Bài tổng quan
Dùng Văn Xương và Kể giờ xem tai họa, cầu quý, bắt kẻ trốn
Một thành trì bị vây, một châu quận mất mùa, một tháng nắng hạn kéo dài, người xưa tin rằng tất cả đã hiện trước trên bàn Thái Ất. Chìa khóa là Văn Xương, ngôi sao đi qua cung nào thì tai họa phát vào tháng ấy. Còn người đi cầu quý, người bị giam, người trốn chạy thì mỗi người lại có một cánh cửa riêng…
Mục lục · 11 phần
- 01Hội ách: tai nạn ứng vào châu quận
- 02Văn Xương chỉ tháng phát tai
- 03Thành trì và các sát của thành
- 04Thần Gián: mỗi vị mang một dáng của năm
- 05Cầu quý nhân: xin yết khi Thiên Mục ở trong
- 06Bắt kẻ phản trốn: Thiên Mục ở trong thì bắt được
- 07Vào tù: nên nhờ người trong quan lại giải cứu
- 08Nghe tin, xem thật hay giả
- 09Người đi xa có về, địch có đến
- 10Vua tuần thú và việc cử người hiền
- 11Trốn lánh và tám cửa theo tám cung
Một thành trì bị vây, một châu quận mất mùa, một tháng nắng hạn bỗng kéo dài, người xưa tin rằng tất cả đều đã hiện trước trên bàn Thái Ất như một lá thư chưa mở. Chìa khóa để đọc là Văn Xương, ngôi sao đi qua cung nào thì tai họa phát vào tháng ấy. Có điều thư ấy chỉ nói đến thế, còn tai họa nặng hay nhẹ lại tùy vào việc thần nào đang chầu bên cạnh Thái Ất.
Hội ách: tai nạn ứng vào châu quận
Hội ách là điểm gặp nhau của những thế xấu ở một nơi và một lúc, và nó ứng vào các châu quận. Muốn biết tai ở tháng nào, người xưa lấy vị thần hợp với năm rồi đặt lên địa chi của tháng đang xét. Khi Văn Xương, thế ếm, thế bách hay Thái Ất rơi vào đâu thì thần ở đó chính là tháng phát tai, đến kỳ thì tai bay đến.
Nếu Văn Xương ếm Thái Ất mà toán hòa thì tai được dịu đi, yên được. Nếu toán không hòa thì hung hại càng nặng. Những người đứng đầu châu quận nên liệu mà phòng bị và kiêng kỵ.
Văn Xương chỉ tháng phát tai
Mỗi tháng có một cánh cửa, và Văn Xương là người gõ vào cánh cửa ấy.
Phép của Thiên Mục, tức Văn Xương, có một lối riêng. Người xưa đặt vị thần hợp với năm lên địa chi của năm, rồi xem Văn Xương rơi vào cung nào. Nơi ấy là tháng phát tai họa. Cung đối xung với nó cũng ứng như vậy. Chẳng hạn Văn Xương ở cung Thìn thì tai phát vào tháng ba, và tháng chín cũng phát nữa.
Muốn biết ngày giờ khởi phát thì lấy vị thần hợp của tháng đặt lên địa chi của tháng, xem Văn Xương tới đâu mà biết ngày phát. Phương đối xung cũng làm như thế. Cũng có cách đoán theo mùa của cả năm. Đặt thần hợp với chi của năm lên ngôi chi của năm. Nếu Văn Xương rơi vào cung dương thì năm có nắng hạn, rơi vào cung âm thì năm có nước lớn. Nếu Văn Xương nằm trên cung của Thái Ất, hoặc ở giữa khoảng cách, ếm, ép, kích, dẫn, cắp, thì vua tôi chẳng cùng một lòng, năm ấy không được mùa. Văn Xương cùng với Thái Ất đứng chung một cung, hoặc gặp cách, tù, ếm, bách, kích, hiệp, đề, thì năm nào gặp thế ấy đều khốn cùng, vua tôi không hợp, khó yên.
Mọi tai ương đều từ Văn Xương mà chỉ ra. Năm dương thì nắng hạn, năm âm thì nước lớn.
