Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Cung Chức Tổng Luận, Sáu Tuyến Và Quan Hệ Nhân Quả Của 12 Cung

Tử Vi Bắc Phái - Nhập môn16/09/202627 phút đọc6 lượt đọc
Cung Chức Tổng Luận, Sáu Tuyến Và Quan Hệ Nhân Quả Của 12 Cung

Mười hai cung chức không chỉ là những cái tên quen thuộc, mà bắt nguồn từ Hà Lạc Dịch lý và được bài bố theo nguyên tắc nhất lục cộng tông, nên mỗi cung đều mang huyền nghĩa vượt khỏi tên gọi thông thường. Từ đó hình thành sáu tuyến: bản cung và đối cung hợp lại như hình với bóng, gồm mệnh di, huynh nô, phu quan, tử điền, tài phúc, phụ tật, mỗi tuyến là quan hệ trong và ngoài, gần và xa. Sâu hơn nữa là quan hệ nhân quả giữa các cung: bản cung và đối cung là nhân quả, cung kế bên là phụ trợ, còn cung tam hợp là duyên phận. Nhờ vậy, cung xấu không phải định mệnh đóng khung, bởi nắm được quan hệ nhân quả thì có thể tìm cách cải sửa từ chính các cung liên quan.


Cung Chức Tổng Luận

Tên gọi 12 cung chức và thứ tự vị trí của chúng đều cố định, thứ tự theo chiều thuận là: cung mệnh, cung phụ mẫu, cung phúc đức, cung điền trạch, cung quan lộc (hay cung sự nghiệp), cung nô bộc (hay cung giao hữu, có phái còn gọi là cung hợp tác), cung thiên di, cung tật ách, cung tài bạch, cung tử nữ, cung phu thê và cung huynh đệ. Trong tính toán hành hạn thuộc hậu thiên, cung chức sẽ dời chuyển theo hai chiều thuận và nghịch, nhưng thứ tự của chúng vẫn vậy, không thay đổi, điểm này khá đặc biệt. Mười hai cung chức tuy bao gồm đủ người, sự việc và vật chung quanh, nhưng không phải chuyện gì cũng đều có tác dụng. Nói cách khác, sự tình trong thực tế rất là phức tạp, chỉ một số sự tình có liên quan đến mệnh lí. Ví dụ như không cách nào căn cứ vào cung phụ mẫu để luận đoán nghề nghiệp, tài vật của cha mẹ, và cha mẹ còn hay mất; hay căn cứ vào cung huynh đệ để xem có bao nhiêu anh chị em cùng sống với mình.

Hoàn cảnh xã hội không ngừng thay đổi, nên nhiều nhà Đẩu Số đã điều chỉnh tên gọi một số cung cho thích hợp với xã hội ngày nay. Thực ra, điều cần thiết là phải hiểu chức năng của 12 cung ở tầng huyền nghĩa, và diễn giải chúng bằng ngôn ngữ hiện đại. Ví dụ như bản chất của cung phúc đức là nguồn tiền tài, cung quan lộc là tinh thần nghiệp, cung nô bộc là chỉ chúng sinh hay người hợp tác trong sự nghiệp, còn cung thiên di đổi lại là tác động của hoàn cảnh bên ngoài. Các cung lục thân cũng đều có huyền nghĩa tượng trưng vượt khỏi ý tượng phổ biến thông thường.

Vì sao Tử Vi Đẩu Số chia làm 12 cung?

Trước tiên thử tìm hiểu tại sao Tử Vi Đẩu Số lại chia làm 12 cung, và nguyên tắc phân chia này do đâu mà có. Theo các danh gia Bắc phái, mười hai cung của Đẩu Số là bắt nguồn từ Hà Lạc Dịch lí: vì Dịch có thái cực, nên sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, thiên địa định vị sau mới phát sinh vạn vật (như tiên thiên bát quái đồ). Thiên địa định vị tức là Kiền Khôn định vị. Căn cứ theo quái lí, Kiền nạp Giáp, Nhâm; Kiền là thiên, Giáp là "1", Nhâm là "9", "1" cộng "9" bằng "10", là 10 thiên can. Khôn nạp Ất, Quý; Khôn là địa, Ất là "2", Quý là "10", "2" cộng "10" bằng "12", là 12 địa chi, cũng tức là 12 cung địa chi.

