Bài tổng quan
Phương Pháp Luận Đoán Cung Vô Chính Diệu Và Các Mệnh Cách Vô Chính Diệu
Vô không có nghĩa là không có gì, mà là chứa vô hạn biến số, và đó là chìa khóa để luận cung vô chính diệu, chỗ dễ gây lúng túng nhất. Lối quen thuộc là mượn sao ở đối cung làm dụng, nhưng Tứ Hóa Phái không theo cách ấy, vì ngã cung và tha cung vốn khác thể chế. Thay vào đó, cung mệnh vô chính diệu phải lấy cung tật ách làm dụng. Từ nguyên tắc này, các mệnh cách vô chính diệu cụ thể được xét ở Sửu Mùi, Mão Dậu, Dần Thân, với những đối cung như Thiên Đồng Cự Môn, Thái Dương Thiên Lương, Thái Dương Cự Môn, Thiên Cơ Cự Môn, kèm nhận xét về tính tình và hôn nhân của từng cách. Nghịch lý nằm ở đây: cung trống sao lại là cung chứa nhiều biến số nhất.
Phương Pháp Luận Đoán Cung Vô Chính Diệu
Ý nghĩa của cung vô chính diệu cũng là "có", cũng là một hình thái "tồn tại", nhưng rốt cuộc thì nó "tồn tại" cái gì? "Có" cái gì? Đây là đề tài rất có ý nghĩa để nghiên cứu tìm hiểu. Cung vô chính diệu trong mệnh bàn của ông A và cung vô chính diệu trong mệnh bàn của ông B, tuy đều là "vô", nhưng tính chất của chữ "vô" này, hoặc nói đơn giản hơn là ý tượng của chữ "vô" này, lại có thể không giống nhau. Cho nên đừng cho rằng chữ "vô" này là "bản lai vô nhất vật", mà là có khả năng "tồn tại" nhiều vô hạn, tức "vô" là "hữu", là "có".
Cung là biểu trưng của không gian, đã là không gian thì sẽ có lớn nhỏ khác nhau; cho nên gọi là cung vô chính diệu là có khả năng tồn tại rất nhiều hiện tượng, có tốt, có xấu, có lợi, có hại; hoặc khác nhau về mức độ, có tốt nhiều, tốt ít, xấu nhiều, xấu ít, v.v... Trong cái tốt còn có sự phân biệt lợi cho mình hay lợi cho người khác; trong cái xấu cũng vậy, cũng có sự phân biệt hại cho mình hay hại cho người khác.
Sở dĩ cung không có chính tinh tọa thủ, đó là vì "cần phải như vậy", cũng có nghĩa là không có đối tượng cụ thể. Nói "không có" không có nghĩa là "hoàn toàn không có", mà là nói "tạm thời có thể xảy ra rất nhiều hiện tượng". Những hiện tượng này không phải là hư vô, mà là mơ hồ, thoạt có thoạt không; nhưng có thể rất mãnh liệt, đương sự có sự chấp trước nhất thời, còn có thể khá kiên trì; lại vì "có thể xảy ra rất nhiều hiện tượng", nên không thể vài ba lời mà miêu tả toàn bộ hiện tượng xảy ra trong cung vô chính diệu.
Trường hợp cung không có chính tinh tọa thủ có thể là cung mệnh, cung tài bạch, cung phu thê... Muốn luận đoán xu hướng vận thế của trường hợp cung vô chính diệu, người luận phải có bản lãnh.
Vì sao không mượn sao ở đối cung làm dụng?
Thông thường các nhà Đẩu Số thuộc Nam phái (Tam Hợp phái) đều luôn nhấn mạnh việc mượn sao ở đối cung làm dụng, nhưng trong thực tế thường thường sẽ thấy không phù hợp hoàn toàn với thực tế; vì đối cung là cung có tác động trực tiếp, có ảnh hưởng rất lớn đối với bản cung, tuy bản cung ít nhiều thì hình ảnh của các sao ở đối cung cũng ánh xạ lên bản cung, nhưng vẫn không thể nào thay thế hoàn toàn cho bản cung được.
Theo quan điểm của Bắc phái (Tứ Hóa phái), mỗi một cung vị trong mệnh bàn đều có sứ mệnh và chức trách khác nhau, chúng có tính quan trọng ngang với cung mệnh; dù là cung vô chính diệu, nó cũng có ý nghĩa tồn tại.
Vậy nếu cung tài bạch hay cung quan lộc không có chính tinh, thì sẽ xuất hiện hiện tượng gì? Giả thiết cung tật ách vô chính diệu, thì phải luận giải như thế nào? Xin đừng quên, cung tật ách là "ngã cung", đối cung của nó là cung phụ mẫu, là "tha cung", thuộc thể chế khác, không thể mượn các sao ở cung phụ mẫu làm "dụng"; cũng không được tính chuyện lấy cung vị tật ách của cung tật ách (tức cung phúc đức của thiên bàn) để lấp vào khoảng trống; cũng không thể căn cứ các sao ở cung mệnh để giải đoán mệnh bàn.
