Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bốc Phệ Chính Tông

Bài tổng quan

Chương Tật Bệnh Và Bệnh Thể: Xem Bệnh Chứng Và Tiên Lượng

Bói Dịch - Bốc Phệ Chính Tông16/09/202624 phút đọc6 lượt đọc
Chương Tật Bệnh Và Bệnh Thể: Xem Bệnh Chứng Và Tiên Lượng

Bệnh tật trong phép Lục Hào được nhận diện qua hào Quan Quỷ, rồi soi thêm bằng Ngũ Hành và Bát Quái để biết bệnh thuộc tạng phủ nào và nặng nhẹ ra sao. Từ đó, Tật Bệnh đi vào vị trí đau trên cơ thể, và dùng Mộ, Tuyệt cùng quan hệ sinh khắc để phân biệt bệnh nặng, bệnh nhẹ hay bệnh sẽ tái phát. Khi bệnh chứng đã rõ, Bệnh Thể chuyển sang thể trạng người bệnh, tiên lượng an nguy và khả năng chữa trị, kéo theo những câu phú về thuốc men, việc cầu đảo và lẽ sống chết. Đây là quan niệm của người xưa, không thay cho việc khám chữa bệnh ngày nay. Lạ thay, cùng một bộ Mộ, Tuyệt và sinh khắc vừa cho biết bệnh nặng hay nhẹ, vừa báo trước bệnh có quay lại không.


Tật Bệnh: mở đầu và câu 1–14

Tật Bệnh — cách xem bệnh chứng cụ thể qua hào Quan Quỷ, Ngũ Hành và Bát Quái, biết được bệnh thuộc tạng phủ nào, nặng nhẹ ra sao.

Mở đầu

人孰無常疾病無常 - 事孰為大死生為大

Nhân thục vô thường, tật bệnh vô thường
Sự thục vi đại, tử sinh vi đại

Vô thường của người ta là gì? Bệnh tật là vô thường

Sự việc lớn lao là gì? Sống chết là lớn lao.

Phàm xem bệnh chứng dùng hào Quan để xem nặng nhẹ, dùng hào độc phát cũng có thể suy được.

1.

火屬心經發熱咽乾口燥 - 水歸腎部惡寒盜汗遺精 - 金肺木肝土乃病侵脾胃 - 衰輕旺重動則煎迫身軀

Hỏa thuộc tâm kinh, phát nhiệt yết can khẩu táo
Thủy qui thận bộ, ác hàn đạo hãn di tinh
Kim phế, Mộc can, Thổ nãi bệnh xâm tì vị
Suy khinh vượng trọng, động tắc tiễn bách thân khu

Hỏa thuộc kinh của tim, làm phát nhiệt cổ miệng khô ran

Thủy qui về thận, rét lạnh, mồ hôi trộm, di tinh

Kim thuộc phế, Mộc thuộc gan, Thổ là bệnh xâm vào tỳ vị

Suy thì nhẹ, vượng thì nặng, động làm khốn khổ tấm thân.

Quỷ hào thuộc Hỏa, tim bị bệnh, thuộc chứng tất phát nóng, họng miệng khô khan. Thủy thuộc thận kinh, bị bệnh thuộc chứng rét lạnh, xuất mồ hôi trộm hoặc di tinh, bạch trọc. Kim thuộc phế kinh, bị bệnh thuộc chứng ho, hoặc suyễn đàm chẳng hạn. Mộc thuộc can kinh, bị bệnh, tất thuộc chứng cảm mạo, phong hàn hoặc tay chân uể oải. Thổ thuộc tì kinh, bệnh tất thuộc chứng hư hoàng, phù thũng, hoặc bị ôn dịch do thời khí. Nếu hào Quỷ suy nhược tất bệnh nhẹ, vượng tướng tất bệnh nặng, an tĩnh tất yên ổn, động tất phiền toái.

2.

坤腹乾頭兌必喉風咳嗽 - 艮手震足巽須癱瘓腸風

Khôn phúc, Càn đầu, Đoài tất hầu phong khái thấu
Cấn thủ, Chấn túc, Tốn tu than hoán trường phong

Khôn là bụng, Càn là đầu, Đoài tất cổ họng ho gió

Cấn là tay, Chấn là chân, Tốn phải tê liệt, hoặc đường ruột.

Quỷ tại cung Khôn, trong bụng bị bệnh. Hỏa Quỷ thì sưng viêm trong bụng, Thủy Quỷ thì đau đớn trong bụng, động hóa Tài hoặc hóa Thủy Quỷ thì bị thổ tả kiết lỵ, Thổ quỷ thì u trong bụng, cổ trướng, Mộc Quỷ thì bệnh ruột thắt, sa ruột, hoặc bệnh ở ruột già, Kim Quỷ đau ở sườn, ở thượng quái thì đau tại ngực, hạ quái thì đau ở thắt lưng. Đây là đoán Quỷ tại cung Khôn, ở các cung khác cũng phỏng theo như thế.