Thành trì và các sát của thành
Mỗi thành quách cũng có tai riêng trong năm, và muốn xem phải lần theo hướng đi của các vị thần. Năm dương thì lấy Dương Đức đặt trên chi của năm, năm âm thì lấy Âm Đức đặt trên chi của năm; rồi xem Âm Chủ và Thái Dương ở đâu. Nơi nào dương nhiều thì dễ binh lửa, âm nhiều thì dễ dịch bệnh tàn hại. Sau đó người xưa phân loại thành theo địa chi và dùng các sát để định lành dữ trong tháng.
Với thành thuộc nhóm Tỵ, Dậu, Sửu thì kiếp sát ở Dần, tai sát ở Mão, thiên sát ở Thìn, địa sát ở Tỵ, và Dậu tự hình. Với thành thuộc nhóm Thân, Tý, Thìn thì kiếp sát ở Tỵ, tai sát ở Ngọ, thiên sát ở Mùi, địa sát ở Thân; hình ở phương Đông, Thân hình Dần, Tý hình Mão, còn Thìn thì tự hình.
Với thành thuộc nhóm Dần, Ngọ, Tuất thì kiếp sát ở Hợi, tai sát ở Tý, thiên sát ở Sửu, địa sát ở Dần; hình ở phương Nam, Dần hình Tỵ, Tuất hình Mùi, còn Ngọ thì tự hình. Với thành thuộc nhóm Hợi, Mão, Mùi thì kiếp sát ở Thân, tai sát ở Dậu, thiên sát ở Tuất, địa sát ở Hợi; hình ở phương Bắc, Hợi tự hình, Mão hình Tý, Mùi hình Tuất. Đại Tướng và tướng giữ thành mà cùng gặp những sát ấy trong năm mệnh của mình thì không nên dụng binh, vì dụng binh chẳng ích gì.
Thần Gián: mỗi vị mang một dáng của năm
Mỗi tháng một dáng, và dáng nào cũng có lúc là phúc, có lúc là họa.
Các thần Gián là những vị thần theo các cung của năm mà biến hóa lành dữ. Địa Chủ đứng ở cung Khảm, hành Thủy làm nhuận bên dưới, nên khi dương khởi thì muôn vật tốt tươi như bồng. Đức Dương nuôi vật, ân trao xuống. Khi Đức Hòa đủ và phép tắc xứng thì muôn vật đều thành.
Lã Thân ở cung Dần là đầu của ba dương, trước co lại rồi sau mới duỗi ra, như muôn vật bắt đầu phát sinh. Mưu việc, sửa trị đều dùng ngôi này. Cao Tùng làm muôn sự phát đạt, muôn vật uất lên, sấm đầu đông dậy. Thái Dương hội thì có ách binh qua; tháng Thìn ở ngôi Kiền sấm động, tỏ ra oai trời.
Lục Âm thịnh thì muôn vật tươi tốt. Đại Linh mang hiệu lệnh, việc đến gấp ở cung Thân. Đại Uy chỉnh đốn việc, lẫm liệt và quang minh. Âm Đức và Dương Đức đều mang lệnh cao cả của trời ban hành. Đại Tộc thay đổi, giết mòn. Âm Chủ hội ách thì thêm tang, thêm binh. Vật muốn chết, kiến muốn sinh, nên Vũ Đức đổi dời, đăng trình, chuyển lưu. Còn Đại Nghĩa rơi vào tháng Hợi thì bẻ gãy các mưu mô.
Cầu quý nhân: xin yết khi Thiên Mục ở trong
Có người đến gõ cửa nhà quan để xin việc, và có người bị đóng cửa ngay từ bậc thềm.
Muốn xin yết người quý, cầu tiền cầu của, người xưa xem Thiên Mục ở trong hay ở ngoài. Nếu Thiên Mục ở trong thì nên đi xin yết, vì thăm người tất gặp, cầu gì cũng được. Nếu Thiên Mục ở ngoài thì xin yết không được, thăm người không gặp, điều cầu không toại. Thiên Mục đứng trước Thái Ất thì tính là trong, đứng sau thì tính là ngoài. Trong là trống, ngoài là lẻ loi. Vì thế khi bên chủ cắp bên khách thì không thể xin yết cầu mưu lược, còn khi bên khách cắp bên chủ thì cầu gì cũng được. Chủ ở trong thì được, chủ ở ngoài thì không.
