Bài tổng quan
Cung Mệnh Theo Năm Cục Ngũ Hành, Lai Nhân Cung Và Đẩu Quân
Nét riêng của một lá số Bắc phái bắt nguồn từ cục ngũ hành của cung mệnh. Kim Tứ Cục, Thổ Ngũ Cục, Hỏa Lục Cục, Mộc Tam Cục và Thủy Nhị Cục đều có sáu hình thái nạp âm như Hải Trung Kim, Phích Lịch Hỏa hay Đại Hải Thủy, và mỗi hình thái mang ý tượng tâm tính riêng. Bên cạnh cục là lai nhân cung, tức cung có thiên can trùng với can năm sinh, được xem là căn cơ của tứ hóa năm sinh và là điểm chuyển hướng của vận trình. Khi lai nhân cung rơi vào từng cung, mười hai loại nhân duyên hình thành, chia thành hai nhóm tự lập và tha lập. Còn Đẩu Quân lưu niên thì không chỉ có một lối tìm, mà được xác định theo cả hai đường tiên thiên và hậu thiên.
Cung Mệnh Của Người Kim Tứ Cục
Cục số ngũ hành là một trong những nhân tố quyết định sân khấu cuộc đời của mệnh tạo lớn hay nhỏ. Mỗi một cục số, ví dụ như Thủy Nhị Cục, gồm có sáu hình thái: Giản Hạ Thủy, Đại Khê Thủy, Trường Lưu Thủy, Thiên Hà Thủy, Tỉnh Tuyền Thủy, Đại Hải Thủy. Suy nghĩ về tên gọi của chúng, "Đại Hải Thủy" tất nhiên lớn hơn "Giản Hạ Thủy" rất nhiều. Ngoài ra, cục số ngũ hành còn có thể định hướng về tâm tính của mệnh tạo.
Hải Trung Kim
Kim Tứ Cục ở cung Tí và cung Sửu là Hải Trung Kim Tứ Cục, can cung mệnh là Giáp Tí hay Ất Sửu.
Có thể lấy ngọc trai trong bụng con trai để hình dung Hải Trung Kim — là vật quý nhưng cần gặp người có tâm phát hiện, chiếu cố, đề bạt mới tỏa sáng được. Người thuộc cục này có tính khí trầm và trụ, phú bẩm khí chất ưu tú, nhưng có khuynh hướng bị động, cần dựa vào sự trợ giúp của ngoại lực mới phát huy được thực lực. Tâm cơ kín đáo, nhưng bất kể trong đời có gặp tri kỷ hay không, thông thường họ khó phát huy hết thực lực nội tại của bản thân. Tinh thần cũng dễ sa sút, suy nhược, bởi kim sinh thủy mà thủy lại quá nhiều; muốn thoát khỏi tình trạng này phải hao tốn rất nhiều trí lực và thể lực.
Kim Bạc Kim
Kim Tứ Cục ở cung Dần và cung Mão là Kim Bạc Kim Tứ Cục, can cung mệnh là Nhâm Dần, Quý Mão.
Kim Bạc Kim là vàng dát mỏng như tờ giấy, thường dùng để trang trí tượng Phật hoặc các đồ trang sức khác, gọi là "dát vàng". Người thuộc cục này dễ uốn nắn, có thể trải qua học tập và rèn luyện để thích ứng với nhiều loại nghề nghiệp. Cá tính nhu thuận, ý thức về "cái tôi" không cao, có khuynh hướng chạy theo thời thượng, hay dựa dẫm, thích trang điểm bề ngoài để tăng thêm hào quang cho bản thân.
Bạch Lạp Kim
Kim Tứ Cục ở cung Thìn và cung Tị là Bạch Lạp Kim Tứ Cục, can cung mệnh là Canh Thìn và Tân Tị.
Người thuộc cục này chất phác, thuần chân, cởi mở, sảng khoái. Phong cách hành sự không tỉ mỉ, thiếu tế nhị. Cá tính minh bạch, không giả dối, tuy thông minh nhưng còn phải tôi luyện thêm mới trọn vẹn.
