Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Vận hạn phi tinh

Bài tổng quan

Luận đoán đại vận: Tứ Hóa nhập ngã cung và tha cung

Tử Vi Bắc Phái - Vận hạn phi tinh20/09/202615 phút đọc5 lượt đọc
Luận đoán đại vận: Tứ Hóa nhập ngã cung và tha cung

Mười năm đại vận là địa bàn chồng lên thiên bàn nguyên cục, và mọi tác động của tứ hóa đại vận đều mang nghĩa dụng xung thể. Lộc Kị đại vận rơi vào ngã cung hay tha cung, phát xuất từ cung nào, trùng điệp với cung chức nào, sẽ định mười năm ấy là tích lũy hay trả giá. Vì sao cùng đi đến hạn Vũ Khúc, Thất Sát ở cung Mão mà người huy hoàng, kẻ đổ vỡ?


CỨ MỖI MƯỜI NĂM LÀ MỘT ĐẠI VẬN, MỘT GIAI ĐOẠN LỚN TRONG MỆNH VẬN CỦA ĐỜI NGƯỜI. Có người khởi vận từ 3 tuổi đến 13 tuổi, có người từ 5 tuổi đến 15 tuổi; thời điểm khởi vận của mỗi cá nhân mỗi khác. Các sự kiện của một đời người không thể chỉ căn cứ vào một năm nào đó mà đoán ra, vì mỗi sự kiện đều có tính liên tục của nó. Bởi vậy Tử Vi Đẩu Số dùng hệ thống đại vận để quan sát các giai đoạn diễn biến của mệnh vận.

Trong đời người có mấy đại vận quan trọng, thường là thời kì then chốt xảy ra các sự kiện trọng đại. Vì thời gian đại vận khá dài và liên tục, nên có thể dựa vào đó mà luận rõ toàn thể quỹ tích vận hành của một người; còn lưu niên là một loạt quá trình ứng nghiệm trong từng năm của đại vận ấy. Phải xét cả hai mới nắm được xác thực toàn bộ diện mạo của mệnh vận.

Vận Dụng Tứ Hóa Đại Vận

Theo Tứ Hóa phái, mệnh bàn nguyên cục gọi là "thiên bàn", đại vận bàn gọi là "địa bàn". Lúc tính toán vận trình, lấy thiên bàn làm "thể", địa bàn làm "dụng". Bước vào mỗi đại vận, lấy tổ hợp tam phương của mệnh bàn nguyên cục làm bản thể, lấy tổ hợp sao của đại vận làm tâm cảnh. Trong phép luận những biến động thăng trầm, bộ phận tối quan trọng là quan hệ thể dụng giữa tứ hóa đại vận với thiên bàn. Có ba phép cơ bản.

Tứ hóa đại vận nhập "ngã cung" và "tha cung" của thiên bàn

Hóa Lộc và Hóa Kị năm sinh đều ở "ngã cung" là tình huống "thu vào" hợp lí; đều ở "tha cung" là "thu vào" không thỏa đáng. Tứ hóa đại vận nhập thiên bàn cũng vậy. Cung đại vận đại biểu cho cung mệnh của lúc đó, cũng là "ngã cung" của lúc đó.

Lúc Hóa Lộc và Hóa Kị đại vận nhập "ngã cung" của thiên bàn, ý tượng là có giúp ích cho tuyến cung ấy, cuộc sống của mệnh tạo có thể tăng trưởng. Lúc chúng nhập "tha cung" của thiên bàn, đó là chỉ hướng hành vi nỗ lực trong hiện tại, mà xét theo tuyến cung ấy thì bất lợi cho bản thân. Bởi lẽ Hóa Lộc nhập "tha cung" thì Hóa Kị nhập "ngã cung" sẽ gây tiêu hao; còn Hóa Kị nhập "tha cung" thì ắt xung kích "ngã cung" mà gây tổn thất. Hai loại tổn hại này là "dụng" hậu thiên tác động lên "thể" tiên thiên, cho nên đều để lại di chứng lâu dài.