3.

騰蛇心驚青龍則酒色過度 - 勾陳腫脹朱雀則言語顛狂 - 白虎損傷女子則血崩血暈 - 玄武憂鬱男人則陰症陰虛

Đằng Xà tâm kinh, Thanh Long tắc tửu sắc quá độ
Câu Trần thủng trướng, Chu tước tắc ngôn ngữ điên cuồng
Bạch Hổ tổn thương, nữ tử tắc huyết băng huyết vựng
Huyền Vũ ưu uất, nam nhân tắc âm chứng âm hư

Đằng Xà thì tâm sợ hãi, Thanh Long thì tửu sắc quá độ

Câu Trần thì sưng trương, Chu Tước thì ăn nói điên cuồng

Bạch Hổ thì thương tích, đàn bà thì bị chứng băng huyết, vựng đầu vì máu

Huyền Vũ thì ưu uất, đàn ông bị âm chứng âm hư.

Đằng Xà ở Quỷ thì nằm ngồi không yên, tâm thần bất định. Thanh Long tại Quỷ thì tửu sắc quá độ, yếu đuối không còn sức. Câu Trần tại Quỷ thì bụng sưng trương, tỳ vị không hòa. Chu Tước tại Quỷ thì ăn nói điên cuồng, thân nóng mặt đỏ. Bạch Hổ tại Quỷ thì té ngã, khí muộn thương gân tổn cốt, nếu phụ nữ thì bị băng huyết, chóng mặt, các chứng sau khi sinh, vì Bạch Hổ là huyết thần cho nên mới vậy. Huyền Vũ tại Quỷ sắc dục quá độ, lòng lo buồn, tại bản cung chủ âm hư, hóa Tử Tôn thì người nam bị âm chứng âm hư, vì Huyền Vũ vốn là Thần ám muội. Khi đoán phải thông biến.

4.

鬼伏卦中病來莫覺 - 鬼藏世下病起如前

Quỷ phục quái trung bệnh lai mạc giác
Quan tàng Thế hạ bệnh khởi như tiền

Quỷ phục trong quẻ, bệnh đến chẳng rõ nguyên do

Quan phục tại Thế bệnh cũ tái phát.

Gặp Quan Quỷ không xuất hiện tất ẩn, bị bệnh không hiểu vì sao. Quan Quỷ phục tại Thế tất bệnh cũ tái phát.

5.

若伏妻財必是傷饑失飽 - 如藏福德定然酒醉耽淫 - 父乃勞傷所至 - 兄爲氣食相侵

Nhược phục Thê Tài tất thị thương cơ thất bão
Như tàng Phúc Đức định nhiên tửu túy đam dâm
Phụ nãi lao thương sở chí - Huynh vi khí thực tương xâm

Nếu phục tại Thê Tài tất bị thương thực hoặc đói

Nếu phục tại Phúc Đức chắc say sưa dâm dật.

Phụ Mẫu là đau vì lao lực

Huynh Đệ là vì ăn uống mà đau.

6.

官化官新舊兩病 - 鬼化鬼還變百端

Quan hóa Quan, tân cựu lưỡng bệnh
Quỷ hóa Quỷ, thiên biến bách đoan

Quan hóa Quan, bị bệnh cũ lẫn bệnh mới

Quỷ hóa Quỷ thì biến đổi trăm điều.

Trong quẻ xuất hiện hào Quan mà biến thành Quan, chủ bệnh cũ và mới. Lại như hào Quan hóa Tấn thần, tất bệnh nặng thêm, hóa Thoái thần tất bệnh giảm.

7.

化出文且在五爻則途中遇雨 - 變成兄弟居三位則房內傷風

Hóa xuất Văn thư tại ngũ hào tắc đồ trung ngộ vũ
Biến thành Huynh Đệ cư tam vị tắc phòng nội thương phong

Hóa thành Phụ Mẫu ở hào ngũ thì giữa đường gặp mưa

Biến thành Huynh Đệ ở hào tam bị trúng gió trong phòng.

Hóa thành Phụ Mẫu tất ở nơi sửa sang mà bị bệnh, nếu ở hào ngũ thuộc Thủy thì giữa đường đội mưa mà bệnh. Nếu hóa Huynh Đệ tất vì miệng lưỡi mà nôn, hoặc bị thương thực, nếu ở hào ba thì trong phòng cởi áo mà cảm gió lạnh. Nếu hóa Tử Tôn thì ở tại chùa quán, hoặc đi săn bắn. Hóa Thê Tài thì bị thương thực hoặc vì vợ, tôi tớ hoặc vì mua bán. Lục Thân hóa thành Quan Quỷ cũng theo như trên mà đoán.

8.