Sa Trung Kim
Kim Tứ Cục ở cung Ngọ và cung Mùi là Sa Trung Kim Tứ Cục, can cung mệnh là Giáp Ngọ, Ất Mùi.
Người thuộc cục này cần trải qua tôi luyện mới thành nhân tài, tức trong cuộc đời phải gặp trắc trở, khốn đốn mới có được thành tựu. Về cá tính thường có khuyết điểm đầu voi đuôi chuột, mơ hồ thiếu rõ ràng, hoặc tâm có dư mà lực không đủ.
Kiếm Phong Kim
Kim Tứ Cục ở cung Thân và cung Dậu là Kiếm Phong Kim Tứ Cục, can cung mệnh là Nhâm Thân, Quý Dậu.
Phần nhiều là người có tài năng trác việt, có bản lãnh tự đột phá với chính mình, có thể sáng tạo ra cục diện mới. Hành sự quyết đoán, cương nghị, có chí hướng lớn, có tính cầu tiến hơi thái quá hoặc quá bức thiết. Có thể làm được những điều tưởng như không thể, nên thường trở thành nhân tài trong các lĩnh vực chuyên môn; bản thân tôi luyện càng nhiều thì bản lãnh càng thâm sâu, tố chất chuyên nghiệp càng cao.
Thoa Xuyến Kim
Kim Tứ Cục ở cung Tuất và cung Hợi là Thoa Xuyến Kim Tứ Cục, can cung mệnh là Canh Tuất, Tân Hợi.
Thuộc mẫu người văn nhã, thích yên tĩnh, diện mạo không tệ, cá tính nhu thuận nhưng thiếu hoạt bát. Có khuynh hướng định hình bản thân theo một "kiểu mẫu" nào đó; lúc vận dụng tài trí thường phụ thuộc vào người khác, thiếu khả năng khai sáng cục diện mới hoặc phát triển tài năng riêng của mình. Khá chuộng hư vinh, nhưng lại rất thực dụng.
Cung Mệnh Của Người Thổ Ngũ Cục
Bích Thượng Thổ
Thổ Ngũ Cục ở cung Tí và cung Sửu là Bích Thượng Thổ Ngũ Cục, can cung mệnh là Canh Tí, Tân Sửu.
Là người có ranh giới trong ngoài rõ ràng, hay che chở cho "người của mình". Không thích bộc lộ bản thân, âm thầm hành sự, có thể cẩn thận thủ phận, không tranh công, không đổ lỗi cho người khác, nên người ngoài rất khó hiểu được cách suy nghĩ của họ. Cần phải dựa vào cái gì đó mới có thể đứng vững — dựa vào vật mạnh thì mạnh theo; nếu dựa vào vật yếu thì tuy tận trung với chức vị của mình nhưng cũng chỉ là thể yếu.
Thành Đầu Thổ
Thổ Ngũ Cục ở cung Dần và cung Mão là Thành Đầu Thổ Ngũ Cục, can cung mệnh là Mậu Dần, Kỷ Mão.
Là người có tính nguyên tắc, cá tính cô độc, cao ngạo, không hợp quần. Có thể y vào kế hoạch mà hành sự, hoặc tuân thủ giới hạn của quy định, không vượt ra ngoài quy củ. Vì quá kiên trì và cố chấp nên có cơ hội thành tựu đại sự, nhưng cũng có thể trở thành người cô độc và tự đánh giá cao về mình một cách ảo tưởng.
Sa Trung Thổ
Thổ Ngũ Cục ở cung Thìn và cung Tị là Sa Trung Thổ Ngũ Cục, can cung mệnh là Bính Thìn, Đinh Tị.
Thoạt nhìn có vẻ thiếu tập trung, nhưng trên thực tế lại tích lũy rất nhiều tri thức và kinh nghiệm của các bậc trưởng bối. Tâm tình hoặc cách ứng xử biến hóa đa đoan — lúc vận tốt thì giống như rồng bay trên trời, lúc gặp vận xấu thì giống như rồng ở vũng cạn. Điều đó ngầm cho thấy phải trải qua sự phấn đấu, sau cùng mới thu được kết quả viên mãn.