Nếu Văn Xương và Thái Ất cách nhau một khoảng, đơn từ xin yết quý rồi cũng bị cách ly, vì trên dưới đều lìa nhau. Nếu bên chủ gặp thời vượng, người thường đừng đến làm phiền cửa quan, và không nên đến hầu bậc tôn trưởng. Còn nếu Thiên Mục rơi vào số khí tuyệt thì xuân hè là sáu, thu đông là bốn; khi ấy cũng không thể xin yết mà gặp quý nhân. Thiên Mục ở các cung bốn, chín mà Thái Ất ở cung ba đều thuộc ngoài. Thiên Mục ở các cung một, sáu thì gọi là trong.
Bắt kẻ phản trốn: Thiên Mục ở trong thì bắt được
Muốn lùng bắt kẻ phản, người xưa chỉ dùng thời khí của giờ lập quẻ. Nếu bên khách hiệp bên chủ, Thủy Kích ở bên trong, bên chủ và Thái Ất cùng đường thì kẻ trốn tất bị bắt. Nếu Văn Xương rơi vào chỗ ấy thì bắt được dễ như chơi. Nếu bên chủ đề hiệp mà toán bên khách dài, hoặc Văn Xương ở ngoài cõi thì bắt cũng được ngay. Nếu Thái Ất lâm vào thế tính, hiệp, bách thì có trốn cũng lùng bắt được tức thì.
Nhưng nếu phương đi vây bắt gặp vượng tướng thì đi bị người lăng nhục, quay về tay không. Nếu Thủy Kích ếm hay bách vào Thái Ất thì được rồi lại mất, khó mà tìm lại. Nếu Thiên Mục ở ngoài và Thiên Mục, Địa Mục cùng đứng cạnh nhau thì cũng không bắt được. Khi Thái Ất đến cung ép, ếm thì đi tất bắt được. Nhưng nếu nơi vây bắt đang mạnh khá, có khí sống thì không thể đi, đi tất bị sỉ nhục. Người xưa còn dặn: kẻ trốn mà ẩn kín không động thì xem Địa Mục để biết nơi ở. Việc bắt kẻ phản, động quân chúng, lùng đuổi dấu vết thì xem Thiên Mục.
Vào tù: nên nhờ người trong quan lại giải cứu
Khi bị kiện tụng làm quấy rầy, khi phải vào ngục, người xưa cần xem toán giờ để biết các vị thần có hợp với nhau không. Nếu Văn Xương ếm hay bách Thái Ất, bên chủ ở ngoài cõi hay ở gần mà gặp vượng thì nên thưa với người quan lại, vì vào ngục sẽ dễ dãi, cũng có dấu hiệu oan được giải. Nếu bên chủ ở trong mà gặp vượng thì thưa với quan lại, vào ngục thì mọi việc đều không nên.
Khi Thái Ất vừa vào cung thì gọi là gặp nạn vào ngục, việc tất bị lưu trì. Ngày vào cung ấy chính là ngày ngồi tù. Nếu Thái Ất và bên chủ cùng một cung, hoặc Thiên Mục tới, thì vào ngục dễ ra, gặp được bậc quý để giải nạn. Người xưa nói rằng bậc hiền gặp nạn cũng có khi, cho nên Thái Ất mới có thuật cầm tù.
Nghe tin, xem thật hay giả
Muốn biết một việc nghe được là thực hay hư, người xưa nghiệm bằng thời khí của giờ. Nếu Văn Xương, ếm, bách, Thái Ất đều có mặt thì việc lành là dối, việc ác thì phân cao thấp. Nếu cửa đủ, tướng phát, việc cát thì ứng cát, việc hung thì hư không. Nếu Văn Xương ở trong thì lo là có, mừng là không. Nếu Văn Xương ở ngoài thì lo là vắng, mừng thì sinh ra. Nếu sao bên chủ hiệp bên khách thì hung không có, hỷ có. Nếu bên khách hiệp bên chủ thì cát không có, hung có.
Nếu dương trùng thì mừng cũng trùng. Chẳng hạn Thái Ất ở cung ba thì Tham Tướng ở cung chín. Nếu âm trùng thì hung cũng gặp trùng. Chẳng hạn Thái Ất ở cung bảy thì Tham Tướng ở cung một. Khi tính trong ngoài thì phía trước Thái Ất là ngoài, phía sau là trong.