本宮爲在家得病下必內傷 - 他卦爲別處染災上須外感

Bản cung vi tại gia đắc bệnh, hạ tất nội thương
Tha quái vi biệt xứ nhiễm tai, thượng tu ngoại cảm

Tại bản cung thì bị bệnh ở nhà, hạ quái tất bị nội thương

Ở tha quái tất nhiễm bệnh ở nơi khác, ở thượng quái tất bị ngoại cảm.

Quỷ ở bản cung (chỉ ở quẻ chính ban đầu gieo được, còn tha quái tất quẻ biến) thì bị bệnh tại nhà, ở ba hào dưới tất bị chứng nội thương. Ở ngoại cung thì bị bệnh ở ngoài nhà, lại ở ba hào trên thì cảm phong tà. Thượng hạ quái đều có Quan hào thì bị cả chứng nội thương và ngoại cảm.

9.

上實下空夜輕日重

Thượng thực hạ Không dạ khinh nhật trọng

Trên thực, dưới Không thì bệnh đêm nhẹ ngày nặng.

Quỷ tại nội cung tất đêm nặng, Quỷ tại ngoại quái thì ban ngày bệnh nặng. Nếu quẻ có hai hào Quỷ, một vượng một lâm Không hoặc một động một tĩnh thì ngày bệnh nặng, đêm bệnh nhẹ.

10.

動生變剋暮熱朝涼

Động sinh biến khắc, mộ nhiệt triêu lương

Động sinh, biến thành khắc thì tối nóng sáng mát.

Nói chung thì hào động là khởi đầu, hào biến là cuối cùng. Nếu động hào sinh phò Dụng thần mà biến hào hình khắc Dụng thần thì sáng mát tối nóng, ngày nhẹ đêm nặng. Nếu động hào khắc mà biến hào sinh thì đoán ngược lại.

11.

水化火火化水往來寒熱

Thủy hóa Hỏa, Hỏa hóa Thủy vãng lai hàn nhiệt

Thủy hóa Hỏa, Hỏa hóa Thủy thì khi nóng khi lạnh mãi.

Thủy hóa Hỏa, Hỏa hóa Thủy không cần là hào Quan Quỷ nhưng có liên hệ đến chủ tượng (chỉ Dụng thần) đều là chứng nóng lạnh đổi thay mãi. Có hai hào Thủy và Hỏa đều động cũng vậy. Thủy vượng Hỏa suy thì lạnh nhiều nóng ít. Nếu Thủy bị thương mà Hỏa được trợ giúp thì đang nóng chợt lạnh. Cung Khảm mà Hỏa động thì trong lạnh ngoài nóng, cung Li Thủy động thì da lạnh mà xương nóng. Nếu mang Nhật thần tất chứng sốt rét.

12.

上冲下下冲上內感外傷

Thượng xung hạ, hạ xung thượng nội ngoại cảm thương

Trên xung dưới, dưới xung trên thì trong ngoài đều cảm thương.

Thượng hạ quái đều có hào Quỷ tất bệnh cả bên trong và bên ngoài. Hai hào Quỷ đều động, đều tĩnh trong ngoài đều cảm bệnh. Hai hào Quỷ tự xung nhau thì khi bệnh khi lành.

13.

火鬼冲財上臨則嘔逆多土

Hỏa Quỷ xung Tài thượng lâm tắc ẩu nghịch đa thổ

Hào Quỷ thuộc Hỏa xung Tài ở thượng quái thì nôn mửa nhiều.

Hỏa tính nóng bốc lên trên, Tài là ăn uống. Cho nên xem bệnh gặp Quỷ thuộc Hỏa động khắc Tài (sách có ghi chú: câu này chú giải không đúng, vì Quan Quỷ không thể khắc Thê Tài, Thê Tài luôn luôn sinh Quan Quỷ) ở ngoại quái thì nôn mửa nhiều không ăn uống được.

14.

水官化土下直則小便不通

Thủy Quan hóa Thổ hạ trực tắc tiểu tiện bất thông

Hào Quỷ thuộc Thủy ở dưới tất tiểu tiện không thông.

Quan hào Thủy hóa ra Thổ hồi đầu khắc tại hào sơ của bản cung, thì tiểu tiện không thông, thuộc âm thì đại tiện không thông. Dương cung âm tượng, âm cung dương tượng thì cả đại tiểu tiện đều không thông. Nếu hào dương mà có thêm Bạch Hổ thì đái ra máu; hào âm thì ỉa ra máu, vì Bạch Hổ là Huyết thần. Bị hình khắc thì mắc bệnh trĩ, lậu.

Tật Bệnh: câu 15–28

15.

若患牙疔兌鬼金連火煞

Nhược hoạn nha đinh, Đoài Quỷ kim liên hỏa sát

Nếu bệnh đau răng tất Quỷ ở cung Kim gặp Hỏa sát.