Lộ Bàng Thổ
Thổ Ngũ Cục ở cung Ngọ và cung Mùi là Lộ Bàng Thổ Ngũ Cục, can cung mệnh là Canh Ngọ, Tân Mùi.
Phần nhiều phải trải qua sự đả kích của nghịch cảnh mới được thuận lợi. Người tọa mệnh ở các cung này phần lớn đều có tâm tính chất phác, rất có tiềm lực, biết sử dụng thời gian để bồi đắp cho bản thân; nếu biết nắm thời cơ thì sẽ phát đạt, còn để ngày tháng trôi qua một cách vô vị thì cuộc đời sẽ hoang phế. Người tọa mệnh thuộc Lộ Bàng Thổ Ngũ Cục thường có thành tựu khá muộn.
Đại Dịch Thổ
Thổ Ngũ Cục ở cung Thân và cung Dậu là Đại Dịch Thổ Ngũ Cục, can cung mệnh là Mậu Thân, Kỷ Dậu.
Già dặn, vững vàng, hướng nội. Có tính tốt, hay lo cho mọi người mà không than oán. Chỉ cần sống khoáng đạt, lạc quan thì có thể thành tựu; nếu thiếu tích cực sẽ tự giới hạn bản thân, trở thành người tầm thường.
Ốc Thượng Thổ
Thổ Ngũ Cục ở cung Tuất và cung Hợi là Ốc Thượng Thổ Ngũ Cục, can cung mệnh là Bính Tuất, Đinh Hợi.
Là người giữ vững cương vị của mình, không chịu khuất phục. Bề ngoài có biểu hiện cứng cỏi, nhưng thực ra nội tâm khá mềm yếu, giống như miếng ngói không chịu nổi sự va chạm mạnh. Người tọa mệnh thuộc loại Ốc Thượng Thổ Ngũ Cục muốn thành công thường phải trải qua nghịch cảnh mới có được.
Cung Mệnh Của Người Hỏa Lục Cục
Phích Lịch Hỏa
Hỏa Lục Cục ở cung Tí và cung Sửu là Phích Lịch Hỏa Lục Cục, can cung mệnh là Mậu Tí, Kỷ Sửu.
Thế đến cực mạnh, đủ uy lực, có thể nói là chấn động bốn phương, đáng tiếc là giai đoạn sau lại thiếu sức mạnh. Người thuộc Phích Lịch Hỏa Lục Cục có tư duy mẫn tiệp, có đủ thế nhưng cần phải dựa vào lực bộc phát để hoàn thành; nếu không, tuy có thể chiếu sáng ngàn dặm, nhưng cũng chỉ giống như ánh chớp cực sáng mà mau chóng tàn lụi.
Lô Trung Hỏa
Hỏa Lục Cục ở cung Dần và cung Mão là Lô Trung Hỏa Lục Cục, can cung mệnh là Bính Dần, Đinh Mão.
Là người có nhiệt tâm và nhiệt tình. Người có bụng dạ lớn thì thành tựu lớn, người có bụng dạ nhỏ thì thành tựu cũng nhỏ. Nếu dụng tâm theo chính đạo thì phần nhiều sẽ có thành tựu rất lớn, có thể trở thành nhân vật anh hùng; còn người không theo chính đạo thì lực phá hoại cũng mạnh, dễ trở thành kẻ có vấn đề.
Phúc Đăng Hỏa
Hỏa Lục Cục ở cung Thìn và cung Tị là Phúc Đăng Hỏa Lục Cục, can cung mệnh là Giáp Thìn, Ất Tị.
Có cá tính quang minh lỗi lạc, là người có nhiệt tâm và nhiệt tình, có bụng dạ tốt, hay lo cho người khác. Người sinh vào ban ngày thường dũng cảm, hào sảng, chí khí lớn, bụng dạ rộng rãi, có tinh thần trách nhiệm, nhưng ưa biểu hiện bản thân, thái độ dễ thái quá hoặc bất cập, không hợp cách. Người sinh vào ban đêm thì cá tính khá văn nhã, thích yên tĩnh, không ưa biểu hiện bản thân, nhưng lúc cần thiết vẫn đáp ứng, biểu hiện ôn hòa, có bụng dạ hay lo cho người khác.