Kế đến, thứ tự mười hai cung chức của Đẩu Số là dùng nguyên tắc "nhất lục cộng tông" của Hà Đồ và nguyên lí của Dịch truyện "tính toán chuyện đã qua là thuận, biết chuyện tương lai là nghịch, cho nên Dịch là tính toán nghịch" (số vãng giả thuận, tri lai giả nghịch, thị cố Dịch nghịch số dã) để thiết kế thành. Lấy các cung mệnh, tài, quan tam phương làm chủ thể, căn cứ nguyên tắc "nhất lục cộng tông" để thiết định: như cung mệnh là "1" thì cung tật ách là "6"; rồi lấy cung tật ách là "1" thì cung phúc đức là "6"; theo thứ tự đến tài, quan cũng tuân thủ phương thức này. Cho nên thứ tự bài bố 12 cung chức của Đẩu Số không phải tùy ý hình thành, mà còn ẩn chứa cái lí "sinh sôi không ngừng".

Mười hai cung chức trong mệnh bàn của Bắc phái Tử Vi Đẩu Số đã căn cứ quan niệm của thánh nhân thời cổ đại để thiết kế ra, trên thực tế đại khái phân chia thành ba nhóm là người, sự việc và vật. Sáu cung mệnh, huynh, phu, tử, nô, phụ là các cung thuộc về người; ba cung tài, phúc, điền là các cung thuộc về vật, có liên quan đến tài vật; ba cung quan, di, tật là các cung thuộc về sự việc, có liên quan đến sự tình.

Huyền nghĩa của cung quan lộc và cung nô bộc

Ví dụ như cung quan lộc đổi lại gọi là cung sự nghiệp, thuyết này e rằng còn hơi giản lược, về nguyên tắc phải lấy khảo cứu của cổ nhân làm chuẩn. Giai tầng trong xã hội cổ đại là theo thứ tự sĩ, nông, công, thương, cho nên muốn hơn người, trước tiên phải học hành, sau đó đi thi để có công danh, có chức quan mới có bổng lộc; đây là một trong những ý nghĩa của cung quan lộc. Sau khi đi thi có được chức quan, có địa vị, có quyền lực, rồi mới có bổng lộc ổn định; được thăng quan, hay bị điều sang công tác khác, giáng chức, phạm tội, vào tù, v.v... là những cảnh ngộ gặp phải hay kết quả của một đời người. Cho nên bản chất của cung quan lộc là kết cấu quyền lực, bao gồm mức độ nắm quyền điều khiển trong một tổ chức; một khi xảy ra biến động thì sẽ là thăng chức hay giáng chức, là sự nghiệp thăng hay trầm. Cho nên như đã nói, thể hệ của cung quan lộc chính là lấy "sự việc" làm trục chính, có "sự việc" thì có "biến động".

Đứng ở góc độ hiện đại, đây là kết cấu quyền lực, bổng lộc cao thấp, không gian phát huy, có thực quyền hay không, có danh tiếng và chức vị hay không. Dù là đơn vị công hay công ty tư nhân cũng đều luận như vậy. Ngoài ra, cung quan lộc còn là thái độ đối với công việc, sự nghiệp, do đó liên quan đến hình tượng cá nhân, đây là vì mối quan hệ giữa "danh" và "quyền" khó tách rời. Cho nên cung quan lộc đặc biệt mẫn cảm đối với Hóa Quyền và Hóa Khoa.

Cung quan lộc còn luận là cung vị "khí số", bởi vì trong các hành hạn, mệnh, tài, quan muốn phát triển, trước tiên phải có vận tốt mới đắc tài lộc, vì vậy một người có khí số cao hay thấp rất quan hệ với vận thế và sự phát triển tiếp tục sau này.

Nói đến cung nô bộc và cung huynh đệ, đây cũng là một dạng phức tạp, cho nên tuyến "huynh nô" rất là quan trọng. Cung nô bộc là cung vị chúng sinh, cũng là cung "nhất khí sinh tử" của cha mẹ sinh ra ta, dùng để phiếm chỉ những người giao du có lợi cho ta; nghĩa hẹp là chỉ mối quan hệ trên dưới tác động lẫn nhau về lợi ích và liên can đến tai ách cát hung.

