời "chớ dùng lấy người con gái ấy", và quẻ Tiểu súc có lời "vợ chồng trợn mắt nhìn nhau", vì ở đó người nam già phối với người nữ trưởng, vừa không chính phối vừa hai khí âm dương khắc nhau, nên sinh ra cảnh vợ chồng trở mặt.
Đó là nói theo sự tương hợp của hai khí âm dương. Hôn nhân còn là chuyện phức tạp, có cả yếu tố tâm lý và xã hội. Nói đơn giản theo Chu dịch thì có thể xét sinh khắc của vận năm, xét thuộc tướng, xét tổ hợp Tứ trụ. Nhưng qua nghiên cứu, người luận số còn nhận thấy trong kết hôn có vấn đề phương hướng: mỗi người nam hay nữ đều có một phương hướng cố định. Nếu phương hướng kết hôn của hai bên thống nhất với nhau thì đó là một trong những nguyên nhân quan trọng để chung sống đến đầu bạc răng long. Nếu phương hướng không đúng thì trước hết là khi nói chuyện yêu đương đã khó chấp nhận nhau, sau nữa nếu có kết hôn cũng không có lợi: nhẹ thì bất hòa, nặng thì không ly hôn cũng thiệt hại khôn lường, rất khó lâu dài.
Mỗi người một trục phương hướng kết hôn
Hai người cùng yêu nhau nhưng ở hai trục khác nhau thì như hai dòng sông chảy về hai biển.
Năm 1984, người luận số làm một thống kê trên một trăm người: chín mươi bốn người có phương kết hôn đúng, sáu người không đúng. Trong sáu người phối hôn sai phương hướng, bốn người đã mất, hai người ly hôn.
Tháng 12 năm 1987, trong một cuộc hội thảo học thuật quốc tế về Chu dịch, tám chuyên gia nhờ làm thử nghiệm ngay tại chỗ về việc đoán phương kết hôn. Bảy người có phương hướng đúng, chỉ một người sai. Vị chuyên gia sai hỏi bằng cách nào mà khẳng định phương hướng của mình sai, hay là đoán sai. Người luận số đáp: nếu hai vợ chồng ngài rất hòa thuận thì tôi đoán sai, còn ngược lại là tôi đoán đúng. Ông nói ngay: đúng, từ khi kết hôn đến nay chúng tôi luôn bất hòa, gần như ba ngày thì có hai lần cãi nhau; phương pháp này đáng được nghiên cứu, mở rộng.
Cách tính trục phương hướng kết hôn
Lấy nguyên quán của mình làm tâm; người kia cũng lấy nguyên quán của họ làm tâm. Rồi căn cứ ngày và tháng sinh theo âm lịch, theo hình bát quái, lấy tháng sinh làm ngày mồng một và đếm thuận cho đến ngày sinh. Dừng ở chi mão thì phương kết hôn nằm trên trục đông – tây; dừng ở chi thân thì nằm trên trục đông bắc – tây nam, và cứ thế. Khi tìm đối tượng yêu thì tìm người theo trục ấy; sai hướng thì không nên tìm hiểu, nếu có tìm hiểu cũng không có kết quả tốt.
Ví dụ thứ nhất: người sinh ngày 23 tháng 11 năm 1936 kết hôn theo phương nào. Tháng 11 là tháng tí, ở phương bắc; từ tí đếm là ngày 1, sửu ngày 2, dần ngày 3, mão ngày 4, cứ thế đến ngày 23 là tuất. Tuất thuộc phương tây bắc, đối lại là đông nam. Vậy phương kết hôn của người ấy nằm trên trục tây bắc – đông nam.
Ví dụ thứ hai: người sinh ngày 6 tháng 6 năm 1920. Tháng 6 là tháng mùi, ở phương tây nam; bắt đầu từ mùi là ngày mồng một, thân ngày 2, dậu ngày 3, tuất ngày 4, hợi ngày 5, tí ngày 6. Tí thuộc phương bắc, đối lại là nam. Vậy người ấy kết hôn theo hướng bắc – nam.