Thiên Thượng Hỏa
Hỏa Lục Cục ở cung Ngọ và cung Mùi là Thiên Thượng Hỏa Lục Cục, can cung mệnh là Mậu Ngọ, Kỷ Mùi. Hỏa Lục Cục thuộc can Mậu ở Ngọ là chỉ mặt trời, còn Hỏa Lục Cục thuộc can Kỷ ở Mùi là chỉ mặt trăng.
Quang minh lỗi lạc, bác ái, công chính. Người thủ mệnh ở cung Ngọ có ý niệm bác ái, công chính trong lòng, nhưng thường không nghĩ đến sự cảm thụ và mức độ tiếp nhận của đối tượng. Người thủ mệnh ở cung Mùi thì âm nhu, hiền hòa, có lòng yêu thương kiểu bị động, nhưng thiếu nhiệt tình, tâm trạng hay trồi sụt thất thường.
Sơn Hạ Hỏa
Hỏa Lục Cục ở cung Thân và cung Dậu là Sơn Hạ Hỏa Lục Cục, can cung mệnh là Bính Thân, Đinh Dậu.
Dễ gặp thời vận xấu, giống như vận động viên bóng rổ có tư thế rất đẹp nhưng lại khó xông tới làm bàn. Là người có bề ngoài cứng, nhưng bên trong thường cảm thấy trống rỗng. Nếu biết tiến thoái hợp thời cơ, và kích thích thực lực của bản thân, thì không đến nỗi theo đuổi ảo mộng cao xa một cách đáng tiếc.
Sơn Đầu Hỏa
Hỏa Lục Cục ở cung Tuất và cung Hợi là Sơn Đầu Hỏa Lục Cục, can cung mệnh là Giáp Tuất, Ất Hợi.
Nội tâm tuy trong sáng, nhưng bề ngoài thì u ám, cần điều chỉnh tâm tính cho khoáng đạt hơn mới có thể tránh được tính hay oán than, nghi kị và ghét đời. Có lúc quá xung động, kịch liệt, hừng hực nhiệt tình, nhưng cuối cùng vẫn có thể bình tĩnh lại. Nếu người này có thể mang kinh nghiệm và trí tuệ của mình biến thành sự tu dưỡng, hành động đúng đắn, thì họ là mẫu người cơ trí; nếu không sẽ thành kẻ gian trá.
Cung Mệnh Của Người Mộc Tam Cục
Tang Đố Mộc
Mộc Tam Cục ở cung Tí và cung Sửu là Tang Đố Mộc Tam Cục, can cung mệnh là Nhâm Tí, Quý Sửu.
Có nhiệt tâm theo kiểu bị động, cần tới mới đáp ứng, nhưng thường mất rồi mới tiếc, chẳng giỏi chọn lựa. Là người mang hết tâm lực để vào công việc. Chỉ cần trong lòng vui vẻ thần phục, họ sẽ tuân theo chỉ thị mà hoàn thành sứ mệnh.
Tùng Bách Mộc
Mộc Tam Cục ở cung Dần và cung Mão là Tùng Bách Mộc Tam Cục, can cung mệnh là Canh Dần, Tân Mão.
Có tính chất càng gian khổ thì càng kiên định, càng hung hiểm thì càng trầm tĩnh, càng trắc trở thì càng dũng cảm. Bản thân giữ kỉ luật nghiêm minh, nhưng đối với người khác thì rộng rãi, sức chịu đựng khá mạnh. Có lòng tự tôn quá độ, vì vậy mặc cảm tự ti cũng nghiêm trọng.
Đại Lâm Mộc
Mộc Tam Cục ở cung Thìn và cung Tị là Đại Lâm Mộc Tam Cục, can cung mệnh là Mậu Thìn, Kỷ Tị.