Hàm nghĩa của nô bộc là nói: ông là chủ thì tôi là tớ, tôi là chủ thì ông là tớ. Lúc ta là chủ, trong phạm vi nhỏ thì "tớ" là thư kí, tài xế riêng, v.v... mỗi ngày đều có quan hệ rất mật thiết với ta; trong phạm vi lớn thì "tớ" là nhân viên; thảy đều có quan hệ với ta bằng nhân tố tiền bạc, họ là những người phụ làm ra tiền cho ta tiêu xài. Ở nhà thì "tớ" là người làm thuê, bà vú, gia sư, v.v... bởi vì mỗi ngày đều có quan hệ với ta bằng nhân tố tiền bạc. Nếu là nhân viên nghiệp vụ, lương cơ bản rất ít thậm chí không có, cần phải dựa vào hoa hồng, tiền thưởng, cần phải tìm khách hàng, bán sản phẩm; vì khách hàng và mình có quan hệ chủ khách trong vấn đề lợi ích tiền bạc, nên đều thuộc cung nô bộc.

Hoặc giả thường xuyên ra vào thị trường cổ phiếu, bởi vì xảy ra mối quan hệ lợi ích tiền bạc với rất nhiều người, cho nên ngoài cung tài bạch, còn phải xem cung nô bộc. Hoặc lúc xảy ra sự cố giao thông, hay làm ăn lỗ vốn, cơ thể không bị thương, nhưng lại sản sinh quan hệ tiền bạc với chúng sinh; bị cướp lúc đi trên đường, tổn thất tiền bạc, cũng xem ở cung nô bộc.

Cung nô bộc còn gọi là cung vị "tuyệt tình", là cung vị mấu chốt để xem tuổi thọ. Về mệnh lí, phàm Hóa Kị nhập tuyến "huynh nô" tức là đã vào tuyến phân chia ranh giới cát hung. Kết quả của việc có mối quan hệ với tuyến này không phải là cơ thể có vấn đề, mà là tổn tài, hao tài. Do đó nó là cung vị rất trọng tâm, chỉ luận là cung hợp tác thì không những quá hẹp, mà còn mất đi nội hàm chức năng vốn có của nó.

Do đó có thể biết, mỗi một cung chức đều bao hàm nhiều ý nghĩa khác nhau, sao có thể mang cung quan lộc đổi lại thành cung sự nghiệp, mang cung nô bộc đổi thành cung hợp tác?

Hàm nghĩa tổng quát của cung chức

Trong mệnh bàn Tử Vi Đẩu Số tổng cộng có 12 cung chức, các cung chức ứng dụng liên động với nhau, có thể luận cả cuộc đời của chủ nhân mệnh bàn; phàm là sinh, lão, bệnh, tử, sự nghiệp, tiền tài, hôn nhân, gia đình, bạn bè, phúc phận dày mỏng thế nào... đều được biểu thị trong 12 cung chức, hầu như mọi thứ gặp phải trong cuộc đời không có gì là không bao gồm.

Mười hai cung chức mỗi cung đều có thể tự lập thái cực để "chuyển hoán cung vị", như lấy cung phu thê lập thái cực, thì cung quan lộc là cung vị thiên di của phu thê. Đây là khái niệm hoạt bàn chuyển hoán.

Mười hai cung chức bày ra ổn định là tiên thiên tịnh bàn (mệnh bàn nguyên cục), nhưng lúc vào một đại vận nào đó, thì lấy hạn này làm cung mệnh của đại vận, rồi bày bố theo chiều nghịch mười hai cung chức. Đây cũng là một khái niệm chuyển hoán hoạt bàn.

Các yếu tố cấu tạo thành Đẩu Số là: sao (tinh diệu) + cung chức + cung vị + tứ hóa + thiên can + địa chi. Nếu chỉ lấy các sao để luận đoán thì chỉ có 144 mệnh bàn cơ bản, trùng điệp quá lớn, làm sao phân biệt ý nghĩa có tính cá nhân hóa? Nhưng nếu thêm vào khái niệm hoạt bàn của cung chức thì biến ảo vô cùng, lại thêm tứ hóa xuất nhập vãng lai, và hàm nghĩa của can chi trong cung, thì thật là hoàn chỉnh.