Quỷ ở cung Đoài, đau ở miệng. Nếu Kim Quỷ hóa Kỵ thần, hoặc Kỵ thần hóa Kim Quỷ tất sưng răng. Không hóa thành Kỵ thần tất chỉ bị răng đau. Quỷ tĩnh gặp xung thì răng bị lung lay.

16.

如生腳氣震宮土化木星

Như sinh cước khí Chấn cung Thổ hóa Mộc tinh

Nếu đau do khí ở chân tất Thổ ở cung Chấn hóa Mộc.

Quỷ ở cung Chấn thì bệnh ở chân, thêm Câu Trần thì sưng chân, thêm Bạch Hổ thì gãy hoặc thương tích. Quỷ thuộc Thổ hóa Mộc thì đau chân vì khí, Mộc Quỷ thì buốt tê chân, Thủy Quỷ thì đau vì thấp khí, Hỏa quỷ thì mụt nhọt độc, Kim quỷ thì đau xương, hoặc thương tích ở chân vì dao kéo.

17.

鬼在離宮化水痰火何疑 - 官來乾象變木頭風有準 - 震遇騰蛇乃發動驚悸顛狂 - 艮逢巳午又交重癰疽瘡毒

Quỷ tại Li cung hóa Thủy đàm hòa hà nghi
Quan lai Càn tượng biến Mộc đầu phong hữu chuẩn
Chấn ngộ Đằng Xà nãi phát động kinh quí điên cuồng
Cấn phùng Tị Ngọ hựu giao trùng ung thư sang độc

Quỷ ở cung Li hóa Thủy thì bị đàm vì hòa chẳng có gì nghi ngờ

Quan ở cung Càn hóa Mộc chắc chắn là đau đầu bởi gió.

Ở cung Chấn gặp Đằng Xà mà động thì sợ hãi điên cuồng

Ở cung Cấn mà tại Tị Ngọ lại giao động thì sưng mụt nhọt độc.

Quỷ ở cung Li hóa Thủy bị chứng đàm do hòa, Thủy động hóa Quỷ cũng vậy. Ở cung Càn Quỷ hóa Mộc tất choáng váng do đầu bị gió, Mộc động biến ra Quỷ cũng thế. Chấn ở ngoại quái chớ đoán là ở chân, có thể đoán là nằm ngồi không yên, tâm thần hoảng hốt. Vốn Chấn chủ động cho nên như thế. Lại thêm Đằng xà phát động tất bệnh động kinh, điên cuồng, con nít thì bệnh kinh phong, gặp xung thì tất lo về leo tường, leo lên nóc nhà... ở cung Cấn gặp Hỏa Quỷ tất chứng ung thư. Nếu biến ra Thổ Quỷ có thể đoán là sưng thũng chẳng hạn. Ngoài ra cứ theo thế mà suy.

18.

卦內無財飲食不納

Quái nội vô Tài ẩm thực bất nạp

Trong quẻ không có hào Tài, ăn uống chẳng được.

Tài hào chủ ăn uống, nếu lâm Không thì ăn uống chẳng được, còn không hiện trong quẻ thì không nghĩ đến việc ăn uống.

19.

間中有鬼胸膈不寬

Gian trung hữu Quỷ hung cách bất khoan

Gian hào có Quỷ thì lồng ngực không được khoan khoái.

Phần giữa Thế và Ứng là lồng ngực của bệnh nhân. Quỷ hào ở đấy thì bế tắc không thông. Nếu Kim Quỷ thì đau xương lồng ngực, Thổ Quỷ thì ăn no tức ngực, Mộc Quỷ tất ngứa ho, Thủy quỷ thì đàm chận ngực, Hỏa quỷ phần lớn đau ngực. Nếu hóa Tài hoặc Tài hào hóa Quỷ ăn không tiêu mà tức ngực.

20.

鬼絕逢生病體安而復作

Quỷ Tuyệt phùng sinh bệnh thể an nhi phục tác

Quỷ Tuyệt nhưng được sinh, bệnh đã yên nhưng trở lại.

Quan Quỷ gặp Tuyệt bệnh tất nhẹ, nếu được sinh phò tất gọi "tuyệt xứ phùng sinh" bệnh đương nhiên trở lại.

21.

世衰入墓神思困而不清

Thế suy nhập Mộ, thần tư khốn nhi bất thanh

Thế suy nhập Mộ, bệnh hôn trầm mà chẳng biết gì.

Thế hào nhập Mộ, bệnh tất hôn trầm, nếu vượng tướng hữu khí thì uể oải. Suy thì chẳng nói năng được, sợ mê man không ăn uống thích ngủ, biếng nhác không thích mở mắt. Nếu ở âm cung tất bị chứng liên quan đến người âm. Dụng hào nhập Mộ, Quỷ Mộ lâm Dụng thần, hoặc Nguyên thần nhập Mộ đều đoán như thế.

