Bài tổng quan
Sáu nguyên tắc giữ cho việc xem quẻ khỏi sai lầm
Hai quẻ cùng báo hỏng, nhưng cái hỏng trong mỗi quẻ không mang chung một tên. Người xem quẻ vững là người tách được bản chất khỏi trạng thái, và biết rằng người hỏi, quẻ gieo, người giải phải cùng đúng thì kết quả mới đáng tin…
Mục lục · 7 phần
- 01Chỉ bốn yếu tố làm nên kết quả của một quẻ
- 02Mọi tình huống đều có lý do xuất hiện riêng
- 03Bản chất và trạng thái của một hào là hai thứ khác nhau
- 04Thứ tự là nguyên tắc quan trọng nhất
- 05Người hỏi đúng: hiểu câu hỏi trước khi chọn dụng thần
- 06Quẻ đúng: yên tĩnh và đúng một câu hỏi
- 07Người giải đúng: một quẻ giải theo từng bước
Chỉ bốn yếu tố làm nên kết quả của một quẻ
Trước khi đi vào chuyên môn, người xem quẻ cần nắm rõ sáu nguyên tắc để khỏi rơi vào những sai lầm quen thuộc. Chúng nghe giản dị, nhưng phần lớn những quẻ đoán sai đều bắt nguồn từ việc quên một trong sáu điều này.
Nguyên tắc đầu tiên: dù trong quẻ có bao nhiêu hào động và gặp tình huống nào đi nữa, kết quả của một quẻ Dịch cũng chỉ xoay quanh bốn yếu tố. Đó là dụng thần, hào Thế, hào động và hào biến. Kết quả cuối cùng phụ thuộc vào sự đối chiếu giữa bốn yếu tố ấy với nhau. Từ đây suy ra rằng không có chuyện một hào tĩnh tác động làm đổi bản chất của hào Thế. Hào tĩnh vẫn mãi là hào tĩnh, dù nó khắc một hào khác, nó chỉ báo rằng chính hào ấy không ưa hào kia, như khi áp dụng Kỵ thần trì Thế hay xét quan hệ giữa Thế và Dụng. Cũng theo đó, từng hào biến chỉ tác động tới hào động hóa ra nó mà thôi.
Mọi tình huống đều có lý do xuất hiện riêng
Hai quẻ có thể cùng báo hỏng, nhưng cái hỏng trong mỗi quẻ không mang chung một tên.
Nguyên tắc thứ hai nói rằng tình huống nào trong quẻ cũng có lý do xuất hiện riêng của nó. Ở bước xác định kết quả, nhiều tình huống cho ra kết quả giống nhau. Nhưng khi đến bước cuối cùng, tức bước xác định thông tin của các yếu tố tác động, chúng tách ra rõ rệt. Ví dụ hào Thế khắc dụng thần trong chuyện kinh doanh là bản thân đang đi sai đường. Điều ấy khác hẳn với hào Thê tài suy, nghĩa là thị trường không còn chỗ, giống như bán thịt cho chùa. Cả hai tình huống đều dẫn đến kết quả hỏng, nếu không có sự tương tác thêm nào của hào động hoặc trạng thái đặc biệt của Thế và Dụng như xung hay hợp.
Bản chất và trạng thái của một hào là hai thứ khác nhau
Có hào mạnh mà bị lệch hướng, có hào yếu mà vẫn đúng giờ. Muốn đọc đúng phải tách hai điều ấy ra.
Nguyên tắc thứ ba nói về bản chất của một hào. Bản chất của hào chính là chỗ vượng suy của nó, gồm năm bậc: Quá vượng, Vượng, Hưu, Suy, Vô căn. Khi nói tới bản chất của một hào, ta hiểu đang nói tới hào ấy vượng hay suy. Những yếu tố tác động được vào bản chất ban đầu của một hào gồm ngày, tháng, hào động và hào biến tương ứng với hào động. Nghĩa là ta thấy ngay rằng không có chuyện một hào tĩnh có thể tác động tới một hào động hay một hào tĩnh khác. Ngay cả trường hợp Kỵ thần trì Thế, Kỵ thần trì Thế ấy chỉ mang yếu tố kết luận kết quả của việc, chứ không thể làm thay đổi bản chất của hào dụng thần. Nghĩa là kết quả hỏng vì đi sai đường, nhưng điều đó chẳng ảnh hưởng tới chuyện con đường ấy tốt hay xấu, vì điều đó dựa trên bản chất của hào dụng thần.