Dưới đây là tóm tắt một số hàm nghĩa tổng quát của cung chức:

  • Mười hai cung chức đại biểu cho 12 phương diện, 12 lịch trình, và cũng là 12 nhân duyên của đời người.
  • Mười hai cung chức tự có tính logic của chúng, tức là nói, tam hợp "mệnh, tài, quan" là tuyến chủ đạo về tiền tài, sự nghiệp của một đời người; tuyến tam hợp "thê, di, phúc" là chủ về hôn nhân, v.v...
  • Cung A (là "1") đếm nghịch đến cung thứ 9 theo thứ tự 12 cung chức, đó là cung vị "khí số" của cung A, tức là cung vị quan lộc của cung A. Cung vị "khí số" là đại biểu cho định số chưa đến và sẽ đến, ngầm báo tình hình biến hóa cát hung trong tương lai của cung này. Ví dụ, lúc cung tài bạch lập thái cực là cung vị "1", đếm nghịch đến cung vị thứ "9" là cung mệnh, đây là cung vị "khí số" của cung tài bạch; số của hai cung này gộp lại thành "10", "10" là số ngũ hành cuối cùng, nhìn biểu hiện của chúng có thể biết được tình hình cát hung của cung lập cực. Cung vị "khí số" của cung A, đối với cung A mà nói, có thể dùng để quan sát khí phát ra từ cung A; đây là cung dự báo cát hung biến hóa trong tương lai. Cho nên lúc cung mệnh là cung vị "khí số" của cung tài bạch, tiền bạc biến hóa cát hung thế nào đều có thể thấy được từ cung mệnh. Vì vậy, có thể xem vận tiền bạc của mệnh tạo cao hay thấp, và tình trạng chi xuất thế nào từ cung mệnh. Phàm cung tam hợp của một cung nào đó đều là cung vị "khí số" của nhau: như trường hợp cung mệnh, cung tài bạch và cung quan lộc là tam hợp, cung vị "khí số" của cung mệnh là cung quan lộc, cung vị "khí số" của cung quan lộc là cung tài bạch, cung vị "khí số" của cung tài bạch là cung mệnh; còn trường hợp cung huynh đệ, cung tật ách và cung điền trạch là tam hợp, cung vị "khí số" của cung huynh đệ là cung điền trạch, cung vị "khí số" của cung điền trạch là cung tật ách, cung vị "khí số" của cung tật ách là cung huynh đệ.
  • Cung đếm nghịch đến 8 theo thứ tự 12 cung chức là cung vị "tuyệt tình". Cung vị "tuyệt tình" là nơi mà các hạng mục sự tình do cung chức này chủ quản sẽ biến đổi, hay biến mất hoàn toàn.
  • Cung đếm nghịch đến 6 theo thứ tự 12 cung chức là cung vị tật ách. "Cung vị tật ách" là bản thể của cung chức này sở tại; Hà Đồ nói "nhất lục cộng tông". Cho nên cung thứ 6 đếm nghịch trong các cung là "thể", cung thứ 8 đếm nghịch trong các cung là "biến". Cung X là cung vị tật ách của "ta", thì "ta" cũng là cung vị "tuyệt tình" của cung X.
  • Mười hai cung chức chia ra thành bản cung và đối cung, như cung mệnh là bản cung thì cung thiên di là đối cung, ngược lại cũng vậy; bản cung và đối cung hợp lại thành một thái cực hoàn chỉnh. Do 12 cung chia ra thành cặp bản cung và đối cung, cho nên đơn giản hóa thành 6 tuyến, như tuyến "mệnh di", tuyến "huynh nô", tuyến "phu quan", tuyến "tử điền".
  • Mười hai cung chức gồm sáu cung dương và sáu cung âm, để phân biệt động tĩnh, hiện ẩn.
  • Mười hai cung chức chia ra "lục nội cung" và "lục ngoại cung". Sáu cung nội và sáu cung ngoại dùng để luận được mất, cát hung, tụ tán của bản thân và tha nhân. Sáu cung nội là cung mệnh, cung tài bạch, cung tật ách, cung quan lộc, cung điền trạch, cung phúc đức. Sáu cung ngoại là cung huynh đệ, cung phu thê, cung tử nữ, cung thiên di, cung nô bộc, cung phụ mẫu.
  • Mười hai cung chức chia ra "lục thân cung" và "lục sự cung". Lục sự và lục thân dùng để phân biệt "người" (nhân) và "việc" (sự). Lục sự cung là cung tài bạch, cung tật ách, cung thiên di, cung quan lộc, cung điền trạch, cung phúc đức; lục thân cung là cung mệnh, cung huynh đệ, cung phu thê, cung tử nữ, cung nô bộc, cung phụ mẫu.
  • Mười hai cung chức chia ra "lục thể cung" và "lục dụng cung". Lục thể và lục dụng dùng để luận động tĩnh, hư thực, hiện ẩn. Lục thể cung là cung mệnh, cung phu thê, cung tật ách, cung điền trạch, cung phúc đức, cung phụ mẫu; lục dụng cung là cung huynh đệ, cung tử nữ, cung tài bạch, cung thiên di, cung quan lộc, cung nô bộc.
  • Mười hai cung chức chia ra "hôn nhân lục chính vị" và "hôn nhân lục bất chính vị". "Hôn nhân lục chính vị" là hôn nhân đã thành cục diện. Hôn nhân lục chính vị là cung mệnh, cung phu thê, cung tài bạch, cung tật ách, cung nô bộc, cung điền trạch; các cung còn lại thuộc hôn nhân lục bất chính vị.