Trên thực tế, cung vô chính diệu trong mệnh bàn Tử Vi Đẩu Số có hàm ý cực kì quan trọng. Mỗi một cung vô chính diệu đều đã chứa rất nhiều thông tin về các hiện tượng của sinh mệnh, không cần vay mượn sao để giải thích.
Lại lấy cung mệnh vô chính diệu để thuyết minh: cần biết cung vô chính diệu không chỉ có một loại, dù là cung mệnh vô chính diệu cũng có năm loại kết cấu khác nhau, cho nên khi luận đoán cung vô chính diệu phải tính đến sự tồn tại của cục ngũ hành, không được bỏ qua. Có thuyết nói người có mệnh vô chính diệu không có chủ kiến, dễ bị ảnh hưởng người khác, nhất là từ cha mẹ và anh em. Kiến giải này không đứng vững, bởi vì thông thường người tọa mệnh không có chính tinh phần nhiều có quan hệ với cha mẹ và anh em không được gần gũi cho lắm.
Tứ Hóa phái mang 12 cung của mệnh bàn chia thành hai nhóm "ngã cung" và "tha cung", nên không có lí do gì mượn các sao khác thể chế nhập cung vô chính diệu. Xin nhắc lại, các sao ở "tha cung" phải so sánh và quy chiếu về các sao ở cung mệnh; nếu mượn "hình phú" của các sao ở "tha cung" để luận giải cung mệnh thì không có so sánh và quy chiếu. Người cung mệnh không có chính tinh, lúc bình thường họ rất trầm tĩnh, vững vàng; lúc không cần thiết, nhất định họ không bao giờ làm cho mình nổi bật, nên thường được đánh giá là người thâm trầm, khó hiểu.
Trong lí luận của Tứ Hóa phái có sự phân biệt "thể dụng", lấy góc độ "thể dụng" để phân tích cung vô chính diệu. Cung thiên di làm "thể", các sao ở "thể" này cũng là "thể"; sao ở trong các "thể" khác nhau sẽ có công năng riêng trong từng "thể" khác nhau này. Những công năng này là thuộc về phạm trù "dụng". Các sao ở cung thiên di có công năng riêng của chúng đối với mệnh vận, cho nên không thể mượn nó làm "dụng" cho cung mệnh; vì làm vậy thì cái "dụng" của cung thiên di sẽ tính thế nào? Đây là chỗ hạn chế của thuyết "mượn sao an cung".
Cũng theo lí luận của Tứ Hóa phái, cung mệnh và cung tật ách là "nhất thể lưỡng diện"; cung mệnh là chủ về tính hiện ở bên ngoài, còn cung tật ách là chủ về tính ẩn ở bên trong. Cung tật ách còn là nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn, vì vậy người cung mệnh không có chính tinh, "tự ngã" của họ sẽ có nhiều cơ hội để trầm tư phản tỉnh. Do biểu hiện của cung mệnh bị ảnh hưởng kiềm chế của cung tật ách (cung vị có tính ẩn), nên lúc bình thường sẽ không làm cho bản thân nổi bật, vì vậy mới dễ bị hiểu lầm thành "âm u".
Trong tình huống định cung thiên di một nửa là "ngã cung", một nửa là "tha cung", nếu đúng là có thể mượn các sao của đối cung làm "dụng", thì cũng chỉ có thể mượn được phần thuộc "ngã cung"! Huống hồ là không thể mượn các sao của đối cung (cung thiên di) làm dụng cho bản cung (cung mệnh), vì cung vô chính diệu cũng có ý nghĩa quan trọng của nó, và bản thân các sao ở đối cung cũng có tác động đối với cung mệnh (vô chính diệu). Người cung mệnh vô chính diệu, lúc không bức thiết thường thường họ sẽ không phát biểu cao xa làm gì, nhất là trước mặt người lạ. Các sao ở cung thiên di có sức ảnh hưởng rất lớn đối với cung mệnh, đó là biểu hiện sự "dịch động", ứng nghiệm ở mệnh tạo là tinh thần theo đuổi lí tưởng; chí ít so với người cung mệnh có chính tinh, thì họ không bao giờ đùn đẩy trách nhiệm cho người khác.
Vậy muốn luận giải ý tượng của cung vô chính diệu, phải căn cứ yếu tố nào? Đó là các sao khác (phụ tinh, hung tinh... trong cung mệnh) và hiện tượng can cung mệnh phi hóa; chỉ có vậy mới luận giải được hình tượng thật sự của bản thân mệnh tạo. Nói đến đây, phải xem tứ hóa năm sinh là tứ hóa tiên thiên, còn cung mệnh phi tứ hóa là tứ hóa hậu thiên.
Một người phải có tổ hợp sao (cung mệnh) thế nào đó mới có được trình độ tri thức và trí tuệ (cung quan lộc) cao sâu tương ứng, và mới có được biểu hiện lời nói cử chỉ (cung tài bạch) như vậy; đây là nhờ tứ hóa năm sinh và các sao như Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, v.v... được can cung phi hóa điều tiết, mới miêu tả được quỹ tích mệnh vận hoàn toàn khác nhau của từng người.