Nguyên tắc thứ tư nói về trạng thái. Trạng thái của một hào là những yếu tố có sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể làm thay đổi bản chất của hào hay làm lệch điểm ứng kỳ của các hào, gồm âm động, Nguyệt phá, Tuần không, vòng trường sinh và Phi thần. Với các trạng thái này, phải thật kỹ càng trong định nghĩa để tránh sai lầm khi xét, kể cả những khái niệm như thiếu hay thừa. Những trạng thái giống như ngày và tháng sẽ tác động đến tất cả các hào trong quẻ. Muốn ôn lại vòng này thì có thể xem mười hai cung trường sinh.
Nguyên tắc thứ năm: chỉ hào động mới được xét, và chỉ hào động mới tác động được tới các hào tĩnh khác, gồm dụng thần và hào Thế. Khi đó nguyên tắc xét hào động chính là nguyên tắc dụng thần và các vệ tinh quanh dụng thần.
Thứ tự là nguyên tắc quan trọng nhất
Ba điều kiện cần hội đủ cùng lúc thì quẻ mới đáng tin: người hỏi đúng, quẻ đúng và người giải đúng.
Nguyên tắc thứ sáu, quan trọng nhất: mọi quẻ Lục hào đều phải được xét trên điểm tựa về thứ tự. Muốn một quẻ ra kết quả đúng, phải có đồng thời ba yếu tố. Thứ nhất, người hỏi đúng: câu hỏi phải thật sự là câu hỏi, là bản chất mong muốn, mưu cầu của người hỏi đối với sự việc. Một người hỏi về thừa kế sẽ khác với một người hỏi về tiền tự kiếm, hay người hỏi chuyện yêu đương, chuyện cưới hỏi. Cho nên việc đầu tiên luôn là xác định thật sự người hỏi muốn điều gì. Thứ hai, quẻ đúng: quẻ gieo phải ứng với câu chuyện thông qua cách gieo, bao gồm không gian yên tĩnh, không tạp niệm, không hỏi hai câu cùng lúc, đúng bản chất. Thứ ba, người giải đúng: đến đây mới là kỹ thuật xem quẻ.
Về việc xem quẻ, thứ tự lưu ý là kết quả, thời điểm, rồi thông tin liên quan.
Kết quả. Việc đầu tiên cần quan tâm nhất khi xem quẻ là kết quả của sự kiện ấy. Hãy quan tâm đến kết quả ngay từ đầu để tránh sa đà vào các thông tin hay yếu tố khác như thời điểm. Nếu biết được thời điểm xảy ra sự kiện cùng những yếu tố tác động trong quá trình từ lúc hỏi đến lúc sự kiện xảy ra mà sai kết quả, thì tất cả những điều đó đều vô nghĩa. Với những ai học Dịch, nên nhớ rằng kết quả nằm ở tương lai, nên tất cả những gì thuộc quá khứ hay hiện tại chỉ là cái để quy chiếu, xác quyết quẻ có ứng hay không. Đừng bám vào đó mà lạc đường, khó đi sâu. Tất nhiên hầu hết mọi người sẽ có sự chủ quan, vì với các quẻ thông thường, người ta tiếp cận chỉ có một hào động nên xác định kết quả đơn giản. Nhưng đến đây phần lớn sẽ phải lựa chọn: đi xa hơn với quẻ đa động hay chỉ ở lại với quẻ đơn động mãi. Đó là sự lựa chọn giữa việc coi Dịch là một công cụ hay coi Dịch là một niềm yêu thích, và mỗi người sẽ có lựa chọn riêng.
Thời điểm. Đó là thời điểm xảy ra kết quả, và thời điểm xảy ra các yếu tố liên quan trong câu chuyện. Cũng như việc ta biết sẽ bị hỏi, nhưng hỏi vào lúc nào? Nắm rõ điều này mới có thể có sự can thiệp đúng đắn, còn không thì cũng chỉ biết cho vui mà thôi.
Thông tin liên quan. Là diễn giải các tình huống của quẻ ra ngôn ngữ thông thường. Bước chuyển ngữ này cho ta cái nhìn toàn cảnh hợp lý về sự kiện, từ đó có cách ứng xử và can thiệp hợp lý nếu kết quả không như mong muốn.