Chức năng riêng của mỗi cung và tác dụng của tứ hóa

Đã có tư tưởng và động cơ (cung phúc đức), mới biểu đạt ở hình thể (cung mệnh), rồi thể hiện ở lời nói và hành vi (cung tài bạch). Nhưng động cơ tư tưởng chắc chắn hay mong manh, trong sáng hay ô trọc, cao quý hay xấu xa, có lòng tự tin hay chán nản thất chí, nghiêm túc hay phô diễn, v.v... là do tổ hợp sao ở cung quan lộc quyết định. Động cơ tư tưởng trước khi thể hiện ở lời nói và hành vi là do các sao ở cung phúc đức biểu thị, còn hành vi biểu hiện thì tìm hiểu ở cung tài bạch. Lấy một học sinh để làm ví dụ: tri thức của trẻ là tích chứa trong cung tật ách, khí chất văn nhã dịu dàng của trẻ là do các sao của cung mệnh biểu thị, còn động lực học hành là do các sao trong cung quan lộc phát động, nhưng thành tích tốt hay xấu thì căn cứ các sao ở cung tài bạch để luận đoán.

Mỗi một cung trong Tử Vi Đẩu Số đều có chức năng đặc biệt của nó, tức là mỗi một cung đều có công dụng riêng. Lúc sao nào đó Hóa Quyền, có thể dựa vào tính cố hữu của sao để triển khai hoạt động tích cực, vì Hóa Quyền là thuộc hỏa, mà tính hỏa là thiêu đốt bốc lên, cho nên lực tác động của Hóa Quyền có thể nói là động lực nâng lên. Lấy Thiên Đồng Hóa Quyền tọa thủ cung mệnh làm ví dụ: nó sẽ thay đổi một số tập tính lười biếng chỉ nói mà không làm của Thiên Đồng, cũng sẽ cải thiện tâm trạng đa sầu đa cảm, do dự, thiếu quyết đoán của nó. Vì vậy, người có Thiên Đồng Hóa Quyền tọa thủ cung mệnh tuy vẫn đa sầu đa cảm, nhưng có thể nhờ hành động tạo tác thực tế để thoát khỏi tính "lười biếng", còn có thể vận dụng cảm xúc một cách hiệu quả để nâng cao hình tượng và vị trí xã hội của họ, có thể làm chuyển biến tính tiêu cực như do dự, thiếu quyết đoán thành năng lực phán đoán có tầm nhìn hướng tới tương lai.

Tứ hóa, bất luận là Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hay Hóa Kị, lúc nhập cung mệnh đều sẽ khiến quan niệm "ngã chấp" của mệnh tạo càng nặng thêm. Ngay cả Hóa Kị, cũng vì cầu được "lợi ngã" mà "thu vào" bản thân. Lại lấy Thiên Đồng Hóa Kị thủ mệnh để làm ví dụ: ngũ hành của Thiên Đồng thuộc thủy, về bản chất là chủ về "trí", vì Nhâm thủy là dương thủy, là "quang minh lỗi lạc", nhưng Hóa Kị lại khiến Thiên Đồng thủy trở thành âm hàn, khiến tính chất "đa sầu đa cảm" thành tiêu cực hơn, u ám bất minh, cũng sẽ khiến tính "do dự, thiếu quyết đoán" diễn biến thành tính hay lo lắng, thậm chí là tính hay buồn rầu, tự dày vò.