22.

應鬼合身纏染他人之症

Ứng Quỷ hợp Thân triền nhiễm tha nhân chi chứng

Hào Ứng là Quỷ hợp với Thân là lây bệnh người khác.

Ứng lâm Quan Quỷ hình khắc hoặc hợp với Dụng thần thì nhân thăm người thân bạn bè mà lây bệnh. Quỷ hào thuộc Thổ tất bị bệnh thời khí. Dụng thần lâm Ứng thì bị bệnh phải nằm nhà người khác.

23.

世官傷用重發舊日之災

Thế Quan thương Dụng trùng phát cựu nhật chi tai

Quan ở Thế thương khắc Dụng thần, bệnh ngày xưa lại tái phát.

Đại để hào Quan trì Thế tất nhiên vốn trước kia có bệnh, nếu thương khắc Dụng thần thì bệnh cũ tái phát. Quái thân trì Quỷ cũng thế.

24.

用受金傷肢體必然酸痛 - 主遭木剋皮骨定見傷殘 - 火為仇則喘咳之災 - 水來害則恍惚之症

Dụng thụ Kim thương chi thể tất nhiên toan thống
Chủ tao Mộc khắc bì cốt định kiến thương tàn
Hỏa vi cừu tắc suyễn khái chi tai
Thủy lai hại tắc hoảng hốt chi chứng

Dụng bị Kim hại tất thân thể đau ê ẩm,

Dụng gặp Mộc khắc thì xương da bị thương tích

Hỏa là kẻ thù thì bị ho hen,

Thủy đến hại thì bị chứng dật dờ.

Nếu Kim động khắc thì hào Mộc bị thương, các khớp xương đau nhức. Mộc động khắc thì hào Thổ bị chế, da xương bị thương tổn. Ngoài ra cứ phỏng theo thế mà suy.

25.

空及第三此病須知腰軟

Không cập đệ tam, thử bệnh tu tri yêu nhuyễn

Không ở hào thứ ba, phải biết bệnh này là đau lưng.

Hào thứ ba như lâm Không là đau lưng. Hoặc vượng tướng mà lâm Không là đau lưng, không lâm Không mà bị động hào, Nhật thần, Quan Quỷ xung khắc thì đau nhói ở lưng. Đồng lâm Không cũng thế. Quỷ ở hào này cũng chủ đau lưng.

26.

官傷上六斯人當主頭疼

Quan thương thượng lục, tư nhân đương chủ đầu đông

Quan hại hào thượng lục thì người đó bị đau ở đầu.

Không chỉ Quan Quỷ khắc hào thượng lục thì chủ đau đầu, tức như Quan Quỷ lâm ở đâu cũng chủ đau ở đó. Nếu Quan Quỷ khắc gian hào hoặc lâm gian hào đều chủ phần ngực không tốt. Kỵ thần cũng đoán như thế. Ngoài ra cứ theo đó mà suy.

27.

財動卦中非吐則瀉

Tài động quái trung, phi thổ tắc tả

Tài ở trong quẻ không mửa thì tả.

Tài hào động ở thượng quái chủ mửa, động ở hạ quái chủ tả. Nếu gặp hợp tất muốn mửa mà không mửa được, muốn tả mà không tả được.

28.

木興世上非癢則疼

Mộc hưng Thế thượng, phi dưỡng tắc đông

Mộc động ở Thế không ngứa thì đau.

Hai hào Dần Mão thuộc Mộc, Dần mộc chủ đau, Mão mộc chủ ngứa.

Bệnh Thể: mở đầu và câu 1–12

Bệnh Thể (thể trạng bệnh nhân) — xem thể trạng, tiên lượng an nguy, khả năng chữa trị của người bệnh qua quẻ Bốc Dịch.

Mở đầu

既明症當決安危 - 再把爻神搜索個中之玄妙 - 重加參考方窮就裏之精微

Ký minh chứng, đương quyết an nguy
Tái bả hào thần sưu sách cá trung chi huyền diệu
Trùng gia tham khảo phương cùng tựu lý chi tinh vi

Lúc đã rõ căn bệnh chắc chắn quyết đoán được an nguy

Lại xem các hào tìm lẽ huyền diệu bên trong

Xét thêm nữa mới đạt được lẽ tinh vi.

1.

先看子孫最有生扶拱合

Tiên khán Tử Tôn, tối hữu sinh phù cùng hợp

Trước hết là xem Tử Tôn, tốt nhất là được sinh phò cùng hợp.

Tử Tôn có thể khắc chế Quan Quỷ, người xưa gọi là Giải Thần, lại còn gọi là Phúc Đức. Xem bệnh để dùng thuốc mà trong quẻ không có hào Tử Tôn, Quan Quỷ không bị khắc chế tất uống thuốc không có hiệu nghiệm mà cầu đảo cũng không linh ứng. Cho nên trước tiên phải xem hào này.