Về kỹ thuật giải quẻ, phải đi theo thứ tự sau: xác định dụng thần; xác định bản chất dụng thần; xác định hào Thế; xác định tương quan Thế và Dụng; xác định bản chất hào Thế; xác định các hào động; xác định các hào biến tương ứng với từng hào động; xác định bản chất các hào động; xác định tương quan giữa các hào động với nhau để ra kết quả cuối cùng; xác định tương quan giữa kết quả của cụm hào động và dụng thần; xác định tương quan giữa cụm hào động và Thế. Một mẹo nhỏ về thứ tự: ta xác định một lượt về bản chất dụng thần, Thế và hào động, rồi xét lại một lượt về trạng thái đối với các hào liên quan trong quẻ, như thế sẽ không bỏ sót bất kỳ yếu tố nào.
Người hỏi đúng: hiểu câu hỏi trước khi chọn dụng thần
Cùng một câu «công việc sắp tới thế nào» có thể dẫn đến năm cách chọn dụng thần khác nhau.
Giả sử có người đến hỏi công việc sắp tới ra sao. Ta phải xác quyết với người hỏi rằng «công việc» đang có nghĩa gì với họ.
Nếu hỏi về đường thăng tiến thì hào Quan đại diện cho việc có lên được vị trí mong chờ hay không. Nếu hỏi về tương lai công việc thì bản chất hào Quan đại diện cho việc thăng tiến hay giáng cấp. Nếu người hỏi làm trong ngành y thì đổi Quan thành Tử tôn.
Nếu sắp quan tâm đến chuyện thuyên chuyển ngang vị trí thì chọn Phụ mẫu làm dụng thần. Với ngành quân đội hoặc công an thì đổi sang dụng thần Quan quỷ. Với ngành y, dù là cơ quan kinh tế thuộc về y, vẫn lấy Tử tôn làm dụng thần. Trong trường hợp này cần hoàn hảo cả hai yếu tố Thế và Dụng. Nếu một trong hai hỏng, hoặc chưa đến mức độ Vượng, hay Cừu thần động, thì đều báo việc bất thành.
Nếu hỏi về quan hệ với nhân viên thì chỉ xem hào Thê tài và hào Thế để đánh giá nhân viên. Khi ấy bản chất câu hỏi quyết định bản chất hào Thê tài. Ví dụ hỏi quan hệ giữa mình và nhân viên sắp tới có hòa hợp được không, thì độ vượng suy của Thê tài trả lời cho câu hỏi này. Vượng thì nhân viên thành ý hòa hợp. Nhưng hào Thế cũng đại diện cho bản thân mình: nếu Thế khắc Thê tài thì dù bên kia thành ý, mình đang tiếp cận sai hướng khiến quan hệ khó ổn hơn. Với trường hợp Kỵ thần trì Thế, tức Huynh đệ trì Thế, mà Thê tài xung Thế, ta lấy xung trước khắc: bản chất của việc dụng thần xung Thế là sự kiện đến bất ngờ, còn thành hay bại thì tùy vượng suy. Kết luận nếu Thế và Thê tài đều vượng thì quan hệ với cấp dưới sẽ hòa hợp bất ngờ, nhưng bản thân vẫn có những điều không vừa lòng với nhân viên, bởi dù sao hào Thế cũng khắc hào dụng thần. Trường hợp Kỵ thần trì Thế mà Thê tài hợp Thế cũng tính tương tự.
Với câu hỏi năng lực nhân viên có tốt không, dụng thần đại diện cho khả năng của nhân viên, còn quan hệ giữa Thế và Dụng đại diện cho việc mình có dùng được năng lực ấy hay không. Vô số ví dụ trong thực tế cho thấy không phải nhân viên giỏi thì chủ sẽ dùng được, như chuyện xưa Lã Bố và Đổng Trác. Thế suy thì nhân viên vượt quyền, giống như trong tình duyên khi dụng thần vượng mà Thế suy: bản thân bị lấn át. Nếu Thế khắc Dụng thì đơn giản chỉ là mình không dùng được người tài mà thôi.
Nếu hỏi quan hệ với cấp trên thì lấy Phụ mẫu làm dụng thần, rồi xem tương tự với hào Thế và Thê tài. Trường hợp này được xếp vào nhóm xem về nhân sự, tức quan hệ giữa người với người. Dựa vào tình huống thực tế, ta diễn giải sao cho hợp lý, chỉ cần để ý toàn cảnh của vấn đề đang quan tâm. Điều cơ bản nhất khi xem quẻ luôn là chọn dụng thần cho đúng, chuyện còn lại tính sau.
Quẻ đúng: yên tĩnh và đúng một câu hỏi
Quẻ gieo trong lúc đầu óc đang tản mác thì dù kỹ thuật tốt đến đâu cũng chỉ giải được sự tản mác ấy.