Giả thiết lúc Thiên Đồng Hóa Quyền rơi vào cung tật ách, có thể dựa vào chức năng của cung tật ách để giải thích Thiên Đồng Hóa Quyền. Cung tật ách trước khi phân biệt "thể dụng" là trí lực, là nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn, và cũng là nơi có thể tiềm phục bệnh tật; tức là nói, không cách nào dựa vào biểu hiện bề ngoài để phán đoán phần "nội tại thâm sâu" này, vì vậy cách giải đoán Thiên Đồng Hóa Quyền ở cung tật ách sẽ khác với trường hợp Thiên Đồng Hóa Quyền ở cung mệnh. Nhưng có thể lấy "tư tưởng" để định vị tác dụng của tứ hóa ở cung tật ách, ý tượng chính: người này là tư tưởng gia. Trong mệnh bàn, mỗi một "hóa" trong tứ hóa năm sinh chỉ có một; trong đó bất cứ loại "hóa" nào rơi vào cung tật ách đều giống như đang ẩn mình dưới đáy hồ; nhưng cung tật ách không phải là không có lúc nổi lên mặt nước, vì đại vận bàn (địa bàn) sẽ theo thời gian mà chuyển động.

Trong Đẩu Số, xem về cách kiếm tiền là phải quan sát các sao ở cung tài bạch (bao gồm chính tinh, cát tinh, phụ tinh, hung tinh) để định đoạt; còn cách tiêu xài tiền và tiền đi đâu hay tiêu tiền vào việc gì thì phải xem tổng hợp các sao ở cung tài bạch và cung tử nữ mà định. Trong tình huống chỉ xem xét đơn thuần về "tiền bạc", nếu Tử Vi độc tọa hay tổ hợp song tinh Tử Vi xuất hiện ở cung tử nữ, đây có thể là mang phần lớn số tiền kiếm được chỉ dùng vào việc nuôi dưỡng con cái, thái độ khá đúng đắn. Nếu lấy quan niệm so sánh và quy chiếu để giải đoán, đây là có ý thức mạnh mẽ mong con cái thành tài; trong đó cũng có khuynh hướng tiêu nhiều tiền, vì Tử Vi là "lão đại" trong các sao!

Sáu Tuyến Của 12 Cung Chức

Âm dương nhất thể, bản cung và đối cung hợp thành một tuyến. Trong Bắc phái Tử Vi Đẩu Số, mệnh bàn lấy bản cung và đối cung xem thành một tuyến; mười hai cung có thể tạo thành sáu tuyến, gọi là: tuyến "mệnh di", tuyến "huynh nô", tuyến "phu quan", tuyến "tử điền", tuyến "tài phúc", tuyến "phụ tật".

Mỗi một tuyến của hai cung đều là quan hệ đối chiếu âm dương, còn là quan hệ đối ứng "nội" (gần) và "ngoại" (xa).

Cung mệnh là nhân tố nội bộ, bản nhân, hiện tại và tình huống bản địa; cung thiên di là không gian xã hội của hoạt động ngoại bộ, tương lai và tình huống ngoại địa. Cung mệnh mạnh hơn cung thiên di thì nên phát triển ở bản địa; cung thiên di mạnh hơn cung mệnh thì nên phát triển ở ngoại địa.

Cung huynh đệ chủ yếu là quan hệ anh em của nội bộ gia đình, quan hệ giữa người với người thời kì còn trẻ. Cung nô bộc là quan hệ bạn bè của ngoại bộ, quan hệ giữa người với người hoặc kết quả khai triển trong tương lai.

Cung phu thê là sự nghiệp gần đây của nội bộ. Cung quan lộc là sự nghiệp tương lai của ngoại bộ; cung phu thê không tốt cũng sẽ ảnh hưởng đến sự nghiệp của bản thân.

Cung tử nữ là thân cận của con cái, cung điền trạch là tương lai của con cái (cũng là con cháu); cung điền trạch không tốt thì khó được con cháu tốt (dương trạch chủ yếu quyết định tình hình tốt hay xấu và thành hay bại của con cháu, âm trạch chủ yếu quyết định tính cách và địa vị của con cháu).