Xem bệnh cho cha mẹ cho chồng không nên có hào Tử Tôn phát động, vì động thì khắc hào Phu mà lại khắc Nguyên thần của hào Phụ.

2.

次觀主象怕逢剋害刑冲

Thứ quan Chủ tượng, phạ phùng khắc hại hình xung

Tiếp theo là xem Dụng Thần, sợ bị khắc hại hình xung.

Chủ tượng tức Dụng Thần, như xem cho chồng lấy hào Quan làm Dụng Thần, xem cho vợ lấy hào Tài làm Dụng Thần chẳng hạn. Nếu Dụng Thần bị hình xung khắc hại, thì bệnh nhân khốn khổ vì bệnh nên sợ bị khắc hại, nếu được sinh phò tất không đến nỗi phải chết.

3.

世持官爻病總輕而難療

Thế trì Quan hào, bệnh tổng khinh nhi nan liệu

Thế trì hào Quan, nói chung bệnh nhẹ nhưng khó trị.

Tự xem bệnh thì sợ hào Quan trì Thế vì khó tránh thoát được.

4.

身臨福德勢雖險而堪醫

Thân lâm Phúc Đức, thế tuy hiểm nhi kham y

Thân lâm Phúc Đức thì tuy nguy hiểm nhưng có thể trị được.

Quái thân là thế của quẻ, Tử Tôn lâm Thân thì chắc chắn không lo. Nếu bệnh nguy hiểm có thể dùng thuốc sẽ thuyên giảm.

5.

用壯有扶切恐太剛則折

Dụng tráng hữu phù, thiết khủng thái cương tắc chiết

Dụng vượng mà lại được phò trợ, sợ nhất là quá cứng tất sẽ gãy.

Phàm Dụng Thần lâm Nguyệt kiến lại được Nhật thần sinh phò cùng hợp, mà có động hào sinh phò là điềm quá cứng tất gãy. Sợ nhất là Dụng Thần trị Nguyệt kiến tất hung, nhưng nếu được Nhật thần, động hào hình khắc thì không hết vượng. Cho nên mới bảo "thái quá thì hao tổn sẽ lợi".

6.

主空無救須防中道而殂

Chủ Không vô cứu, tu phòng trung đạo nhi tồ

Dụng Thần lâm Không mà chẳng được cứu tất phòng nửa đường mà chết.

Chẳng phải chỉ có lâm Không, phàm Chủ tượng gặp Mộ Tuyệt Không Phá mà được cứu thì vô hại, không được cứu tất chết. Cứu tất là "sinh phò cùng hợp".

7.

祿係妻財空則不思飲食 - 壽屬父母動則反促天年

Lộc hệ Thê Tài, Không tắc bất tư ẩm thực
Thọ thuộc Phụ Mẫu, động tắc phản xúc thiên niên

Lộc liên quan đến Thê Tài, lâm Không thì chẳng nghĩ đến ăn uống

Thọ thuộc ở Phụ Mẫu, động thì ngược lại mau chết.

Xem bệnh lấy Thê Tài làm thực lộc, trong quẻ nếu không có hào Tài hoặc Tài lâm Không tất không ăn uống được. Xem bệnh kỵ hào Phụ Mẫu động vì hào này khắc chế Tử Tôn, nên Quan Quỷ lộng hành mà uống thuốc chẳng hiệu nghiệm, nên nói mau chóng hết tuổi trời. Xem bệnh cho anh em thì lại cần Phụ Mẫu động.

8.

主象伏藏定主遷延乎歲月

Chủ tượng phục tàng chủ thiên diên hồ tuế nguyệt

Chủ tượng phục tất chủ bệnh kéo dài năm tháng.

Dụng hào không hiện ở quẻ, nếu được đề bạt phò dẫn (chỉ Dụng thần), tất đợi đến ngày xuất lộ. Nếu là bệnh đã lâu tất gặp trị niên, trị nguyệt (trị niên, trị nguyệt là năm và tháng mà Dụng thần trị — như Dụng thần là Dần phục tàng thì đợi năm Dần, tháng Dần) mới lành. Cho nên mới bảo định đến kéo dài của năm tháng.

9.

子孫空絕必乏調理之肥甘

Tử Tôn không Tuyệt tất phạp điều lý chi phì cam

Tử Tôn lâm Không Tuyệt khó điều trị cho mập mạp.

Tử Tôn vốn là thuốc, nhưng lại là rượu thịt, nếu lâm Tử Tuyệt hoặc lâm Không, hoặc không hiện trên quẻ, tất không được điều dưỡng cho mập lên. Nếu Nhật thần hoặc hào Ứng là Tử Tôn sinh hợp với Dụng Thần tất có người biếu tặng thức ăn để nuôi dưỡng.

10.