Tứ hóa đại vận nhập "ngã cung" và "tha cung" của địa bàn

Lúc Hóa Lộc và Hóa Kị đại vận phi nhập "ngã cung" của địa bàn, ý tượng là trong 10 năm này phần nhiều lí tưởng và kì vọng đều thuận lợi toại ý. Có điều, nếu chúng đồng thời nhập "tha cung" của thiên bàn, thì sau khi 10 năm qua đi, nỗi buồn lo thầm kín và di chứng phía sau cũng sẽ xuất hiện.

Lúc Hóa Lộc và Hóa Kị đại vận nhập địa bàn không đúng vị trí, ý tượng là hướng nỗ lực và kì vọng hiện tại khiến đương sự chịu áp lực rất lớn. Nhưng nếu chúng nhập "ngã cung" của thiên bàn, thì tuy 10 năm này gian khổ, rốt cuộc, theo ý tượng của tuyến cung ấy mà nói, địa vị xã hội sẽ được nâng cao, hoặc tích lũy được thực lực thâm hậu.

Cung địa bàn trùng điệp với cung thiên bàn

Mười hai cung của địa bàn trùng điệp lên 12 cung của thiên bàn; tác động của tứ hóa đại vận chủ về cát hung trong 10 năm ấy, và liên quan nhiều đến cung của thiên bàn mà nó chồng lên. Ví dụ Hóa Kị đại vận nhập cung tử nữ của đại vận thì ắt xung kích cung điền trạch của đại vận. Ý tượng của sự xung kích này có thể là: trong đại vận sẽ xảy ra vấn đề về sức khỏe; hoặc những khoản đầu tư trong 10 năm ấy chưa thấy thu hoạch.

Giả dụ lúc này cung tử nữ của đại vận trùng điệp với cung tật ách của thiên bàn, hoặc Hóa Quyền nhập cung điền trạch của thiên bàn. Do ý tượng của hai cung trùng điệp và ý tượng của Hóa Quyền nhập cung điền trạch, sự ứng nghiệm thường xuất hiện ở cung trùng điệp ấy; có thể đoán định sự kiện xảy ra sẽ liên quan đến vấn đề sức khỏe và cách chữa trị.

Mọi ảnh hưởng của tứ hóa đại vận đều là "dụng xung thể"

Ba phép trên là cách vận dụng cơ bản của tứ hóa đại vận. Cần biết rằng ảnh hưởng do tứ hóa đại vận gây ra đều có ý nghĩa "dụng xung thể"; nắm vững các phép tắc ấy mới phân tích được ảnh hưởng của đại vận đối với mệnh bàn nguyên cục.

Ví như Hóa Kị đại vận nhập cung thiên di của thiên bàn và xung kích cung mệnh của thiên bàn. Vì xung kích cung mệnh của thiên bàn, nên bất luận Hóa Lộc đại vận nhập cung nào, sự xung kích này nhất định mãnh liệt hơn Hóa Kị xung kích cung mệnh của địa bàn; hơn nữa ắt gây tổn hại mang tính vĩnh viễn. Lại ví như cung mệnh của đại vận ấy trùng điệp với cung phúc đức của thiên bàn. Vận dụng tính chất của hai cung trùng điệp, có thể đoán trong đại vận này chuyện tình cảm sẽ xảy ra vấn đề, gây thất lợi rất lớn cho mệnh tạo; tổn hại mang tính vĩnh viễn, thành vết thương trong tâm hồn không cách nào lành. Tượng trưng trong đời sống thực tế là một khi chia tay thì đến già đến chết cũng không gặp lại nhau. Bởi vậy, ngoài ý nghĩa rộng cơ bản của các cung, còn phải suy nghĩ thêm về tính chất của hai cung trùng điệp thì mới luận đoán chính xác.

Khi Lộc Và Kị Đại Vận Phát Xuất Từ Tha Cung

Giả thiết ông A hiện hành hạn đến cung nô bộc, là "tha cung" của thiên bàn. Can cung đại vận sẽ dẫn phát tứ hóa nhập "ngã cung" hoặc "tha cung" của thiên bàn; căn cứ vào đó mà luận cát hung họa phúc của ông A trong đại vận này. Phép xét Lộc Kị phi xuất từ tha cung ở đây gồm năm tình huống.