Cung tài bạch là "tình trạng tiền bạc hiện tại", "tình trạng tiền bạc ở gần"; cung phúc đức là "tình trạng tiền bạc ở xa", tình trạng sử dụng nguồn tiền tài và sau khi được tài lộc. Cung tài bạch không tốt thì không có cơ sở để hưởng thụ vật chất; cung phúc đức không tốt thì ảnh hưởng đến nguồn tiền tài.

Cung tật ách là tố chất cơ thể của mệnh tạo, tố chất cơ thể chịu ảnh hưởng di truyền của cung phụ mẫu.

Hai cung đối nhau cùng tuyến có quan hệ khá mật thiết, có thể chiếu ứng nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, ràng buộc lẫn nhau, kiềm chế lẫn nhau, như hình với bóng. Bản cung không tốt mà đối cung tốt thì có thể được bổ cứu. Nếu bản cung và đối cung đều không tốt thì không cách nào bổ cứu, đến đại vận hoặc lưu niên gặp lúc cung hạn này có sao Hóa Kị thì rất dễ xảy ra hung sự.

Bản cung và đối cung có thể là quan hệ nhân quả của nhau. Ví dụ như cung tử nữ không tốt sẽ có liên quan đến vấn đề điền trạch, còn cung điền trạch không tốt thì sẽ có ảnh hưởng xấu đến con cháu; cho nên người có cung tử nữ không tốt nên sửa đổi phong thủy của nhà ở và của mộ tổ để cải thiện. Cung phụ mẫu không tốt sẽ tạo thành di truyền không tốt đến cơ thể của mệnh tạo; nếu cung tật ách không tốt thì dễ sinh bệnh, làm cho cha mẹ lo lắng, hao tài. Cung tài bạch không tốt thì không có tiền bạc để hưởng thụ, tinh thần sẽ khổ não; nếu cung phúc đức không tốt thì nguồn tiền tài ít, ảnh hưởng đến mức thu nhập tiền bạc. Cho nên lúc xem bản cung, cần phải chú ý xem thêm đối cung.

Ý nghĩa chủ yếu và tác dụng của mỗi một tuyến cung như sau:

Tuyến "mệnh di"

Là tuyến sinh mệnh, tuyến hoạt động; phần nhiều có liên quan đến hình tượng và hoạt động của bản thân. Cung mệnh là "ta", cung thiên di biểu thị hoàn cảnh bên ngoài của "ta".

Tuyến "huynh nô"

Là tuyến thành tựu, tuyến tiêu xài, tuyến trợ lực, tuyến tình cảm; phần nhiều có liên quan đến tình hình trợ lực và tình huống tiêu xài chi xuất; là "tứ hải giai huynh đệ".

Tuyến "phu quan"

Là tuyến sự nghiệp, tuyến yêu đương, tuyến hôn nhân; có liên quan nhiều đến sự nghiệp và hôn nhân. Lúc luận giải cung phu thê thì cung quan lộc là biểu trưng cho duyên ở bên ngoài; còn lúc luận giải cung quan lộc thì cung phu thê là biểu trưng cho việc làm ở cơ quan.

Tuyến "tử điền"

Là tuyến đào hoa, tuyến giải trí, tuyến "kho tiền" (tài khố); có liên quan nhiều đến xu hướng tiêu khiển, giải trí và tình hình tích tụ của "kho tiền". Luận giải cung tử nữ là biểu trưng cho sự nghiệp hợp tác, còn luận giải cung điền trạch là biểu trưng cho nơi hợp tác làm ăn, nơi làm việc hoặc công xưởng; luận về cung điền trạch và cung tử nữ là biểu trưng cho tình trạng sau khi thành gia thất, có con cái.

Tuyến "tài phúc"

Là tuyến tiền bạc, tuyến sở thích; có liên quan nhiều đến tình hình tiền bạc và tình trạng hưởng thụ những điều yêu thích. Luận về cung phúc đức là biểu trưng cho quả báo của kiếp này, còn cung tài bạch là biểu trưng cho hành vi tạo tác của đời này.