Thuộc tính tinh thần của tứ hóa sẽ hiện rõ hơn, nhất là lúc chúng nhập vào các sao có thuộc tính ngũ hành khác nhau, chúng sẽ kích thích hóa và làm mạnh thêm lực tác động của các sao. Lấy Tham Lang làm ví dụ: Tham Lang ngũ hành thuộc mộc, còn kèm khí thủy, tính chất "thủy sinh mộc" có thể đốc thúc bản lãnh của Tham Lang thêm lớn mạnh. Lúc Tham Lang Hóa Lộc, khí mộc sẽ không còn hành động theo kiểu không có mục tiêu, đó là vì khí kim của Hóa Lộc có tác động "uốn nắn" đối với khí mộc. Cho nên tứ hóa rất cần thiết trong việc điều chỉnh bản thân, nó khiến cho Tham Lang mộc vạch ra mục tiêu để theo đuổi. Nhưng Hóa Lộc cũng sẽ khiến cho khí thủy trong Tham Lang được kích thích hóa mà có biểu hiện tốt, mở cánh cửa trí tuệ cho Tham Lang; một lực tác động khác là làm giàu thêm cảm tính do khí thủy mang lại.
Cung Tí vô chính diệu và năm cục ngũ hành
Trước khi thảo luận tiếp về "cung vô chính diệu", nhất định phải biết rõ ý nghĩa của "cung vô chính diệu". Mỗi một sao tọa lạc trong cung, nếu không thích đáng hoặc không phù hợp với yêu cầu của hoàn cảnh cung vị, vậy phải lấy hiện tượng tự hóa và phi hóa để phản ứng điều chỉnh. Lấy trường hợp ông A tọa mệnh ở cung Tí làm ví dụ (chỉ có trường hợp Tử Vi, Thất Sát cùng tọa thủ ở cung Hợi, thì cung Tí mới vô chính diệu), ý tượng của cung vô chính diệu này chí ít cũng có hình thái riêng của nó. Tức là trong điều kiện cung Tí là Giản Hạ Thủy, Phích Lịch Hỏa, Bích Thượng Thổ, Tang Đố Mộc hay Hải Trung Kim, thì đối cung của nó (ở Ngọ) sẽ đối ứng theo thứ tự là Lộ Bàng Thổ, Dương Liễu Mộc, Sa Trung Kim, Thiên Hà Thủy hay Ốc Thượng Thổ (dựa vào can cung để định nạp âm 60 Hoa Giáp). (Xem hình 1)
| Nô bộc Tị Thiên Phủ | Thiên di Ngọ Thiên Đồng Thái Âm | Tật ách Mùi Vũ Khúc Tham Lang | Tài bạch Thân Thái Dương Cự Môn |
| Quan lộc Thìn Vô chính diệu | Tử nữ Dậu Thiên Tướng | ||
| Điền trạch Mão Liêm Trinh Phá Quân | Phu thê Tuất Thiên Cơ Thiên Lương | ||
| Phúc đức Dần Vô chính diệu | Phụ mẫu Sửu Vô chính diệu | Mệnh Tí Vô chính diệu | Huynh đệ Hợi Tử Vi Thất Sát |
Lúc cung Tí vô chính diệu, đối cung của nó nhất định là tổ hợp tinh hệ "Thiên Đồng, Thái Âm"; lấy cung tự hóa để thuyết minh, can cung là Canh Ngọ, Bính Ngọ, Mậu Ngọ thì nhất định sẽ khiến Thiên Đồng hoặc Thái Âm tự hóa; tức là, sau khi Thiên Đồng hay Thái Âm tự hóa mới có hiện tượng "sống" ở cung Ngọ. Một hay một nhóm sao phải có "tự hóa" mới thể hiện được tính chất của chúng, và thích ứng với điều kiện của cung vị để phát huy công dụng của chúng. Ví dụ, người sinh năm Bính, Mậu hay sinh năm Đinh, Kỉ, ở cung Ngọ sẽ xuất hiện Kình Dương hoặc Lộc Tồn; huống hồ còn có tứ hóa năm sinh, như: năm Ất (Thái Âm Hóa Kị), năm Bính (Thiên Đồng Hóa Lộc), năm Đinh (Thái Âm Hóa Lộc, Thiên Đồng Hóa Quyền), năm Mậu (Thái Âm Hóa Quyền), năm Canh (Thái Âm Hóa Khoa, Thiên Đồng Hóa Kị), năm Quý (Thái Âm Hóa Khoa). Có tứ hóa nhập Thiên Đồng hay Thái Âm. Nếu được phép mượn sao để an cung, thì người cung mệnh vô chính diệu sẽ có nhiều lực tác dụng của tứ hóa hơn các cung mệnh của những mệnh bàn bình thường khác, như vậy tình hình sẽ rối tung lên! Vì mỗi một sao lúc hành hạn đến đều có công năng của riêng nó ở cung đó, không thể kiêm vai trò ở cung khác. Cho nên ở mệnh và vận đều không thể "mượn sao".