世上鬼臨不可隨官入墓

Thế thượng Quỷ lâm, bất khả tùy Quan nhập Mộ

Quan Quỷ ở hào Thế thì không thể theo Quỷ để nhập Mộ.

Phàm tự xem bệnh, nếu Thế lâm Quỷ nhập Mộ ở Nhật thần hoặc hóa nhập Mộ khố, chắc chắn là điềm không tốt. Thế hào trì Quỷ nhập Mộ mà động cũng hung.

11.

身臨福德豈宜父動來傷

Thân lâm Phúc Đức khởi nghi Phụ động lai thương

Thân lâm Phúc Đức, há nên có Phụ động đến khắc hại?

Xem bệnh lấy Tử Tôn làm thần giải ách, nếu Thân lâm Tử Tôn là điềm đại cát. Nếu Phụ Mẫu động đến khắc thì không tốt, nhưng Phụ Mẫu bị chế thì chẳng hại.

12.

用連鬼煞目前必見傾危

Dụng liên Quỷ sát, mục tiền tất kiến khuynh nguy

Dụng biến thành Quỷ, trước mắt tất nguy hiểm.

Chữ "liên" phải giảng là "biến thành". Ngày nay các thuật gia thấy Dụng thần biến ra Quan Quỷ đoán bệnh tất chết, tất bị lời mà làm hại nghĩa. Ai ngờ Quỷ sát ấy là Kỵ thần. Dụng liên Quỷ sát tất Dụng thần hóa hồi đầu khắc. Nếu biến hồi đầu khắc mà không được Nhật Nguyệt, động hào giải cứu tất bị nguy hại ngay.

Bệnh Thể: câu 13–25

13.

福化忌交病勢增加於小愈

Phúc hóa Kỵ hào bệnh thế tăng gia ư tiểu dũ

Phúc Đức hóa Kỵ thần, bệnh đang nhẹ thành nặng.

Tử Tôn phát động chế ngự Quan Quỷ, bệnh tất thuyên giảm. Nếu hóa Phụ Mẫu hồi đầu khắc Tử Tôn tất bệnh có hơi bớt mà không cẩn thận trở thành nặng. Tử Tôn hóa Quan Quỷ cũng thế.

14.

世撓兄弟飲食減省於平時

Thế nạo Huynh Đệ ẩm thực giảm tỉnh ư bình thì

Thế ở Huynh Đệ, ăn uống giảm hơn bình thường.

Huynh Đệ trì Thế ăn uống tất giảm, mà bệnh cũng do ăn uống nhiều.

15.

用絕逢生危而有救

Dụng Tuyệt phùng sinh, nguy nhi hữu cứu

Dụng thần gặp Tuyệt mà được sinh thì nguy nhưng được cứu.

Phàm Dụng Thần gặp Tuyệt nhưng được động hào ở trong quẻ sinh, gọi là "Tuyệt xứ phùng sinh", tượng trong hung có cát. Tuy nguy nhưng được cứu.

16.

主衰得助重亦何妨

Chủ suy đắc trợ, trọng diệc hà phương

Chủ tượng suy nhưng được trợ giúp thì bệnh nặng cũng được cứu.

Dụng Thần không nên quá yếu, yếu tất thân bệnh nhân không còn sức, khó lành được. Nếu được Nhật thần, động hào sinh hợp, phò trợ tất rất tốt, nếu bệnh thật nặng cũng không chết được.

17.

鬼伏空亡備衣冠防不測

Quỷ phục Không vong bị y quan phòng bất trắc

Quan Quỷ lâm Không, chuẩn bị áo mũ phòng khi bất trắc.

Câu này chỉ dùng cho bệnh của cha mẹ, quan lớn và chồng. Nếu Quan hào phục mà lâm Không tất phòng bất trắc.

18.

日辰帶鬼亟而祈禱保無虞

Nhật thần đới Quỷ cức nhi kỳ đảo bảo vô ngu

Nhật thần ở Quỷ, gấp cầu đảo để khỏi lo.

Như Nhật thần là Quan Quỷ sinh hợp hào Thế, hoặc hào Dụng thì nên cầu đảo. Xem sinh hợp với Thần gì, như với Thanh Long là Hoa Phan Hương Nguyện, với Câu Trần Thổ Địa, Thành Hoàng, Chu Tước là Hương Đăng Khấu Nguyện, Đằng Xà là Bách Tính Kinh Thần, với Bạch Hổ là Thương Ty Ngũ Đạo, Huyền Vũ là Huyền Đế Bắc Âm. Dương tượng, Dương hào là Thần; Âm tượng và Âm hào là Quỷ. Nay chỉ trình bày sơ lược, xem kỹ chương Quỷ Thần ở sau mà đoán mới đúng, không thể đoán càn để khỏi hao tiền bạc của người ta.

19.