Hóa Lộc xung "ngã cung", Hóa Kị nhập "ngã cung"

Đại vận của ông A ở cung nô bộc của thiên bàn; can cung đại vận khiến Hóa Lộc nhập cung thiên di của thiên bàn, Hóa Kị nhập cung tài bạch của thiên bàn. Đây là cát tượng. Lấy thiên bàn của mệnh tạo làm bản vị, tức là bạn bè cung cấp "Hóa Lộc" cho mệnh tạo, muốn mệnh tạo lấy cung tài bạch, cung đại biểu cho sự "giao dịch", để tiếp nhận. Hiện tượng có thể xảy ra trong thực tế: người ta muốn mệnh tạo làm việc cho họ và trả thù lao hào phóng; mệnh tạo đi công tác xa làm thay cho họ, hoặc làm đại biểu cho công việc làm ăn của họ; bạn bè mắc nợ nay trả lại tiền cho mệnh tạo.

Các ứng nghiệm trên phải hội đủ điều kiện: Hóa Lộc phát xuất từ "tha cung" của thiên bàn nhập cung thiên di, cung tài bạch hoặc cung phúc đức của thiên bàn; Hóa Kị nhập "ngã cung" của thiên bàn; và Hóa Lộc, Hóa Kị không được đồng cung hoặc đối xung.

Hóa Lộc nhập "ngã cung", Hóa Kị nhập "ngã cung"

Đây là cát tượng. Vẫn lấy Hóa Lộc và Hóa Kị đại vận phát xuất từ cung nô bộc làm ví dụ: giả thiết Hóa Lộc nhập cung tài bạch, Hóa Kị nhập cung quan lộc. Ý tượng là bạn bè hoặc khách hàng chính là quý nhân; họ cung cấp cho mệnh tạo cơ hội kiếm tiền, muốn mệnh tạo lấy cung quan lộc để tiếp nhận tiền bạc; tức lấy hình thái sự nghiệp kinh doanh để tiếp nhận lợi ích nền tảng do bạn bè cung cấp.

Hóa Lộc nhập "ngã cung", Hóa Kị xung "ngã cung"

Ví như cung nô bộc nguyên cục khiến Hóa Lộc đại vận nhập cung tài bạch nguyên cục, Hóa Kị đại vận ở cung tử nữ nguyên cục mà xung cung điền trạch nguyên cục. Tuy Hóa Lộc nhập "ngã cung", nhưng Hóa Kị ở "tha cung" ắt quay lại xung "ngã cung", phá hoại tính hoàn chỉnh vốn có của "ngã cung"; cho nên dù kiếm được tiền cũng phải trả giá thảm thương. Hiện tượng có thể xảy ra: người ta lấy "Hóa Lộc" làm mồi câu, muốn mệnh tạo hợp tác đầu tư; trong đại vận này mệnh tạo cầm cố hoặc bán bất động sản để lấy vốn làm ăn; mệnh tạo làm ăn lỗ vốn, thậm chí phá sản.

Hóa Lộc nhập "tha cung", Hóa Kị nhập "ngã cung"

Ví dụ đại vận đến cung nô bộc của nguyên cục, can cung khiến Hóa Lộc đại vận nhập cung phu thê nguyên cục, Hóa Kị đại vận nhập cung mệnh nguyên cục. Hóa Lộc nhập cung phu thê và xung cung quan lộc, bề ngoài là cát tượng, nhưng vì Hóa Lộc không nhập ba cung thiên di, phúc đức, tài bạch, nên mệnh tạo phải trả giá cho những gì mình thu được.

Khả năng là: bạn bè đối xử tốt với người phối ngẫu của mệnh tạo, hoặc muốn giúp mệnh tạo làm ăn, hoặc hứa cho mệnh tạo cơ hội trong sự nghiệp, công việc; nhưng rốt cuộc vì vậy mà mệnh tạo thất vọng, tổn thương hình tượng bản thân, hoặc mối quan hệ hợp tác đổ vỡ. Cũng có thể nói, bạn bè vốn có ý muốn giúp mà lực bất tòng tâm; hoặc bạn bè vốn có ý đồ không tốt, lấy lợi ích làm chiêu bài để lừa mệnh tạo chi ra tiền bạc, hay chịu các bất lợi khác.