Người cung mệnh vô chính diệu, lúc bình thường không bao giờ đề cao hay đánh bóng bản thân; nhất là khi ở trong hoàn cảnh xa lạ, họ có dáng vẻ trầm mặc, nhưng không có nghĩa là họ không có chủ kiến. Do đối cung (cung thiên di) là đại biểu cho ý thức về hoàn cảnh bên ngoài của họ, tiếp thu "ý kiến của người khác" ở cung thiên di là Thiên Đồng, Thái Âm; còn Thiên Phủ là con đường trước khi vào cung quan lộc để tiêu hóa, mà cung quan lộc cũng vô chính diệu, tức chủ về không có ý kiến, không biểu đạt những kiến giải của bản thân; ứng nghiệm trong thực tế có thể họ không có phản ứng theo kiểu nhất thời, nếu có ý kiến hay có phản ứng thì phải sau một thời gian chuyện đã xảy ra. Người cung mệnh vô chính diệu, sau khi đã hình thành định kiến của mình sẽ rất khó thay đổi, đó là vì cung mệnh không có chính tinh để tiếp thu, để có phản ứng và biểu đạt kịp thời. Thông thường, người cung mệnh vô chính diệu ở Tí hoặc Ngọ, Thìn hoặc Tuất, Dần hoặc Thân, thường chịu ảnh hưởng rất nặng của cha mẹ, những hành vi của cha mẹ sẽ trở thành mẫu mực để họ học tập. Còn người cung mệnh vô chính diệu ở các cung vị khác, sau khi lớn lên thường ngầm phê bình, bất mãn, hoặc có thái độ chống đối cha mẹ.
Ngay cả người thủ mệnh ở cung Tí là cung vô chính diệu cũng đã có 5 điều kiện khác nhau tác động đến hoàn cảnh sinh tồn, đó là vì có 5 cục ngũ hành khác nhau. Các cung chức vô chính diệu khác cũng có biểu trưng riêng của nó; từ những cách phân loại có tính khái quát cũng đã nhìn ra sự khác biệt một cách rõ rệt, vì vậy không có lí do gì để mượn các sao ở đối cung làm "dụng".
Cung mệnh vô chính diệu qua các đại vận
Muốn nghiên cứu Bắc phái Tử Vi Đẩu Số, cần phải tốn thời gian nghiên cứu để hiểu rõ ý nghĩa thực sự của các cung. Trường hợp cung mệnh vô chính diệu là ý tượng: trong đại vận đó, trong nhà sẽ xảy ra biến động về kinh tế (có phân biệt tốt xấu), cũng có thể trong đại vận thứ nhất cả nhà xảy ra tình huống dời chuyển.
Cung thiên di là "đại vũ trụ", là thế giới lí tưởng trong lòng của mệnh tạo, mà cũng có thể là hoàn cảnh trước mắt, nhưng không phải mệnh tạo khắc phục được hoặc chạm tới được, đây là do ảnh hưởng của nhân tố bên ngoài. Giả thiết cung thiên di tọa sao Hóa Kị năm sinh, theo thời gian sẽ có cơ hội xâm phạm mệnh tạo; nếu mượn sao an cung, vậy chẳng khác nào dẫn sói vào nhà? Theo nguyên lí "nhất lục cộng tông", cung mệnh là ngoài, còn cung tật ách là trong; cho nên gặp trường hợp cung mệnh vô chính diệu, nhất định phải lấy các sao ở cung tật ách làm dụng. Vì, một là, cung tật ách và cung mệnh cùng là "ngã cung", mà còn có quan hệ "nhất lục cộng tông"; hai là, cung thiên di không phải là "ngã cung" hoàn toàn, mà là đại thiên thế giới trước mắt mệnh tạo.
Một cao thủ Bắc phái Tử Vi Đẩu Số đã bình luận trường hợp cung mệnh vô chính diệu như sau:
- Sẽ chịu ảnh hưởng của nhân tố bên ngoài mà thành định kiến; về cách nhìn sự việc, một khi đã thành tâm chứng, sẽ cố chấp dị thường.
- Một đời "dịch động" hoặc có nhiều cơ hội đi công tác xa.
- Quan hệ giữa mệnh tạo với song thân hay với anh em hơi có chút không hợp nhau, gần nhau rất nhanh mà xa nhau cũng rất nhanh, giữa hai bên khó có ý kiến tương đồng.
Ví dụ như, cung mệnh là cung vô chính diệu, đại vận của âm nam dương nữ đi theo hướng nghịch chiều kim đồng hồ, lúc đến đại vận thứ tư, cung mệnh của nguyên cục sẽ thành cung điền trạch của đại vận (còn cung mệnh của đại vận ở vị trí cung tử nữ của nguyên cục). Trong tình huống này, sự kiện có thể xảy ra trong đại vận này sẽ không dính gì đến gia nghiệp, mà có thể vì chuyện học hành, cưới gả, công tác, hoặc là ra nước ngoài định cư. Đây là dự đoán chỉ đơn thuần căn cứ tình hình vận hành của cung mà liên tưởng một số hiện tượng có thể xảy ra.