Mỗi tháng ứng với một chi: tháng một là dần, tháng hai là mão, tháng ba là thìn, tháng tư là tị, tháng năm là ngọ, tháng sáu là mùi, tháng bảy là thân, tháng tám là dậu, tháng chín là tuất, tháng mười là hợi, tháng mười một là tí, tháng chạp là sửu.
Mười hai chi nằm ở đâu và rơi vào trục nào
| Chi | Quẻ trên hình Bát quái | Phương | Trục kết hôn |
|---|---|---|---|
| Tí | Khảm | Bắc | Bắc – nam |
| Sửu, Dần | Cấn | Đông bắc | Đông bắc – tây nam |
| Mão | Chấn | Đông | Đông – tây |
| Thìn, Tị | Tốn | Đông nam | Tây bắc – đông nam |
| Ngọ | Ly | Nam | Bắc – nam |
| Mùi, Thân | Khôn | Tây nam | Đông bắc – tây nam |
| Dậu | Đoài | Tây | Đông – tây |
| Tuất, Hợi | Càn | Tây bắc | Tây bắc – đông nam |
Bát quái và bàn tay: tìm phương vị không cần bản đồ
Hình bát quái cho thấy các chi nằm ở đâu: Ly ở phương nam, ứng với ngọ; Khôn ở tây nam, ứng với mùi và thân; Đoài ở phương tây, ứng với dậu; Càn ở tây bắc, ứng với tuất và hợi; Khảm ở phương bắc, ứng với tí; Cấn ở đông bắc, ứng với sửu và dần; Chấn ở phương đông, ứng với mão; Tốn ở đông nam, ứng với thìn và tị. Nếu không có hình Bát quái, có thể dựa vào bàn tay để tính: các chi được đặt lên các đốt ngón tay theo đúng vị trí ấy, ngọ ở đầu ngón giữa chỉ phương nam, tí ở gốc ngón áp út chỉ phương bắc, mão ở sườn ngón trỏ chỉ phương đông, dậu ở sườn ngón út chỉ phương tây.
Về chuyện hôn nhân có tính phương hướng và cách đoán nó, người luận số đã tra cứu rất nhiều sách liên quan đến Bát quái và Mệnh học nhưng chưa thấy sách nào bàn tới. Phương pháp này do nghiên cứu thực tế mà tìm ra, và đã giúp nhiều thanh niên cũng như những gia đình khó khăn xây dựng được gia đình hạnh phúc, phần nhiều còn sinh được con tốt. Chỉ cần biết giờ sinh chuẩn là đoán được.
Còn một vấn đề đang nghiên cứu: trên trục ấy thì hướng nào, tức về phía nào, chưa khẳng định được; và cự ly chỗ ở xa bao nhiêu cũng chưa giải quyết được. Hai điều này còn chờ thực tiễn trả lời. Bàn về tình yêu thì tuy phương hướng đúng nhưng chưa phải chỉ cần thế là đủ, còn nhiều yếu tố khác; song nếu kết hôn thì nên đúng phương hướng. Bảng tra dưới đây đã chỉ ra con đường ngắn, hiệu quả cho nhiều nam nữ thanh niên và giúp các gia đình tránh được những phiền phức về sau.
Bốn bảng tra: ngày và tháng sinh âm lịch theo từng trục
Chỉ cần ngày và tháng sinh âm lịch là đủ để đặt mình vào đúng một trong bốn trục.
Cách dùng bảng rất đơn giản. Lấy tháng sinh âm lịch của mình, dò trong bốn bảng xem ngày sinh nằm ở hàng tháng ấy của bảng nào; bảng nào chứa ngày sinh thì đó là trục kết hôn. Thử lại với hai người trong ví dụ trên: người sinh ngày 23 tháng 11 thấy số 23 nằm ở hàng tháng 11 của bảng tây bắc – đông nam; người sinh ngày 6 tháng 6 thấy số 6 nằm ở hàng tháng 6 của bảng bắc – nam. Kết quả khớp đúng với cách đếm bằng tay. Hai người muốn đi đến hôn nhân thì nên cùng trục: một người ở trục này mà người kia ở trục khác thì ngay từ lúc yêu đã khó hòa hợp.