Nơi gieo quẻ phải đủ yên tĩnh để không phân tâm. Lúc gieo không nghĩ đến các câu hỏi khác nhau mà chỉ tập trung vào đúng một câu. Số lần gieo là sáu lần. Nếu xem cho người khác thì người gieo không tự đếm, mà người giải sẽ đếm giúp để tránh phân tâm. Nếu người hỏi cũng là người xem thì nên quay phim lại, sau đó xem lại rồi mới ghi quẻ, nhằm tránh việc phân tâm do vừa gieo vừa đếm. Những điều kiện cụ thể về cách gieo, cách lấy quẻ, có thể ôn lại trong bài gieo quẻ đúng cách.
Người giải đúng: một quẻ giải theo từng bước
Khi từng bước được đi đủ thì quẻ giải xong nhẹ nhàng, giống như đếm bước chân trên một con đường quen.
Ví dụ quẻ Lôi Thủy Giải, ngày Canh Thân, tháng Ngọ, hỏi về tiền bạc trong thời gian tới. Hào Thê tài Thìn thổ ở hào Thế, hào động là Tử tôn Ngọ hỏa hóa Quan quỷ Dậu kim.
Việc đầu tiên là phải xác định được bản chất câu hỏi trước khi bắt đầu đi vào kỹ thuật. Với câu hỏi này, người hỏi muốn biết sắp tới có khoản tiền nào không, và bản thân người này không làm trong nhóm nghề đặc biệt như quân đội, công an hay ngành y, nên ta lấy dụng thần là Thê tài.
Bước một, xác định dụng thần là Thê tài; bản chất dụng thần được tháng sinh, lại trường sinh tại ngày. Bước hai, xác định tương quan Thế và Dụng: dụng thần trì Thế. Bước ba, xác định bản chất hào Thế: Thổ được tháng sinh, kèm thêm trường sinh tại ngày, nên tính là Vượng. Bước bốn, xác định hào động, ở đây là Tử tôn Ngọ hỏa; bản chất hào động là làm tháng nên Vượng. Xác định tương quan giữa hào biến và hào động: hào biến không sinh không khắc hào động nên hào động giữ nguyên. Bước năm, xác định tương quan giữa hào động và dụng thần: hào động sinh dụng thần. Trường hợp này không tính là dụng thần Quá vượng. Muốn Quá vượng, hào phải được đầy đủ ngày và tháng, rồi thêm yếu tố tăng trưởng như ngày, tháng, hào biến, hoặc được hào động khắc hợp, hoặc được hào động sinh cho. Còn ở đây chỉ tính là Vượng mà thôi. Bước sáu, xác định tương quan giữa hào động và hào Thế: hào động sinh Thế nên như trên, Thế Vượng. Kết luận: mưu cầu đạt được.
Về thời điểm xảy ra sự việc: hào Thê tài tĩnh nên thời điểm là lúc xung hoặc trực hào Thê tài, tức Thìn hoặc Tuất. Về thông tin: dụng thần trì Thế, bản thân đang bị ám ảnh bởi việc hỏi, cụ thể ở đây là tiền. Hào Thế hành Thổ, kèm Huyền Vũ, là người cục tính, thích giúp đỡ mọi người xung quanh, có tham vọng, đang mong tiền. Hào động Ngọ hỏa Thanh Long sinh cho cả Thế lẫn dụng thần, là người giúp mình tìm ra khoản này. Đây là người quen, dáng vừa người, nhanh nhẹn, nóng tính, bên ngoài thoải mái, quảng giao, là nữ hoặc là nam nhưng tính không quyết đoán.
Quy trình xem một quẻ cơ bản là như vậy. Muốn chơi với Dịch thì phải nắm rõ nó, nếu không thì chỉ là tự huyễn hoặc, điều đó rất hại. Trong tương lai, ta chẳng khác người mù đi trong đêm, tất cả chỉ là mò mẫm theo cảm giác, và việc xác định sai chỗ đặt chân sẽ gây tai họa. Vì thế sự kỹ càng luôn là điều tiên quyết trong việc xử lý những gì thuộc về tương lai. Với những quẻ đơn giản như một hào động mà vẫn nhớ đủ thứ tự này, ta mới có nền để bước vào những quẻ phức tạp. Ôn nền tảng của hào, tám quẻ đơn, ngũ hành và địa chi, cũng là cách tốt để làm chắc điều ấy.
Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.