Lúc cung mệnh không có chính tinh, nhất định sẽ bị ảnh hưởng của các sao ở cung thiên di mà sinh ra hiện tượng "dịch động". Chính tinh tọa thủ cung thiên di càng lớn, thì lực khơi động càng lớn. Căn cứ vào đây có thể suy đoán cuộc đời của mệnh tạo có vận "dịch động" khá mạnh. Trong đại vận thứ tư, cung mệnh của nguyên cục biến thành cung điền trạch của đại vận; muốn giải thích biến số của cung mệnh (nguyên cục) thành biến số của cung điền trạch (đại vận), không phải là không thể. Trong đại vận này chỉ cần can cung đại vận khiến tứ hóa nhập cung thiên di của nguyên cục, như vậy các hiện tượng như ra thuê nhà ở riêng, hoặc mua nhà khác, xuất ngoại đi công tác, đi du học, di dân, v.v... có thể thành lập. Phương thức tính toán biến số của cung vô chính diệu cực kì thú vị. Nếu cung thiên di của nguyên cục có tứ hóa năm sinh, như vậy ví dụ kể trên rất có thể xảy ra tình huống đi xa trong đại vận thứ ba, không cần đợi đến đại vận thứ tư.
Sau khi kết hôn sẽ thành người phối ngẫu ở trong cung phúc đức của đại vận; trường hợp cung mệnh vô chính diệu là ý tượng: người phối ngẫu sau khi kết hôn chuyện gì cũng không dám làm chủ, nên trước khi làm gì, người phối ngẫu chọn chủ trương là rất có thể mình sẽ bị chỉ trích hay bị trách tội; những hứng thú, sở thích hay thị hiếu trước kia, sau khi kết hôn rất có thể sẽ không còn. Vì vậy trường hợp cung mệnh vô chính diệu, nếu là người đã kết hôn, nên nhắc nhở bản thân phải tôn trọng người phối ngẫu. Nếu không, rất có thể sẽ làm cho người phối ngẫu sống mà không biết phải làm gì, hoặc bỏ những hứng thú, sở thích, thị hiếu trước kia để điều chỉnh thân tâm. Như vậy, lúc sống chung là không được tự do!
Lúc cung huynh đệ vô chính diệu, về lí thuyết có thể mượn các sao ở đối cung (cung nô bộc) làm dụng, vì cùng là "tha cung"; nhưng lại có tình huống không cách nào dùng, hoặc không cần, hoặc vốn không mượn được. Thông thường cung huynh đệ vô chính diệu, mặc dù duyên với người khác giới khá tốt, nhưng muốn kết hôn thường thường sẽ rất khó. Người cung huynh đệ vô chính diệu, dù đối tượng của họ ở gần kề, cũng giống như cách xa vạn dặm, vì mệnh tạo không tìm được cách bắt chuyện hay tiếp cận, dù có cũng không dám làm. Thậm chí tệ hơn là, mặc dù đã suy nghĩ mọi cách để được gần gũi, cũng chỉ có thể đưa mắt nhìn, ngay cả giải an ủi cũng không được.
So sánh hai mệnh bàn A và B
Giả thiết mệnh bàn A, cung mệnh tọa Mùi, là cung vô chính diệu, còn cung thiên di thấy "Thái Dương, Thái Âm" tọa thủ (xem hình 2); còn mệnh bàn B, cung mệnh tọa Sửu, có "Thái Dương, Thái Âm" tọa thủ, còn cung thiên di vô chính diệu (xem hình 3).
| Phu thê Tị Thiên Lương | Huynh đệ Ngọ Thất Sát | Mệnh Mùi Vô chính diệu | Phụ mẫu Thân Liêm Trinh |
| Tử nữ Thìn Tử Vi Thiên Tướng | Phúc đức Dậu Vô chính diệu | ||
| Tài bạch Mão Thiên Cơ Cự Môn | Điền trạch Tuất Phá Quân | ||
| Tật ách Dần Tham Lang | Thiên di Sửu Thái Dương Thái Âm | Nô bộc Tí Vũ Khúc Thiên Phủ | Quan lộc Hợi Thiên Đồng |
| Quan lộc Tị Thiên Lương | Nô bộc Ngọ Thất Sát | Thiên di Mùi Vô chính diệu | Tật ách Thân Liêm Trinh |
| Điền trạch Thìn Tử Vi Thiên Tướng | Tài bạch Dậu Vô chính diệu | ||
| Phúc đức Mão Thiên Cơ Cự Môn | Tử nữ Tuất Phá Quân | ||
| Phụ mẫu Dần Tham Lang | Mệnh Sửu Thái Dương Thái Âm | Huynh đệ Tí Vũ Khúc Thiên Phủ | Phu thê Hợi Thiên Đồng |
Lấy mệnh bàn A làm ví dụ, cung quan lộc có Thiên Đồng là đại biểu cho khí tiết, trí tuệ, tri thức của ông A; cũng có thể nói đây là bản chất tinh thần của ông A. Còn ông B, cung quan lộc là Thiên Lương. Thiên Đồng là sao có tính thủy, thiên nặng cảm tính, tùy hứng, có phong thái văn nhã, bầu không khí nghệ thuật; còn ngũ hành của Thiên Lương là thuộc thổ, là cố chấp, xem trọng nguyên tắc, lí tính, thực dụng. Lấy Thiên Đồng làm quan điểm chủ yếu để thành hình cung mệnh vô chính diệu, sẽ bộc lộ cá tính khác nhau với trường hợp của ông B, lấy Thiên Lương làm quan điểm chủ yếu mà thành hình là Thái Dương, Thái Âm tọa thủ cung mệnh.