Có sức mạnh tinh thần, hiền hòa, không cố chấp, không thích hành động một mình. Tâm chí cao, lúc gặp cảnh không thuận lợi cũng không đánh mất chí hướng; nếu quá theo thói thường thì sẽ đánh mất bản ngã. Nói về cục, Đại Lâm Mộc xem trọng tinh thần đồng đội, còn Tùng Bách Mộc là cá nhân anh hùng, Tang Đố Mộc thì xem trọng tính kĩ thuật và công dụng của sự việc; riêng Đại Lâm Mộc thì có bụng dạ rộng rãi hơn hai loại mộc vừa nói.
Dương Liễu Mộc
Mộc Tam Cục ở cung Ngọ và cung Mùi là Dương Liễu Mộc Tam Cục, can cung mệnh là Nhâm Ngọ, Quý Mùi.
Cá tính nhu hòa nhưng không yếu đuối, có sức chịu đựng dẻo dai, và có sức bật dậy. Biểu hiện bề ngoài nhu hòa, khiêm cung, bên trong tâm tư tinh tế, thường vì hoàn cảnh thay đổi mà tình cảm cũng thay đổi theo, dễ bị nhân tố bên ngoài làm thay đổi sự chọn lựa.
Thạch Lựu Mộc
Mộc Tam Cục ở cung Thân và cung Dậu là Thạch Lựu Mộc Tam Cục, can cung mệnh là Canh Thân, Tân Dậu.
Bề ngoài bình thản, vững vàng, nhưng nội tâm thì hay nóng nảy, bực bội. Khá cố chấp, khó trò chuyện trao đổi với người khác. Cá tính quật cường, có thể vượt qua thử thách.
Bình Địa Mộc
Mộc Tam Cục ở cung Tuất và cung Hợi là Bình Địa Mộc Tam Cục, can cung mệnh là Mậu Tuất, Kỷ Hợi.
Thường là người có tài năng, có trí tuệ, nhưng khi chưa chuẩn bị tốt hoàn toàn thì họ sẽ giấu tài năng, không dễ gì lộ ra ngoài. Trước khi được xem trọng hoặc được người khác khẳng định, họ sẽ tuần tự tiệm tiến, rồi mới biểu hiện tài năng.
Cung Mệnh Của Người Thủy Nhị Cục
Giản Hạ Thủy
Giản Hạ Thủy Nhị Cục chỉ xuất hiện ở cung Tí và cung Sửu.
Cá tính kịch liệt, yêu ghét rất cực đoan. Có thể phát huy đến cực độ nghề chuyên môn hay sở trường của mình, nhưng rất khó có bụng dạ để mắt tới thiên hạ, khó có được khí khái hồn hậu. Dễ bất bình, dám khiêu chiến với hiện thực, nhưng cũng có thể đầu hàng hiện thực; về tính tình thường rất khó đoán, khó xác định.
Đại Khê Thủy
Đại Khê Thủy Nhị Cục chỉ xuất hiện ở cung Dần và cung Mão.
Thuộc mẫu người không kiên trì với kiến giải của chính mình, nhưng có thể tiếp thu tri thức, kiến giải, và kiến nghị của người khác để tạo ra tình thế có lợi cho bản thân — có điều, khi họ đắc lí thì ít khi tha cho người khác. Cuộc đời của người này thường hay thay đổi với góc độ khá lớn; lúc vận xấu, phần nhiều là người hữu danh vô thực.
Trường Lưu Thủy
Thủy Nhị Cục ở cung Thìn và cung Tị là Trường Lưu Thủy Nhị Cục, can cung mệnh là Nhâm Thìn, Quý Tị.
Người tọa mệnh thuộc Trường Lưu Thủy có tượng phiêu bạc, xa rời quê hương. Về tình cảm phần nhiều khó tránh trường hợp vì tình thế bức bách mà phải đứt đoạn. Thường có hành động không thiết thực, đáng tiếc là hay vì tương lai mà hi sinh hiện tại, hoặc nhìn cao mà thiếu thực tế. Vì phong cách hành sự hoặc vì hoàn cảnh biến thiên, thường sẽ cắt đứt đường đi của bản thân, khiến trong lòng chỉ toàn là lời oán than, mà không cách nào quay đầu trở lại.