動化父來冲剋勞役堪憂

Động hóa Phụ lai xung khắc lao dịch kham ưu

Động hóa Phụ đến xung khắc đừng nên lo lắng vất vả.

Trong quẻ Phụ Mẫu động đến xung khắc Dụng Thần hoặc Dụng Thần động biến thành Phụ Mẫu không xung khắc nên tự tại ít làm việc vất vả, nếu không thì bệnh tái phát trầm trọng.

20.

日加福去生扶藥醫則愈

Nhật gia Phúc khứ sinh phù y dược tắc dũ

Nhật ở Phúc mà đến sinh phò, tắc lành nhờ thầy nhờ thuốc.

Nhật thần lâm Tử Tôn sinh phò cùng hợp Dụng thần tắc nhờ thuốc mà lành bệnh.

21.

身上飛伏雙官膏肓之疾

Thân thượng phi phục song Quan cao mang chi tật

Trên Thân ẩn hiện hai hào Quan là bệnh hiểm nghèo.

Thân là Quái Thân cùng Dụng thần. Nếu hào Thân đã lâm Quan Quỷ lại có hào Quan khác động nhập vào Thân, hoặc giáp trước sau Thân đều là hào Quan, hoặc giáp trước sau Dụng thần đều là Quan Quỷ, hoặc Quỷ ở Thế mà Thân lại ở Quỷ, đều gọi là song Quan giáp Dụng, giáp Thân, đều tượng bệnh trầm trọng đến chết.

Như xem quẻ hung cát về bệnh cho con, mà được quẻ Hằng, thì hào tam và ngũ đều là Quan Quỷ, hào Ngọ hóa Tử Tôn ở hào tứ là gồm giữa hai hào Quỷ. Ngoài ra cứ phỏng theo thế.

22.

命入吻冥兩墓泉世之人

Mệnh nhập u minh lưỡng Mộ, tuyền thế chi nhân

Mệnh vào lưỡng Mộ tối tăm là người ở cửu tuyền.

Ở quẻ thì xem có Quỷ Mộ, với Thế thì xem có Thế Mộ, với Dụng thần thì xem có Chủ Mộ. Trong quẻ nếu xuất hiện Tam Mộ này, thì thấy rõ ràng nên bảo là "sáng". Biến nhập trong Mộ, người ta không thấy nên gọi là "tối". Không kể tối hay sáng, bệnh đều chủ nguy hiểm. Hoặc hào Thế, hào Dụng bị hào Quan hai đầu giáp, hoặc Thân bị hai Quỷ Mộ giáp tất chắc chết. Nếu được Nhật thần, động hào xung phá hào Mộ mới vô sự.

23.

應合而變財傷,勿食餽來之物

Ứng hợp nhi biến Tài thương, vật thực quỹ lai chi vật

Hào Ứng hợp mà biến thành Tài thương khắc, chớ ăn đồ đem lại biếu.

Ứng hào động đến sinh hợp Dụng thần thì có người đến thăm, nếu là hào Tài hay Phúc tất có quà biếu, nếu là hào Huynh thì chỉ đến thăm không mà thôi. Nếu Ứng tuy sinh hợp Dụng thần, nhưng Dụng hoặc động biến thành Tài hình xung khắc hại, thì quà đem biếu chớ nên ăn, không thì sẽ sinh hại. Xem cho bậc trưởng bối càng nên kỵ.

24.

鬼動而逢日破何妨見險之虞

Quỷ động nhi phùng Nhật phá, hà phương kiến hiểm chi ngu

Quỷ động mà bị Nhật phá, chẳng lo gì khi gặp nguy hiểm.

(Nguyên bản sách không có đoạn giải thích cho câu này, chỉ để trống.)

25.

欲決病痊當究福神之動靜 - 要知命盡須詳鬼煞之旺衰

Dục quyết bệnh thuyên đương cứu Phúc thần chi động tĩnh
Yếu tri mệnh tận tu tường Quỷ sát chi vượng suy

Muốn đoán đau lành nên xét động tĩnh của Phúc thần

Muốn hay sống chết cần xem vượng suy nơi Quỷ sát.

Đọc câu này không thể vì lời mà hại nghĩa. Phúc thần với nghĩa hẹp là Tử Tôn mà nghĩa rộng là Nguyên thần. Quỷ sát theo lý thì phải là Kỵ thần mà không là Quan Quỷ. Phàm xem bệnh mà gặp Nguyên thần vượng động thì dù Dụng Thần bị Không phá, phục tàng bệnh cũng có thể lành. Nếu gặp Kỵ thần vượng động thì Dụng Thần có xuất hiện bất Không phá nhưng mệnh cũng đã tận.


Nguồn: Tăng Bổ Bốc Phệ Chính Tông (增補卜筮正宗) – Vương Hồng Tự, bản dịch và chú thích của Vĩnh Cao.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bốc Phệ Chính Tông