Cung thiên di của ông A thấy "Thái Dương, Thái Âm", có lực dịch động khá mạnh; còn cung thiên di của ông B là cung vô chính diệu, đã thiếu lực dịch động, còn thiếu cả phương hướng và mục tiêu cụ thể để phấn đấu. Ngoài ra, phương thức biểu hiện của hai cung tài bạch (cung vị giao dịch) cũng khác nhau. Ông A là "Thiên Cơ, Cự Môn" tọa thủ cung tài bạch, tính chất công việc của nó liên quan với "Thiên Cơ, Cự Môn". Còn khuynh hướng công việc của ông B là tham mưu, phụ tá, lập kế hoạch, hoặc giống như người viết kịch bản, thao túng ở hậu trường; tính chất công việc của nó thay đổi với biên độ lớn (thường là không áp dụng được những điều đã học); hơn nữa, nguy cơ thất nghiệp hoặc ở nhà chờ việc cũng lớn hơn nhiều so với ông A.
"Hi vọng có được...", "có thể trở thành...", hoặc "hướng đến..., nhắm đến..." là cách giải thích ứng dụng cho trường hợp cung vô chính diệu mượn sao của đối cung làm "dụng", vậy mới hợp với định nghĩa, chớ không phải bê nguyên xi tính chất của các sao ở đối cung cho vào cung vô chính diệu. Nói cho cùng, cung vô chính diệu không phải là "vô" hoàn toàn, mà nó tồn tại rất nhiều biến số và có thể uốn nắn. Nói một cách khác, cung vô chính diệu sẽ bị các sao ở đối cung gây ảnh hưởng mà sinh ra tính mô phỏng giả tạo ít hoặc nhiều; đây cũng là lí do mà các nhà Đẩu Số Nam phái có thuyết mượn sao an cung.
Giả thiết có một mệnh bàn, cung tử nữ của nó là cung vô chính diệu, vậy cung tử nữ sẽ thấy đầy biến số, nhưng không thể vì thấy vô chính diệu mà đoán là không có con cái (nếu cung tử nữ của người phối ngẫu khá vượng thịnh, vậy đoán không có con cái là quá đường đột). Tạm để sang một bên không bàn vấn đề cung tử nữ, chỉ xem xét đơn thuần quỹ tích biểu đạt tình cảm từ cung mệnh đến cung tài bạch, có thể do cung vô chính diệu không xác định mà sinh ra mơ hồ, và cũng sẽ khiến người phối ngẫu không cách nào thông qua con đường "đương nhiên" này để hiểu rõ mệnh tạo (xin đừng cho rằng con đường để người phối ngẫu hiểu mệnh tạo là từ cung huynh đệ đến cung mệnh, mà phải là từ cung tử nữ đến cung tài bạch; tuy cung tài bạch không phải là cung mệnh, nhưng mệnh, tài, quan là "nhất thể tam diện"...; một cá nhân thường không thật sự hiểu rõ về bản thân mình, huống hồ là người phối ngẫu!).
Từ cung tài bạch theo hướng thuận chiều kim đồng hồ đến cung điền trạch chủ về gia sản, cũng sẽ gặp cung tử nữ mơ hồ này. Đó là ý tượng gì? Không bằng lòng nội dung trong đó? Không muốn? Hoặc không còn cách nào khác? Phải làm cho người phối ngẫu biết rõ mức độ chi dụng tiền bạc, cũng có thể xảy ra tình trạng phải cung cấp tiền bạc cho con cái sử dụng lâu dài. Xét từ xu hướng tình cảm (đi theo hướng nghịch chiều kim đồng hồ), đó không có ý nói mệnh tạo quan tâm con cái; mức độ nhiều ít và phương thức quan tâm cũng thiếu tính lâu dài (do không có chính tinh). Nhưng còn có loại tính chất "vô" nào khác tồn tại trong cung tử nữ vô chính diệu không? Đây cũng là đề tài rất có ý nghĩa và thú vị đáng để xem xét tìm hiểu, vì phải hiểu với mức độ khá về tính chất biến số của cung vô chính diệu, mới giúp ích cho việc phân tích toàn mệnh bàn.