Hóa Lộc nhập "tha cung", Hóa Kị nhập "tha cung"

Lúc đại vận đến "tha cung", tức cung huynh đệ, cung phu thê, cung tử nữ, cung nô bộc, cung phụ mẫu của nguyên cục, mà khiến Hóa Lộc và Hóa Kị đều nhập "tha cung" của nguyên cục, ý tượng là trong đại vận này mệnh tạo hành sự phải thật cẩn thận. Có thể vì người khác mà vất vả khổ sở, đã không được lợi ích gì, lại còn chuốc thị phi, gặp quan phi, hao tổn sức khỏe. Nói cách khác, người khác được lợi còn mệnh tạo gánh hậu quả.

Vai Trò Của Cung Chức Trong Luận Đoán Đại Vận

Ba cung mệnh, tài, quan là "nhất thể tam diện", ba mặt của một thể, sức ảnh hưởng của chúng có tính nhất trí. Tức là cung tài bạch của đại vận có Hóa Kị xung cung mệnh của thiên bàn thì hung tính ngang với cung tài bạch của đại vận có Hóa Kị xung cung tài bạch của thiên bàn. Ngoài ra, đừng bỏ qua sức ảnh hưởng của ba hóa diệu còn lại. Ví như Hóa Quyền của đại vận nhập cung có Hóa Lộc năm sinh, lưu niên đến cung hạn ấy chính là năm thực hiện được nguyện vọng. Đó là lí do phải nắm quan hệ nhân quả giữa các cung chức trước khi luận vận.

Mệnh bàn ông A: Hỏa Tinh trong cung phu thê

Ông A sinh năm Ất Mão (1975), tháng Hợi, giờ Tí. Mệnh bàn bài bố như sau: cung mệnh ở Hợi có Liêm Trinh, Tham Lang; cung huynh đệ ở Tuất có Thái Âm Hóa Kị; cung phu thê ở Dậu có Thiên Phủ, đồng cung với Hỏa Tinh; cung tử nữ ở Thân vô chính diệu; cung tài bạch ở Mùi có Tử Vi Hóa Khoa, Phá Quân; cung tật ách ở Ngọ có Thiên Cơ Hóa Lộc; cung thiên di ở Tị vô chính diệu; cung nô bộc ở Thìn có Thái Dương; cung quan lộc ở Mão có Vũ Khúc, Thất Sát; cung điền trạch ở Dần có Thiên Đồng, Thiên Lương Hóa Quyền; cung phúc đức ở Sửu có Thiên Tướng; cung phụ mẫu ở Tí có Cự Môn.

Trong cung phu thê có Hỏa Tinh, tượng trưng cho sự khống chế không thỏa đáng của mệnh chủ đối với người phối ngẫu, mà Thiên Phủ là đại biểu. Hỏa Tinh thuộc hỏa, Thiên Phủ thuộc thổ, hỏa sinh thổ; cho nên người phối ngẫu cần biết tự lập tự cường. Xét ở góc độ khác, đây là người phối ngẫu có tinh thần chịu đựng. Nói về mối tương giao với "Liêm Trinh, Tham Lang" thì Thiên Phủ có tính chất "thu vào" khá vững vàng. Ở đây chưa xét đến tác dụng của tứ hóa và các sao ở cung phúc đức, là cung vị khí số của cung phu thê.

Thiên Cơ Hóa Lộc ở cung tật ách: ngọn núi lửa chờ bộc phát

Tứ hóa năm sinh của ông A là Thiên Cơ Hóa Lộc, Thiên Lương Hóa Quyền, Tử Vi Hóa Khoa, Thái Âm Hóa Kị. Cung tật ách ở Ngọ có Thiên Cơ Hóa Lộc tọa thủ. Cung tật ách là cung vị luận đoán trí lực; dựa vào Thiên Cơ tọa thủ cung Ngọ có thể đoán ông A có đầu óc khá tốt, trí lực cao, phản ứng nhanh nhạy. Thiên Cơ thuộc mộc, cung Ngọ thuộc hỏa, mộc sinh hỏa; ông A tiêu hao khí mộc ở đất hỏa, ấy là hiện tượng dùng đầu óc quá độ.