Trục đông bắc – tây nam
| Tháng | Ngày |
|---|---|
| 1 | 1, 6, 7, 12, 13, 18, 19, 24, 25, 30 |
| 2 | 5, 6, 11, 12, 17, 18, 23, 24, 29, 30 |
| 3 | 4, 5, 10, 11, 16, 17, 22, 23, 28, 29 |
| 4 | 3, 4, 9, 10, 15, 16, 21, 22, 27, 28 |
| 5 | 2, 3, 8, 9, 14, 15, 20, 21, 26, 27 |
| 6 | 1, 2, 7, 8, 13, 14, 19, 20, 25, 26 |
| 7 | 1, 6, 7, 12, 13, 18, 19, 24, 25, 30 |
| 8 | 5, 6, 11, 12, 17, 18, 23, 24, 29, 30 |
| 9 | 4, 5, 10, 11, 16, 17, 22, 23, 28, 29 |
| 10 | 3, 4, 9, 10, 15, 16, 21, 22, 27, 28 |
| 11 | 2, 3, 8, 9, 14, 15, 20, 21, 26, 27 |
| 12 | 1, 2, 7, 8, 13, 14, 19, 20, 25, 26 |
Trục đông – tây
| Tháng | Ngày |
|---|---|
| 1 | 2, 8, 14, 20, 26 |
| 2 | 1, 7, 13, 19, 25 |
| 3 | 6, 12, 18, 24, 30 |
| 4 | 5, 11, 17, 23, 29 |
| 5 | 4, 10, 16, 22, 28 |
| 6 | 3, 9, 15, 21, 27 |
| 7 | 2, 8, 14, 20, 26 |
| 8 | 1, 7, 13, 19, 25 |
| 9 | 6, 12, 18, 24, 30 |
| 10 | 5, 11, 17, 23, 29 |
| 11 | 4, 10, 16, 22, 28 |
| 12 | 3, 9, 15, 21, 27 |
Trục bắc – nam
| Tháng | Ngày |
|---|---|
| 1 | 5, 11, 17, 23, 29 |
| 2 | 4, 10, 16, 22, 28 |
| 3 | 3, 9, 15, 21, 27 |
| 4 | 2, 8, 14, 20, 26 |
| 5 | 1, 7, 13, 19, 25 |
| 6 | 6, 12, 18, 24, 30 |
| 7 | 5, 11, 17, 23, 29 |
| 8 | 4, 10, 16, 22, 28 |
| 9 | 3, 9, 15, 21, 27 |
| 10 | 2, 8, 14, 20, 26 |
| 11 | 1, 7, 13, 19, 25 |
| 12 | 6, 12, 18, 24, 30 |
Trục tây bắc – đông nam
| Tháng | Ngày |
|---|---|
| 1 | 3, 4, 9, 10, 15, 16, 21, 22, 27, 28 |
| 2 | 2, 3, 8, 9, 14, 15, 20, 21, 26, 27 |
| 3 | 1, 2, 7, 8, 13, 14, 19, 20, 25, 26 |
| 4 | 1, 6, 7, 12, 13, 18, 19, 24, 25, 30 |
| 5 | 5, 6, 11, 12, 17, 18, 23, 24, 29, 30 |
| 6 | 4, 5, 10, 11, 16, 17, 22, 23, 28, 29 |
| 7 | 3, 4, 9, 10, 15, 16, 21, 22, 27, 28 |
| 8 | 2, 3, 8, 9, 14, 15, 20, 21, 26, 27 |
| 9 | 1, 2, 7, 8, 13, 14, 19, 20, 25, 26 |
| 10 | 1, 6, 7, 12, 13, 18, 19, 24, 25, 30 |
| 11 | 5, 6, 11, 12, 17, 18, 23, 24, 29, 30 |
| 12 | 4, 5, 10, 11, 16, 17, 22, 23, 28, 29 |
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