Các Mệnh Cách Vô Chính Diệu
Như đã thuật ở trên, lúc trong mệnh bàn xuất hiện cung vô chính diệu, không phải mượn sao của đối cung để luận giải một cách đơn giản như vậy, bởi vì các sao phân bố ở 12 cung chức đều có ý nghĩa đặc biệt của nó. Lúc cung phu thê không có chính tinh, thường thường có tượng về hôn nhân không được thuận lợi toại ý, hoặc không được lí tưởng; còn người cung mệnh vô chính diệu thì khó xử sự với người nhà một cách thân mật, thường vô tình tạo ra khoảng cách; trong đời sống hôn nhân cũng thấy hiện tượng khó dung hợp, đây không phải vì lời nguyền rủa của ma quỷ, mà là do cá tính khiến như vậy. Người cung mệnh vô chính diệu khá kín đáo, không thích bàn chuyện của mình với người khác, có lúc kiên định, chủ quan, có lúc chùn lại, sợ việc, dễ bị hoàn cảnh bên ngoài gây ảnh hưởng, cho nên tâm trạng dễ lên xuống thất thường; nhưng ưu điểm của họ là không để cho những tình trạng này kéo dài làm tác nhân chủ đạo bản thân. Muốn luận đoán xu hướng vận thế của cung vô chính diệu phải có chút bản lãnh mới có thể tìm ra lời giải đoán chính xác.
Cung mệnh vô chính diệu ở Sửu hoặc Mùi, đối cung là Thiên Đồng, Cự Môn
Nội tâm chất chứa nhiều điều khó nói, thường phải đối diện với hoàn cảnh mờ ám, cho nên lòng hoài nghi càng đậm; thêm vào đó là sự chấp trước không chịu nói rõ kiến giải của mình, khiến người khác cảm thấy họ là người thâm trầm. Nhưng thực ra, tâm tính của họ khá lỗi lạc, không hiểm độc, còn có thể có địa vị trong xã hội; hơn nữa, họ rất có duyên với người khác giới, nhưng lại khó thành thân, vì ngoài công việc, họ không giỏi biểu đạt tâm sự của mình, nên thường có hiện tượng kết hôn muộn; khi đã thành thân, người phối ngẫu cũng khó đột phá tâm lí phòng thủ của họ, vì vậy trong đời sống hôn nhân thường thường giống như có một tấm màng mỏng ngăn cách. Đối tượng hôn nhân của họ thường là chênh lệch nhiều về tuổi tác; nơi sinh ra của hai người rất cách xa nhau. Nhưng đây không phải là những điều kiện khiến cho tình cảm vợ chồng dung hợp. (Xem hình 4)
| Quan lộc Tị Thái Âm | Nô bộc Ngọ Tham Lang | Thiên di Mùi Thiên Đồng Cự Môn | Tật ách Thân Vũ Khúc Thiên Tướng |
| Điền trạch Thìn Thiên Phủ Liêm Trinh | Tài bạch Dậu Thái Dương Thiên Lương | ||
| Phúc đức Mão Vô chính diệu | Tử nữ Tuất Thất Sát | ||
| Phụ mẫu Dần Phá Quân | Mệnh Sửu Vô chính diệu | Huynh đệ Tí Tử Vi | Phu thê Hợi Thiên Cơ |
Cung mệnh vô chính diệu ở Mão hoặc Dậu, đối cung là Thái Dương, Thiên Lương
Cung phu thê vô chính diệu; đối tượng hôn phối trong kết cấu này tuy khá ưu tú, nhưng giữa hai người có thể vì thiếu giao lưu với nhau nên dễ gây ra hiểu lầm. Do đó, những người sinh năm 1964, 1974, 1984 phần nhiều mối tình đầu sẽ rất đau lòng; còn những người sinh năm 1965, 1975, 1985, tuy bề ngoài thấy họ rất đàng hoàng, đoan trang, nhưng tính khí lại không ổn định, còn vì có hiện tượng "dịch động" với tần suất cao, vợ chồng thiếu thời gian ở bên nhau, nên phải cố gắng lắm mới khiến cho đời sống hôn nhân hòa hợp, nhưng cũng dễ thấy bóng dáng người thứ ba trong gia đình này! (Xem hình 5)
| Phúc đức Tị Thái Âm | Điền trạch Ngọ Tham Lang | Quan lộc Mùi Thiên Đồng Cự Môn | Nô bộc Thân Vũ Khúc Thiên Tướng |
| Phụ mẫu Thìn Thiên Phủ Liêm Trinh | Thiên di Dậu Thái Dương Thiên Lương | ||
| Mệnh Mão Vô chính diệu | Tật ách Tuất Thất Sát | ||
| Huynh đệ Dần Phá Quân | Phu thê Sửu Vô chính diệu | Tử nữ Tí Tử Vi | Tài bạch Hợi Thiên Cơ |
Cung mệnh vô chính diệu ở Dần hoặc Thân, đối cung là Thái Dương, Cự Môn
| Tử nữ Tị Tử Vi Thất Sát | Phu thê Ngọ Vô chính diệu | Huynh đệ Mùi Vô chính diệu | Mệnh Thân Vô chính diệu |
| Tài bạch Thìn Thiên Cơ Thiên Lương | Phụ mẫu Dậu Phá Quân Liêm Trinh | ||
| Tật ách Mão Thiên Tướng | Phúc đức Tuất Vô chính diệu | ||
| Thiên di Dần Thái Dương Cự Môn | Nô bộc Sửu Vũ Khúc Tham Lang | Quan lộc Tí Thiên Đồng Thái Âm | Điền trạch Hợi Thiên Phủ |
Thông thường trường hợp cung mệnh và cung phu thê đều vô chính diệu, mà cung phúc đức cũng vô chính diệu, sẽ dễ có hiện tượng ở chung như vợ chồng mà không kết hôn. Có thể gia cảnh của mệnh tạo không tệ nhưng trong gia đình có vấn đề phức tạp, mà hoàn cảnh gia đình của người phối ngẫu cũng không đơn thuần, cho nên hai người có thể chỉ ở chung như vợ chồng mà không kết hôn. Nếu cung phúc đức thấy Văn Xương, Văn Khúc thì sẽ phá được tình trạng này; nhưng nếu cung phúc đức vô chính diệu mà có Tả Phụ hoặc Hữu Bật tọa thủ, thì giai đoạn đầu của hôn nhân sẽ gặp trở lực rồi mới bước vào thuận cảnh, nhưng phần lớn những ngày tháng hòa hợp là đã ở mối tình thứ hai rồi.