Thiên Hà Thủy
Thủy Nhị Cục ở cung Ngọ và cung Mùi là Thiên Hà Thủy Nhị Cục.
Người tọa mệnh ở cung vị này phần nhiều đều có lòng bác ái công bình. Thường hay cho người khác mà không cần biết đối tượng có cần hay không. Trong sinh hoạt thực tế, thường sẽ khéo quá mà thành vụng, tuy rất nỗ lực nhưng lại vô bổ. Chỉ chú trọng hình thức, mà không suy nghĩ đến việc cần phải điều chỉnh phương pháp khi tình thế đòi hỏi.
Tỉnh Tuyền Thủy
Thủy Nhị Cục ở cung Thân và cung Dậu là Tỉnh Tuyền Thủy Nhị Cục, can cung mệnh là Giáp Thân, Ất Dậu.
Tâm tư khó đoán. Phần nhiều có phong cách hành sự khá bị động. Nhưng cách đối nhân xử thế lại khá tốt, có thể nói người này rất có nhiệt tâm giúp người khác.
Đại Hải Thủy
Thủy Nhị Cục ở cung Tuất và cung Hợi là Đại Hải Thủy Nhị Cục, can cung mệnh là Nhâm Tuất, Quý Hợi.
Người tọa mệnh ở các cung này, cuộc đời dễ thăng trầm với biên độ lớn. Nếu thuộc cách cục lớn có thể thành bậc anh hùng hào kiệt. Người tọa mệnh ở cung vị này có điều kiện thành kẻ đại ác hay đại thiện, đại trung hay đại gian, đại phúc hay đại họa.
Ý Nghĩa Của Lai Nhân Cung
"Lai nhân cung" là một trong những cổ quyết được Khâm Thiên Môn công bố, là cung vị có thiên can trùng điệp với can năm sinh, được xem là cung định hóa tượng tiên thiên, tức tứ hóa năm sinh.
Tứ hóa năm sinh có vai trò rất quan trọng trong Tử Vi Đẩu Số Tứ Hóa phái, tác dụng của chúng ảnh hưởng đến mệnh cách cao thấp của một người. Nhưng tứ hóa năm sinh lại sinh ra từ "lai nhân cung", cho nên có thuyết nói "lai nhân cung" là căn cơ của tứ hóa năm sinh.
Lai nhân cung tùy theo cung chức của nó mà có tác dụng khác nhau. Lai nhân cung ở cung mệnh: tứ hóa năm sinh đều do cung mệnh cung cấp, nhân quả đời này đều liên quan trực tiếp đến tạo tác của mệnh tạo. Lai nhân cung ở cung tử nữ: mệnh vận có liên quan với con cái, ngoài ra có thể còn liên quan với đào hoa, bạn hợp tác, hoặc có duyên với học trò. Lai nhân cung ở cung nô bộc: cát hung họa phúc của đời này đều có liên quan tới bạn bè, hoặc cách xử sự, đối đãi với mọi người. Lai nhân cung ở cung quan lộc: đời này phải vì công việc, sự nghiệp mà bận rộn.
Theo Khâm Thiên Môn, thiên can của năm sinh là then chốt khởi động tứ hóa của năm sinh, cho nên muốn giải thích các cung có tứ hóa trong mệnh bàn, đều phải quay trở về cung có can năm sinh — tức lai nhân cung — để xem bản ý của nó. Nói cách khác, các cung có tứ hóa đều lấy tứ hóa của năm sinh làm hàm ý ban đầu của nó, bởi tứ hóa của năm sinh chính là tính phú bẩm tiên thiên, còn tượng của các tứ hóa khác đều thuộc về mệnh vận hậu thiên.