Hóa Lộc thuộc kim, kim khắc mộc; cho nên Thiên Cơ Hóa Lộc là quy phạm, chứ không phải sự ước thúc theo kiểu ép buộc. Hóa Lộc còn đại biểu cho dục tình, ở cung tật ách thì chủ về lạc quan. Cung tật ách có tính "ẩn"; vì vậy Thiên Cơ Hóa Lộc tọa cung Ngọ là mẫu người bề ngoài lạnh nhạt, trầm tĩnh, ít nói, nhưng nội tâm rất phong phú.

Có điều, một khi Thiên Cơ Hóa Lộc bị kích phát, lúc cung tật ách của nguyên cục theo đại vận biến thành cung khác, thì giống như núi lửa bộc phát. Lúc cung mệnh của đại vận nhập cung Bính Tuất, cung Ngọ trở thành cung tài bạch của đại vận; Thiên Cơ lại bị can Bính làm cho thành Hóa Quyền. Khi ấy ông A có biểu hiện ham vui, "trái tim" mở rộng, đó là suy đoán từ cung tài bạch; nhưng thành tựu về học vấn thì không tốt, do cung phụ mẫu của đại vận thấy Liêm Trinh Hóa Kị.

Cùng hạn "Vũ Khúc, Thất Sát" ở cung Mão, hai cảnh ngộ trái ngược

Ông A có "Liêm Trinh, Tham Lang" thủ mệnh ở cung Hợi, hành hạn đến cung Kỉ Mão. Cô B có Cự Môn thủ mệnh ở cung Tí, hành hạn đến cung Đinh Mão. Mệnh bàn cô B như sau: cung mệnh ở Tí có Cự Môn; cung huynh đệ ở Hợi có Liêm Trinh, Tham Lang; cung phu thê ở Tuất có Thái Âm; cung tử nữ ở Dậu có Thiên Phủ; cung tài bạch ở Thân không có chính diệu; cung tật ách ở Mùi có Tử Vi, Phá Quân; cung thiên di ở Ngọ có Thiên Cơ; cung nô bộc ở Tị không có chính diệu; cung quan lộc ở Thìn có Thái Dương; cung điền trạch ở Mão có Vũ Khúc, Thất Sát; cung phúc đức ở Dần có Thiên Đồng, Thiên Lương; cung phụ mẫu ở Sửu có Thiên Tướng.

Tọa thủ cung Mão đều là "Vũ Khúc, Thất Sát", nhưng rất có thể trong đại vận Kỉ Mão sự nghiệp của ông A lại huy hoàng, còn cô B trong đại vận Đinh Mão phải đối mặt với cảnh sự nghiệp, gia đình đổ vỡ. Ấy là do các cung có tứ hóa năm sinh khác nhau sẽ sinh ảnh hưởng khác nhau đối với "Vũ Khúc, Thất Sát". Ngoài ra, can cung đại vận định giới hạn của "Vũ Khúc, Thất Sát"; thêm vào đó là tác dụng của các sao khác trong cung. Cho nên cùng là đại vận ở cung Mão, nhưng khác cung chức, hai người sẽ gặp cảnh ngộ hoàn toàn khác nhau. Cùng hành hạn "Vũ Khúc, Thất Sát" mà ở địa bàn khác nhau thì cát hung họa phúc khác hẳn. Huống hồ cung mệnh, cung tài bạch và cung quan lộc của đại vận có tính liên quan bất khả phân "nhất thể tam diện"; can cung của chúng phi hóa cũng sẽ ảnh hưởng đến sự hưng suy của hành hạn ấy.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số — Tứ Hóa Phái (Nguyễn Anh Vũ), Chương 9 "Nguyên tắc luận đoán vận hạn của Tứ Hóa phái", mục "Phương pháp luận đoán đại vận".

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Vận hạn phi tinh