Tuyến "phụ tật"

Là tuyến danh tiếng, tuyến đầu não; có liên quan nhiều đến văn thư, học lực, di truyền, tài trí, tiếng tăm, bệnh tật. Cha mẹ là cơ sở của một người, vì vậy cũng là nền tảng của phú quý; sinh hoạt lúc tuổi còn nhỏ có quan hệ rất lớn với cha mẹ. Luận về cung phụ mẫu thì cung tật ách biểu thị cho cơ thể của "ta", là sự kéo dài sinh mệnh của cha mẹ; luận về cung tật ách thì cung phụ mẫu biểu thị cho diện mạo được di truyền từ cha mẹ.

Quan Hệ Nhân Quả Của Cung Chức

Trong mệnh bàn Đẩu Số, các cung được phân chia theo mối quan hệ giữa chúng với nhau như sau: "bản cung", "đối cung", "cung kế cận" và "cung tam hợp".

Trong đó, "bản cung" và "đối cung" là mối quan hệ giữa "nhân" và "quả"; "bản cung" và "cung kế cận" là mối quan hệ "phụ trợ"; còn "bản cung" và "cung tam hợp" là mối quan hệ "duyên gặp phận".

Về phương diện vận dụng trong thực tế, người xưa cho rằng nếu nắm được nguyên tắc nhân quả của cung chức thì có thể cải sửa tình trạng của một số sự vật. Ví dụ như:

Quan hệ nhân quả giữa cung tử nữ và cung điền trạch

Nếu cung tử nữ không tốt, có thể dùng phong thủy nhà ở, mộ tổ để bổ cứu. Kế đến, cung điền trạch, cung huynh đệ và cung tật ách là cung tam hợp, cho nên phong thủy nhà ở sẽ gián tiếp ảnh hưởng đến họa phúc, sức khỏe của bản thân và anh em máu mủ.

Quan hệ nhân quả giữa cung phu thê và cung quan lộc

Nếu cung phu thê không tốt, giải pháp là nên chậm kết hôn. Hoàn cảnh thời gian và không gian biến đổi, xưa và nay khác nhau, nhưng nhìn từ góc độ xã hội, đàn ông kết hôn muộn thông thường về phương diện sự nghiệp là khá có thành tựu. Ngoài ra, về quan hệ giữa cung quan lộc với cung tam hợp: cung quan lộc là chủ về sự nghiệp, thân phận, địa vị; còn cung mệnh là chủ về tính cách, hành vi của bản thân; cung tài bạch là tình trạng kiếm tiền và cơ sở kinh tế. Do đó người có cung quan lộc tốt thông thường đều có thể thu hoạch được thành tựu tốt, có địa vị xã hội, hoặc có cơ sở kinh tế, tầm nhìn cũng khá cao, cho nên lúc chọn lựa một nửa kia của mình tất nhiên phải thận trọng; vì muốn duy trì thân phận và địa vị nên sau khi kết hôn cũng khó li hôn.

Về nữ mệnh, nếu cung phu thê không tốt, có thể mang tinh thần kí thác vào sự nghiệp, làm quý tộc độc thân hoặc phụ nữ thành đạt, không cần phải chịu đựng khổ sở vì gia đình, hoặc vì quan hệ hôn nhân mà phải biến thành con nhộng tằm trong tổ kén.

Quan hệ nhân quả giữa cung tật ách và cung phụ mẫu

Sức khỏe là di truyền từ thể chất của cha mẹ, tai ách là nghiệp báo của hành động ác và hành động thiện của tổ tiên. Cung phụ mẫu và cung tử nữ là cung tam hợp, cho nên sẽ ảnh hưởng đến đời sau. Ngoài ra, cung tật ách với cung điền trạch, cung huynh đệ là cung tam hợp, cho nên nếu cơ thể không khỏe, có thể xem xét các phương diện ở cung điền trạch (hoàn cảnh vệ sinh, bệnh viện) và cung huynh đệ (bạn bè chia nhau đảm trách công việc, đề nghị hoặc giới thiệu thầy thuốc giỏi trị bệnh) để tiến hành cải thiện.

Tử Vi Đẩu Số tuy là một loại thuật số cổ xưa, nhưng theo đà tiến bộ của xã hội đã không ngừng phát triển và hoàn thiện; con người có thể thông qua tri thức mệnh lí có liên quan để dự đoán tình hình cát hung họa phúc của đời người, từ đó hiểu được tiềm năng của bản thân, tiến thêm một bước là chiếu theo nguyện vọng của bản thân mà lập kế hoạch một cách có lí tính cho cuộc đời của mình. Đây mới là yếu chỉ chân chính của việc nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn