Bài tổng quan
Trung chính và thời: tổng hợp toàn bộ Kinh Dịch trong hai chữ
64 quẻ, quẻ nào cũng khuyên một đức riêng, liệt kê ra thì phiền toái vô cùng - nhưng Nguyễn Hiến Lê gom hết lại chỉ trong hai chữ Trung Chính. Rồi ông đặt thêm một câu hỏi khó hơn: vì sao chính mà không hợp thời vẫn xấu, vì sao hào 6 quẻ Càn - đã tới tột đỉnh nguyên hanh lợi trinh - vẫn phải hối hận? Câu trả lời gói trong đúng một chữ...
Mục lục · 1 phần
Tổng hợp lại chỉ có hai chữ: Trung Chính
Trong 64 quẻ, gần như không quẻ nào không khuyên ta một đức này hay đức khác (những quẻ Trung phu, Di, Gia nhân, Tỉ, Tuy, Đại hữu... trong các mục Việc hằng ngày, Việc trị dân đều chứa ít nhiều lời khuyên về đạo làm người cả), liệt kê ra thì cực phiền toái, mà tổng hợp thì rất đơn giản, chỉ gồm trong hai chữ Trung Chính như Trương Kì Quân đã nói:
"Đạo lí trong thiên hạ (theo Dịch) chỉ là khiến cho việc không trung trở về chỗ trung, việc không chính trở về chỗ chính".
Trung chính là quan niệm căn bản của Dịch: muốn đoán tính cách cát hung của một hào, Dịch xét trước hết xem hào đó có chính, trung không, có được ứng viện không và hào ứng viện nó có chính trung hay không.
Chính
Chính không phải chỉ có nghĩa là ngay thẳng, mà còn có nghĩa là hợp chính nghĩa, hợp đạo.
Phần Kinh ít dùng chữ chính mà thường dùng chữ trinh. Trinh là chính và bền, như trong Thoán Từ các quẻ Càn, Khôn, Đại Tráng, Hằng... hoặc trong các hào 1, 3, 5, quẻ Hằng; các hào 2, 3, 4 quẻ Đại Tráng.
Nhưng trong phần Truyện (Thoán Truyện, Tượng Truyện) thường dùng chữ chính để thay chữ trinh. Như Thoán Truyện quẻ Đại Tráng bảo chính đại là tình của trời đất (Chính đại nhi thiên địa chi tình khả kiến dã).
Quẻ Lí khuyên ta ở đời phải giữ tính trong trắng và đường chính (hào 1 và 2).
Quẻ Phục bảo phải trở về đạo (phản phục kì đạo), tức trở về điều thiện (hào 5), nếu không thì sẽ bị tai vạ (hào 6). Như vậy là sửa đổi để trở về đường chính.
Quẻ Vô Vọng có nghĩa là không càn bậy hợp với chính đạo; cứ thấy việc chính đáng thì làm, không tính toán cái lợi trước rồi mới làm (hào 2); và nếu chẳng may có gặp tai nạn thì cứ thản nhiên, rồi tai nạn sẽ qua khỏi (hào 5).
Tôi chỉ dẫn mấy thí dụ trên (còn rất nhiều nữa) để độc giả thấy quan niệm về chính trong Dịch. Có thể coi nó là đạo của người quân tử. Người Trung Hoa có từ ngữ "chính nhân quân tử" là nghĩa vậy.
Trung
Nhưng Dịch cho rằng chính không quí bằng Trung, vì hễ trung thì cũng là chính, mà chính chưa chắc đã là trung (trung là không thiên lệch).
Như hào 2 quẻ Đại Tráng. Nó là hào dương ở vị âm (chẵn: 2) tức bất chính (dương ở vị dương, âm ở vị âm mới là chính); nhưng nó ở giữa nội quái, thế là đắc trung, mà trung thì không bao giờ bất chính, cho nên Hào từ khen là tốt.
Hào 2 quẻ Hằng cũng vậy: cũng là dương ở vị âm, chỉ nhờ đắc trung mà không phải hối hận.
Nên coi thêm hào 2 (dương) quẻ Tốn, và hào 2 (dương) quẻ Vị Tế.
Phan Bội Châu (Chu Dịch I - trang 233) cho rằng người Trung Hoa đặt chữ chính trước chữ trung vì quí trung hơn chính, trung bao gồm được chính, chứ chính không bao gồm được trung.