Người đi xa có về, địch có đến
Muốn biết người đi xa sẽ về hay không, hoặc địch sẽ đến hay không, người xưa lấy số dư của toán khách mà xét. Với người đi phương Bắc, nếu số dư là ba, tám, số của phương Bắc, thì không về. Nếu được hai, bảy, số của phương Nam, thì về ngay. Với người đi phương Nam, nếu số dư là hai, bảy thì không về, nếu được ba, tám thì về. Với người đi phương Đông, nếu được bốn, chín thì không về, nếu được một, sáu thì về. Với người đi phương Tây, nếu được một, sáu thì không về, nếu được bốn, chín thì về. Cách này dùng cho cả địch từ bốn phương đến.
Nếu chủ và khách cùng nằm trong một vòng, hoặc bị tù, bị bách thì người ấy loanh quanh không về. Nếu được phát thì về đến ngay. Nếu còn ếm, kích thì dặm khuya dùng dằng. Về ngày thì nếu toán khách dư một, gần là một ngày, xa là mười ngày, rất xa là một trăm ngày. Nếu toán khách được hai mươi ba thì lấy ngày xem là ngày đầu, đến ngày thứ hai mươi hai là đến kỳ về.
Vua tuần thú và việc cử người hiền
Muốn biết nhà vua đi tuần thú các miền thì xem Văn Xương và Thái Ất đứng ở bốn góc nào trong Kể năm: Kiền, Khôn, Cấn, Tốn. Nơi Văn Xương đứng sẽ cho biết phương nào. Nhưng còn tùy số chuyển vận Canh. Thái Ất bị tù, bị bách hay bị cách thì dưới đó là tháng ra đi. Cấn thì ra phương Nam, Kiền ra phương Đông, Tốn ra phương Tây, Khôn ra phương Bắc, cứ theo bốn góc mà tính phương.
Về việc châu quận dâng kế cử người hiền: nếu toán từ mười sáu trở ngược thì cử người tài hiền. Hoặc cửa đủ, toán dài thì cũng cử được. Nếu toán từ mười lăm trở xuống thì cử người hẳn là không đáng.
Trốn lánh và tám cửa theo tám cung
Mỗi cánh cửa mở ra một lối đi riêng, và người xưa đã đặt tên cho lối nào hợp với việc nào.
Muốn trốn lánh thì tìm Thái Ất mà theo, muốn giấu dấu tích thì ngồi vào chỗ của Văn Xương. Làm đúng như lời dặn thì không ai thấy được mình, và nguy sẽ chuyển thành an. Người xưa dặn muốn chạy thoát thì đi qua dưới Thái Ất, muốn ẩn kín thì đi dưới Thiên Mục thì không ai trông thấy.
Tám cửa đứng vào tám cung cũng mang việc riêng. Cửa Khai ở cung Kiền mạnh cường: ra quân thì dựng cờ phô trương, giao chiến, công thành đều oai dương. Cửa Hưu ở cung Khảm: tụ binh phát quân, diễu binh, chiến công đại thắng. Cửa Sinh ở cung Cấn: nhận chức quan, đắp doanh, chiến trận xưa nay việc thành. Cửa Thương ở cung Chấn: săn bắt, đuổi nhanh, đánh thành, úp trận thì công lớn, chỉ có chuyện đổ máu thì nên xa lánh, và việc làm miễn cưỡng thì bao giờ cũng xui.
Cửa Đổ ở cung Tốn: thu quân, phục người, giữ vững thành đợi giặc, nếu tranh hơi thì nên dừng. Ẩn thần, giấu dấu tích, tàng hình thì ra ngoài mê muội, càng thêm ngờ. Cửa Cảnh ở cung Ly: hiến kế dâng thư, dương oai, khích lệ ba quân dưới cờ, phá vây thoát hiểm như thần; giao công thì khó, giữ hòa thì hơn. Cửa Tử ở cung Khôn: việc phúng điếu và chôn cất, giữ thành cao lũy, chiếm đồn thì chẳng nên. Đi xa cần cẩn thận, săn bắn rong ruổi thì gặp miền lưới thưa. Cửa Kinh ở cung Đoài: bắt trộm, chiếm đất khi thành đổ, dấy quân chấn động oai thanh, nhưng đi xa thì đáng sợ, úp thành mới hay.
Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.