Cung mệnh vô chính diệu ở Mão hoặc Dậu, đối cung là Thiên Cơ, Cự Môn
| Phúc đức Tị Thiên Đồng | Điền trạch Ngọ Thiên Phủ Vũ Khúc | Quan lộc Mùi Thái Dương Thái Âm | Nô bộc Thân Tham Lang |
| Phụ mẫu Thìn Phá Quân | Thiên di Dậu Thiên Cơ Cự Môn | ||
| Mệnh Mão Vô chính diệu | Tật ách Tuất Tử Vi Thiên Tướng | ||
| Huynh đệ Dần Liêm Trinh | Phu thê Sửu Vô chính diệu | Tử nữ Tí Thất Sát | Tài bạch Hợi Thiên Lương |
Nhân tố hoàn cảnh bên ngoài có sức ảnh hưởng rất lớn đối với mệnh tạo; nếu mệnh tạo không có hoài bão chí lớn thì cũng là người cơ trí thao lược, sẽ nắm tay người bạn đời cùng bước trên thảm đỏ; họ cũng là người xông xáo và có thể thành tựu, nhưng hôn nhân thường đến muộn hoặc nhiều khổ sở, vì thông thường vợ chồng có va chạm mới sống với nhau lâu dài. Những người sinh năm 1956, 1966, 1976, 1986 sẽ bị bậc trưởng bối trong nhà gây trở ngại rất lớn; đối tượng hôn nhân của những người sinh năm 1953, 1963, 1973 hoặc 1954, 1964, 1974 thường thường là đã trải qua chuyện yêu đương hoặc hôn nhân trắc trở; còn những người sinh năm 1958, 1968, 1978, trong đời sống hôn nhân sẽ có nước mắt pha lẫn với nụ cười, hoặc để duy trì hôn nhân mà gượng cười, nhưng khó thổ lộ điều thầm kín này với người ngoài.
Cung phu thê vô chính diệu nhưng có Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh, còn cung tử nữ có chính tinh
Trong cuộc đời mệnh tạo nhất định sẽ có kết hôn, nhưng đối tượng hôn nhân không thể làm bạn đời đến già; phần nhiều sau khi chia tay, mệnh tạo còn trải qua nhiều lần duyên khởi duyên diệt cay đắng ngọt bùi!
Hành hạn lưu niên đến cung phu thê của đại vận là cung vô chính diệu
Bất luận mệnh tạo đã kết hôn hay đang có tình nhân, cũng nên đề cao cảnh giác tình trạng hôn nhân hay sinh hoạt tình cảm của mình, bởi vì cung vô chính diệu thường thường có ý tượng sẽ xảy ra sự kiện không bình thường, có thể là tình huống gần nhau thì ít mà xa nhau thì nhiều, hoặc tình cảm thay đổi. Nếu mệnh tạo chưa kết hôn, thì phải rất nỗ lực mới có cơ hội thành thân!
Cung mệnh và cung phu thê đều vô chính diệu, chỉ có Tả Phụ, Hữu Bật chia ra ở hai cung này
Quan hệ vợ chồng khó thành lập, nhưng có thể có hiện tượng ở chung như vợ chồng mà không kết hôn; thời gian có lâu dài hay không thì phải xem kết cấu của mệnh bàn mà định.
Người cung mệnh, cung phu thê hoặc cung phúc đức là cung vô chính diệu, biến số tình cảm sẽ lớn hoặc nhiều hơn người khác. Những phụ tinh, cát tinh, hung sát có thể làm thay đổi cục diện mệnh vận, cũng như đối tượng tình cảm của họ. Trong trường hợp này chuyện tình cảm của họ phần nhiều sẽ chuyển biến theo chiều hướng xấu hơn, cần phải xem kết cấu toàn cục mới có thể biết rõ chân tướng!
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)