Theo Phùng Hữu Lan thì Huệ Đống đếm trong Thoán Truyện được 35 quẻ và trong Tượng Truyện được 36 quẻ nói về đức Trung, nghĩa là số quẻ chiếm già nửa Kinh Dịch. Khi thì gọi là trung chính hay chính trung, đại trung, khi thì gọi là trung đạo, trung hành, hành trung, cương trung, nhu trung...
Trung là tư tưởng của Khổng phái, Lão không hề nói tới.
Luận ngữ đầu thiên Nghiêu viết chép:
"(Khi nhường ngôi cho ông Thuấn) vua Nghiêu bảo: 'Hỡi ông Thuấn, mệnh trời tuần hoàn, nay ngôi vua về ông: ông nên thành thực giữ đạo trung' - (doãn chấp kì trung) - 'Nếu dân trong bốn bể khốn cùng thì lộc trời (ban cho ông) sẽ mất hẳn đấy'. Về sau, vua Thuấn lại truyền những lời đó cho ông Vũ".
Không biết đoạn đó có thực là lời của Khổng Tử, và có đúng không. Nếu đúng thì "Trung" là tư tưởng truyền lại từ Nghiêu, Thuấn.
Điều chắc chắn là Khổng Tử rất trọng đức trung.
Thiên Ung dã, bài 27 ông bảo: "Trung dung là đức cực đẹp" (Trung dung chi vi đức, kì chí hĩ hồ!).
Ông chê sự thái quá và sự bất cập, như trong bài 15 thiên Tiên tiến, ông cho Tử Trương là thái quá, Tử Hạ là bất cập, mà thái quá cũng như bất cập (quá do bất cập dã), đều xấu cả.
Trong bài 21 thiên Tử Lộ, ông lại bảo: "không được hạng người trung chính để truyền đạo cho (hoặc để giao thiệp) thì tìm hạng người cuồng phóng hoặc cẩn hậu giữ tiết tháo vậy. Người cuồng phóng có tinh thần tiến thủ, người cẩn hậu giữ tiết tháo thì không chịu làm điều xấu" (Bất đắc trung hành nhi dữ chi, tất dã cuồng quyến hồ! Cuồng giả tiến thủ, quyến giả hữu sở bất vi dã).
Cuồng là hạng thái quá, quyến là hạng bất cập.
Theo Tử Tư, cháu nội ông, thì ông còn nói: "Người quân tử giữ đạo trung dung, kẻ tiểu nhân làm trái đạo trung dung. Cái trung dung của người quân tử là đã có đức của người quân tử mà còn biết tùy thời cho hợp lẽ trung" (Quân tử chi trung dung dã, quân tử nhi thời trung - Trung dung, chương 2).
Tử Tư trong cuốn Trung Dung đem tư tưởng đó của Khổng, diễn rộng cho có tính cách siêu hình, cho trung là cái gốc lớn của thiên hạ, hòa là cái đường đi thông suốt trong thiên hạ, hễ trung hòa rất mực thì trời đất được yên vị, muôn vật được phát triển, sung sướng.
Quan niệm "trung" trong Dịch gần với quan niệm trong Trung dung hơn là với quan niệm trong Luận ngữ. Luận ngữ chỉ dùng về phương diện tu thân, học đạo, về phương diện thị phi mà coi trọng đức trung, cho thái quá và bất cập đều xấu như nhau.
Dịch theo luật âm dương trong thiên nhiên, thấy cái gì thái quá thì gây phản ứng, nên khuyên phải trung, phải quân bình để tránh phản ứng, tránh họa.
Trung tức là có chừng mực.
"Trời đất có chừng mực nên mới thành bốn mùa" (Thoán Truyện quẻ Tiết)
mà vạn vật mới phát triển được. Chừng mực cũng là luật quân bình, nắng không nắng quá, mưa không mưa quá, nắng mưa, ấm lạnh phải thay nhau để điều hòa khí hậu. Cái gì thịnh quá thì phải suy, suy quá thì sẽ thịnh. Khổng, Lão, Dịch học phái đều thấy như vậy, nhưng Lão cực đoan, không muốn thịnh, không muốn tiến, chỉ muốn ở dưới thấp, muốn yếu "thủ thư" (giữ phận con mái), thủ nhục (chịu nhục, kém người); còn Dịch và Khổng muốn tiến, muốn thịnh, muốn mạnh, nhưng tới một mức nào thôi. Lão trọng âm, vô vi; Dịch trọng dương, hữu vi nhưng hữu vi vừa phải, tránh cực đoan.
Cho nên hầu hết các quẻ tốt trong Dịch, hào cuối cùng đều xấu: lúc đó đã thịnh cực rồi, bắt đầu suy.
Như quẻ Càn mà Dịch cho là quẻ rất tốt, có đủ các đức nguyên hanh lợi trinh, mà hào 6 có điều ăn năn, vì "rồng lên cao quá", không xuống được nữa; và gặp hào đó thì không nên hoạt động gì nữa mà sớm rút lui đi để khỏi phải hối hận.
Hào 6 quẻ Thái cũng vậy. Tới cuối thời thông thuận rồi, sắp qua thời Bĩ, bế tắc nên hào từ khuyên: đừng hành động nữa mà sẽ thất bại xấu hổ.
Nhưng quẻ Bĩ thì hào cuối lại tốt: "trước còn bĩ, sau thì mừng" vì bĩ cực thì thái lai (những quẻ xấu khác cũng vậy, đa số hào cuối đều như các quẻ Bác, Độn, Khuê, Kiển, Hoán...).
Quẻ Thăng cũng là một quẻ tốt, vì là thời tiến lên; hào cuối cùng, Hào từ cho là xấu, vì quá tham, cứ muốn tiến hoài, và khuyên phải sửa đức cho hợp đạo chính thì mới có lợi.
Như trên tôi đã nói, Dịch cho cương cường là một đức tốt, nhưng quá cương thì xấu. Chẳng hạn quẻ Đại Quá có tới 4 hào dương ở giữa và chỉ có 2 hào âm trên và dưới. Đại quá có nghĩa là lớn quá. Hào từ ghét những hào quá cương (hào 3 và 5); còn hào quá nhu như hào 6 (thể và vị đều nhu) thì tuy không có lỗi nhưng cũng cho là xấu. Hào 1 thể nhu mà vị cương; hào 2 và 4 thể cương mà vị nhu, nghĩa là vừa cương vừa nhu thì tốt hoặc không có lỗi.
Vậy là Hào từ trọng đức trung (vừa cương vừa nhu) hơn cả. Ngay như đức biết tiết chế, một đức hợp với đạo trời, mà quẻ Tiết, hào 6 cũng bị chê là hung vì tiết chế tới mức quá đáng, khiến người ta cực khổ, không ai chịu được lâu mà sẽ oán.
Lòng thành tín vẫn là tốt, cần thiết trong sự giao thiệp với mọi người, trong việc trị dân, nhưng cũng phải đừng thái quá tới nỗi không biết biến thông, như hào 6 quẻ Trung Phu; mà nên có đức trung như hào 2. Hào này là dương, có đức tin, mà ở giữa nội quái, là đắc trung, lại ứng với hào 5 ở trên cũng dương cương, cũng đắc trung; hai hào cảm ứng, tương đắc với nhau như hạc mẹ gáy, hạc con họa lại, rất tốt.
Cả trong quẻ Sư nói về việc xuất quân mà cũng có hai hào khuyên phải giữ đức trung.
- Hào 2, ở trong quân, (vị tướng chỉ huy) có đức trung thì tốt, không tội lỗi. Hào này dương cương mà đắc trung, ở giữa nội quái.
- Hào 5, âm, ở vị chí tôn, tượng ông vua ôn nhu không gây chiến mà thuận đạo trung (vì ở giữa ngoại quái), chỉ vì quân địch lấn cõi mà phải đánh đuổi đi, nên không có lỗi.
Đạo trời "Khuy doanh nhi ích khiêm", cái gì đầy thì làm cho khuyết đi, cái gì thấp kém thì bù đắp cho (Thoán Truyện quẻ Khiêm), cũng chỉ là để cho vạn vật được cân xứng, quân bình, nghĩa là đắc trung.
Tuy nhiên trung không có nghĩa là lưng chừng như nhiều người hiểu lầm.
Nếu là lưng chừng thì đã không có hào 5 quẻ Càn. Quẻ này kể những bước đường đời của bậc đại nhân có tài đức muốn lập sự nghiệp lớn để giúp đời. Mới đầu như con rồng còn ẩn (hào 1), rồi tài đức mỗi ngày mỗi cao, đã có người biết tới (hào 2), nhưng vẫn chưa gặp thời còn phải thận trọng (hào 3), rồi tới lúc có thể tiến được (hào 4), sau cùng thành công ở hào 5. Như vậy đâu phải là lưng chừng, mà trái lại thận trọng tiến, tùy thời mà hành động cho tới khi đạt được mục đích. Nếu lưng chừng thì đã ngưng ở hào 3 hay 4 rồi mà thất bại.
Trung cũng không có nghĩa là nhu nhược, nếu nhu nhược thì ông vua trong hào 5 quẻ Sư đã không dám đánh đuổi quân địch lấn cõi mình, đã không giao quyền cho vị tướng lão thành trong hào 2.
Trung trong quẻ Càn chỉ có nghĩa là lên cao tới cùng thì ngưng lại, trong quẻ Sư chỉ có nghĩa là không hiếu chiến mà biết tự vệ.
Trung, như Văn ngôn truyện nói, là biết lúc nào nên tiến, lúc nào nên lui, biết vận trời (hoàn cảnh) lúc nào còn lúc nào mất mà xử sự cho hợp thời nhưng vẫn giữ được chính đạo (Tri tiến thoái tồn vong, như bất thất kì chính), nghĩa là biết tùy thời cho hợp đạo. Như vậy là trúng tiết độ; trúng tiết, sách Trung Dung gọi là hòa.
Theo Mạnh Tử và Tử Tư thì Khổng Tử chấp trung mà biết tùy thời. Mạnh Tử tôn Khổng là "Thánh chi thời" (bậc thánh về đức tùy thời hành động); còn Tử Tư thì cho câu "quân tử nhi thời trung" là của Khổng.
Nếu vậy thì Dịch học phái đã chịu ảnh hưởng của Khổng phái mà tiếp tục phát huy thuyết "thời trung".
Chính và Trung lại gồm trong chữ Thời
Dịch là biến dịch, có biến hóa mới thích hợp (duy biến sở thích - Hệ từ hạ, Ch.8), cho nên trọng cái thời. Vì biến đến cực thì trở lại, cho nên trọng đức trung. Trung với thời, do đó mà liên quan mật thiết với nhau.
Thời gồm trung, vì phải hợp thời mới gọi là trung. Ở cảnh giàu sang mà sống bủn xỉn, ở cảnh nghèo hèn mà sống xa hoa, thì không hợp thời, không phải là trung.
Thời gồm chính nữa vì chính mà không hợp thời thì cũng xấu. Cương cường là đạo người quân tử mà ở cuối quẻ Càn, không hợp thời, cho nên có hối hận.
Vậy Dịch là chính trung, mà thực ra chỉ là hợp thời. "Cái nghĩa tùy thời lớn thật" (Tùy thời chi nghĩa đại hĩ tai! - Quẻ Tùy). Và Dịch học phái rất chú trọng đến thời.
Thoán Truyện quẻ Đại Hữu bảo:
"Ứng với trời và làm theo thời, nhờ vậy mà được tốt hơn cả" (Ứng hồ thiên nhi thời hành, thị dĩ nguyên hanh).
Quẻ Tổn: "Bớt, thêm, đầy, rỗng, cùng với thời mà lưu hành" (Tổn, ích, doanh, hư, dữ thời giai hành).
Quẻ Cấn: "Lúc đáng ngừng thì ngừng, lúc đáng đi thì đi. Động tĩnh không thất thời, đạo đó sáng sủa" (Thời chỉ tắc chỉ, thời hành tắc hành. Động tĩnh bất thất kì thời, kì đạo quang minh).
Văn Ngôn truyện cùng một chủ trương đó: "Bậc quân tử tiến đức tu nghiệp là muốn cho kịp thời" (Quân tử tiến đức tu nghiệp, dục cập thời dã).
Muốn kịp thời thì phải biến cách, phải thay đổi. Thoán Truyện quẻ Cách bảo:
"Thay đổi mà được lòng người tin... thì rất tốt và chính đáng. Thay đổi mà đáng thì ăn năn phải mất. Trời đất thay đổi mà có bốn mùa: Vua Thang, vua Vũ đổi mạng (diệt Kiệt, Trụ mà lên làm vua) - thuận với trời mà ứng với người. Cái thời của quẻ Cách lớn thay" (Cách nhi tín chi... đại hanh dĩ chính. Cách nhi đáng, kì hối nãi vong. Thiên địa cách nhi tứ thời hành; Thang, Vũ cách mệnh, thuận hồ thiên nhi ứng hồ nhân. Cách chi thời đại hĩ tai!).
Mỗi quẻ là một thời
Cũng theo Huệ Đống, trong Thoán Truyện có 24 quẻ, trong Tượng Truyện có 6 quẻ nói tới chữ Thời.
Phan Bội Châu bảo trong Thoán Truyện có 11 quẻ đề cao chữ thời: quẻ Dĩ, quẻ Đại Quá, quẻ Giải, quẻ Cách chỉ nói tới Thời thôi; quẻ Dự, quẻ Độn, quẻ Cấn, quẻ Lữ nói tới Thời mà kiêm với Nghĩa; quẻ Khảm, quẻ Khuê, quẻ Kiển nói tới Thời mà kiêm với Dụng (Chu Dịch - trang 354).
Hai nhà đó chỉ kể những quẻ mà lời Thoán Truyện và Tượng Truyện khuyên đạo tùy thời; chứ theo Dịch học phái thì 64 quẻ, quẻ nào cũng nói đến thời vì mỗi quẻ là một thời. Chữ thời này có nghĩa rộng.
Thái, Bĩ, Kí Tế (đã xong rồi), Vị Tế (chưa xong), Khốn, Dự (vui vẻ), Nhu (đợi chờ) v.v... đều là thời cả; mà ngay đến Càn, Khôn, Khảm, Cấn... cũng là thời nữa: Càn là thời của một đại nhân, có tài đức, thời hành động; Khôn là thời của người dưới, thời nhu thuận, thời văn minh; Khảm là thời gian nguy; Cấn là thời nên tĩnh, nên thận trọng, đề phòng...
Hệ Từ hạ, Chương VII, mở đầu bằng một lời cảm thán:
"Đạo Dịch hưng thịnh lên ở thời Trung cổ chăng? (Trung cổ so với thời tác giả Hệ từ, tức thời Văn Vương.) Người làm Dịch (tức Văn Vương) có điều ưu tư, lo lắng đấy chăng?" (Dịch chi hưng dã, kì ư trung cổ hồ? Tác Dịch giả, kì hữu ưu hoạn hồ?)
Đoạn đó ám chỉ việc Văn Vương bị Trụ giam ở ngục Dữu Lí mà đặt ra Thoán Từ cho mỗi quẻ.
Đọc 64 quẻ, chúng ta cảm thấy buồn rầu, ưu tư thật. Xã hội Trung Hoa trong Dịch sao mà đen tối! Cảnh nghịch nhiều hơn cảnh thuận, cảnh suy nhiều hơn cảnh thịnh.
Cảnh vui, thịnh, tôi chỉ thấy có bảy quẻ: Dự (vui), Thái (thông thuận, trái với bĩ), Đại Tráng (thời cường thịnh), Phong (thời thịnh lớn), Đại Hữu (thời giàu có), Thăng (thời đương lên), Tấn (thời nên tiến).
Trong 7 quẻ đó, không có quẻ nào thật tốt, không cảnh nào tác giả Kinh Dịch không tô lên một vệt xám, không nhắc nhở ta: coi chừng đấy, trong phúc nấp họa đấy (quẻ Dự, quẻ Đại Tráng) phải đề phòng trước đi (quẻ Đại Tráng), thái cực thì bĩ theo sau đấy (Thái); trong cảnh giàu có (Đại Hữu) mà Dịch lại khuyên ta nên sống gian nan, đừng khoe của; dương lúc vận lên (Thăng), nên tiến (Tấn), Dịch cảnh cáo ta: tham lam thì chết đấy, tiến vừa vừa thôi; còn trong quẻ Phong là thời thịnh lớn, rất tốt mà không có một hào nào thật tốt, hào nào cũng có lời răn đe: phải cẩn thận, phải thế này thế nọ thì mới tốt.
Và khi công việc vừa mới xong, cũng như vừa mới qua sông (Kí Tế) thì đã tiếp ngay một quẻ bảo rằng việc chưa xong đâu (Vị Tế) đừng mong gì được nghỉ ngơi. Thế thì có chán không chứ! Còn cảnh lo buồn, cảnh nghịch, cảnh suy thì sao mà nhiều thế. Bên kia chỉ có một quẻ Thái, thì bên đây có quẻ Bĩ.
Rồi còn tiếp thêm một chuỗi nữa: Khảm (nguy), Truân (gian truân), Kiển (gian nan, hiểm trở), rồi tới Khốn (khốn đốn). Đối với Dự (vui vẻ) thì có Chấn (lo sợ), Minh Di (giấu tài đức đi, nép đi, không cho ai biết mình), Tiểu Súc (bị bọn tiểu nhân ngăn cản), Bác (phải chống đối với bọn tiểu nhân đương tiến).
Lại còn những cảnh: bị chia lìa (Khuê), phải trốn tránh (Độn), phải lưu lạc quê người (Lữ).
Xã hội hắc ám đó là xã hội thời Văn Vương (tác giả phần Kinh) thời Trụ, thời suy của nhà Ân, mà cũng là xã hội thời Xuân Thu và Chiến Quốc, thời suy của nhà Chu, thời của các tác giả phần Truyện.
Vì chính các tác giả này trong khi giải thích phần kinh đã gởi vào đó tâm sự của mình, nhân sinh quan của mình.
Ví dụ quẻ Bĩ, Thoán Từ của Văn Vương chỉ nói: "Bĩ không phải là đạo người, vì nó không lợi với đạo chính của quân tử"; chính Đại Tượng Truyện mới khuyên: bĩ là bế tắc tới cùng cực rồi, hành động chỉ vô ích, nên ở ẩn, cốt giữ cái đức và cái thân mình thôi.
Quẻ Đại Hữu, Thoán Từ khen là rất hanh thông, mà Đại Tượng Truyện thì căn dặn: "Người quân tử trong quẻ này phải ngăn đón ngay điều dữ khi nó chưa phát hiện, và biểu dương điều tốt khi nó còn mập mờ để thuận mệnh tốt của trời".
Những lời giảng thêm của người sau đó hầu hết bi quan hơn lời trong kinh, vì thời Xuân Thu, Chiến Quốc của họ loạn hơn thời cuối Ân.
Mỗi hào là một thời trong quẻ
Mỗi quẻ là một thời, mà mỗi hào trong quẻ lại là một thời nhỏ trong cái thời chung của quẻ. Để khỏi lẫn lộn, tôi gọi mỗi thời nhỏ của hào là một giai đoạn, một hoàn cảnh trong thời của quẻ.
Như quẻ Càn, hào 1 là giai đoạn ở ẩn (tiềm long) trong thời Càn; hào 2 là giai đoạn bắt đầu xuất hiện (hiện long); hào 3 là giai đoạn thận trọng chờ thời; hào 4 là giai đoạn có thể bay nhảy được; hào 5 là giai đoạn thành công, lên tới tột bực, hào 6 là giai đoạn rút lui.
Sáu giai đoạn trong quẻ Tiệm cũng rất rõ ràng: con chim hồng từ mặt nước mà lên tới bờ, tới phiến đá, tới đất bằng, tới cành cây, tới gò cao, rồi sau cùng lên tới mây, 6 hào là 6 giai đoạn trong thời Tiệm tiến.
Có thể kể thêm quẻ Nhu (tiến từ xa chỗ hiểm tới gần chỗ hiểm), quẻ Bác (tiêu mòn lần lần từ chân giường lên tới then giường, mặt giường), nhưng trước sau chỉ có độ mười quẻ như vậy; còn các quẻ kia thì các giai đoạn không theo một thứ tự nào cả như quẻ Lữ, mỗi hào là một hoàn cảnh áp dụng cho một hạng người tư cách, tính tình khác nhau, không có ý nghĩa trước sau về thời gian.
Mỗi hào tuy có một ý nghĩa riêng nhưng ý nghĩa đó luôn luôn tùy ý nghĩa của quẻ, tức tùy cái thời chung của sáu hào, có vậy mới nhất trí, thành một quẻ được.
Cùng là thể dương ở vị dương, ngôi chí tôn, mà hào 5 quẻ Càn rất tốt, lập sự nghiệp lớn, còn hào 5 quẻ Truân chỉ hơi tốt thôi chỉnh đốn việc nhỏ thì được, việc lớn thì xấu, vì hai hào đó ở thời khác nhau, một ở thời Càn, thời của bậc đại nhân, một ở thời Truân, thời gian nan, khó khăn, cho nên tài như nhau mà sự nghiệp khác nhau xa.
Hào 2 và hào 5 quẻ Càn đều là dương cương cả lại tương ứng, Hào từ khuyên nên tìm nhau mà làm việc; còn hào 2 và hào 5 quẻ Lí, cũng đều là dương và tương ứng mà Hào từ không khuyên như vậy, bảo 2 nên cô độc giữ vững đường chính, chỉ vì quẻ Càn là thời của một đại nhân (hào 5), có chí lớn giúp đời, mà muốn giúp đời thì cần có người đồng đức, đồng chí (hào 2); còn quẻ Lí nói về cách cư xử trong đời của một người thường như chúng ta, thì có đại nhân nào kiếm mình (hào 2) mà mình cứ kiếm đại nhân để làm gì, cứ lo giữ vững đường chính là tốt rồi.
So sánh hào 1 quẻ Kí Tế và hào 1 quẻ Vị Tế ta càng thấy rõ hơn nữa. Cả hai đều có ba chữ "nhu kì vĩ": con chồn qua sông để ướt cái đuôi; vậy mà trong quẻ Kí Tế thì cho là "vô cữu", không có lỗi, còn trong quẻ Vị Tế thì cho là "lận", đáng ân hận; vì thời của hai quẻ khác nhau; thời Kí Tế là thời đã qua sông rồi, đã xong việc, thời Vị Tế là thời chưa qua sông, chưa xong việc.
Hào 4 quẻ Tùy là dương mà ở vị âm, như thế là bất chính, đáng lẽ xấu, nhưng ở thời Tùy (theo) thì làm nên sự nghiệp (gặp ông vua biết dùng tài của mình), và nếu cứ giữ lòng chí thành, sáng suốt, theo đạo lí, thì không có lỗi.
Quẻ Khốn, hào 2 và hào 5 đều là dương, đắc trung, đáng lẽ tốt mà lại xấu, chỉ vì ở thời khốn đốn.
Xin độc giả so sánh thêm cặp 1-4 quẻ Phong với cặp 2-5 quẻ Tụng. Ở quẻ Phong, 1 và 4 ứng nhau, đều dương cương cả (đồng đức) họp thành một cặp bạn tốt. Ở quẻ Tụng, 2 và 5 cũng ứng nhau, cũng đều là dương cương cả, lại thêm đều đắc trung, đáng lẽ cũng thành một cặp bạn rất tương đắc, nhưng Hào từ lại bảo 2 muốn kiện 5, và khuyên nên bỏ ý đó đi, sẽ như trứng chọi với đá thôi. Vì Phong là thời thịnh, hanh thông; còn Tụng là thời kiện tụng, 2 và 5 không phải là đồng đức mà là ngang ngạnh như nhau; phải coi là đối địch nhau.
Dịch chỉ là Thời
Đọc Dịch chúng ta so sánh, suy nghĩ như vậy sẽ nhận được rất nhiều bài học tùy thời, sẽ thấy cả bộ Dịch chỉ tóm lại trong chữ Thời (Chu Dịch nhất bộ thư, khả nhất ngôn nhi tế chi, viết: Thời). Tùy thời mà vẫn giữ được trung chính, đó lại là một luật bất biến nữa trong đạo biến dịch. Nắm được luật đó thì ta có thể ứng được với vạn cái biến trong đời (Dĩ bất biến ứng vạn biến).
Chúng ta sẽ biết lúc nào nên cương, lúc nào nên nhu, lúc nào nên tiến, lúc nào nên thoái, lúc nào nên động, lúc nào nên tĩnh, lúc nào nên nhường nhịn, lúc nào nên tấn công, "ích" (tăng) không phải là luôn luôn tốt, cần phải biết khi nào nên ích, ích cái gì, ích cho ai; tổn không phải là luôn luôn xấu, tổn giảm được các tật của mình thì lại là tốt, tổn của người giàu để ích cho người nghèo là tốt; cải cách phải hợp thời mới tốt; mà đức thành tín cũng phải biết biến thông mới tốt.
Biết tùy thời là điều rất khó, phải bình tĩnh vô tư, sáng suốt, phải có trí. Dịch trọng cả đức lẫn trí, giống Khổng, khác Lão.
Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Chương VI.