Ngoài ra, lai nhân cung còn là điểm chuyển hướng của vận trình: lúc đại vận nhập lai nhân cung, có thể xem đây là sự kích phát cơ chế khởi động, hoặc làm điểm dừng cuối cùng. Có thể tóm tắt về lai nhân cung như sau: lai nhân cung và tứ hóa của năm sinh là phú bẩm tiên thiên; thích hợp dùng trong việc luận đoán cách cục; theo nguyên lí thể dụng, phép luận mệnh bắt đầu từ "thể" là tứ hóa năm sinh, rồi trực tiếp nhập vào "dụng"; lai nhân cung có mười hai loại nhân duyên khác nhau; và lai nhân cung là nơi âm dương hóa khí, tạo thành động hướng cho mệnh vận.
Mười Hai Nhân Duyên Của Lai Nhân Cung
Lai nhân cung ở sáu cung dương thuộc cách tự lập, là cung vị ở trạng thái tĩnh: tam hợp của cung mệnh cộng với tam hợp của cung phúc đức. Lai nhân cung ở sáu cung âm thuộc cách tha lập, là cung vị ở trạng thái động: tam hợp của cung điền trạch cộng với tam hợp của cung phụ mẫu.
Trong mười hai cung có bốn nhóm kết cấu như sau: tam hợp của cung mệnh gồm ba cung dương; tam hợp của cung phúc đức gồm ba cung dương; tam hợp của cung phụ mẫu gồm ba cung âm; tam hợp của cung điền trạch gồm ba cung âm. "Lai nhân cung" chia thành hai nhóm chính.
Tam phương của cung mệnh — cách tự lập
Lai nhân cung ở tam phương của cung mệnh (mệnh, tài, quan) và ở tam phương của cung phúc đức (phúc, di, thê) đều thuộc cách tự lập, tự lập cánh sinh.
Ở cung mệnh: cá tính, tâm trạng của chính mệnh tạo ảnh hưởng đến cuộc đời của họ. Ở cung tài bạch: phương thức kiếm tiền ảnh hưởng đến cuộc đời của mệnh tạo. Ở cung quan lộc: công việc ảnh hưởng đến cuộc đời của mệnh tạo, và cả chuyện ngoại tình — vốn là cung vị thiên di của cung phu thê — cũng ảnh hưởng tới cuộc đời của mệnh tạo. Ở cung phúc đức: sở thích, hứng thú, thị hiếu, phúc khí của mệnh tạo sẽ ảnh hưởng đến cuộc đời của họ. Ở cung phu thê: người khác giới sẽ ảnh hưởng đến cuộc đời của mệnh tạo; nếu không có hôn nhân thì chính mệnh tạo là nhân tố chính ảnh hưởng đến cuộc đời của chính mình. Ở cung thiên di: hoàn cảnh bên ngoài, xã hội sẽ ảnh hưởng đến cuộc đời của mệnh tạo.
Tam phương của cung nô bộc — cách tha lập
Lai nhân cung ở tam phương của cung nô bộc (nô, phụ, tử) và ở tam phương của cung điền trạch (điền, huynh, tật) là cách cục phải nhờ vả người khác để lập nghiệp.
Ở cung phụ mẫu: cha mẹ, trưởng bối, hoàn cảnh giáo dục, nơi sinh ra, sẽ ảnh hưởng đến cuộc đời của mệnh tạo. Ở cung tử nữ: lớp vãn bối, người hợp tác, đào hoa, sẽ ảnh hưởng đến cuộc đời của mệnh tạo. Ở cung nô bộc: bạn bè, thuộc cấp, sẽ ảnh hưởng đến cuộc đời của mệnh tạo. Ở cung điền trạch: gia đình, sản nghiệp của tổ tiên, dời nhà, dịch mã, sẽ ảnh hưởng đến cuộc đời của mệnh tạo. Ở cung tật ách: sức khỏe, việc học hành — tuyến "phụ tật" chủ về quang minh, văn thư, học vấn — sẽ ảnh hưởng đến cuộc đời của mệnh tạo. Ở cung huynh đệ: anh chị em, tình hình kinh tế và thành tựu sự nghiệp sẽ ảnh hưởng đến cuộc đời của mệnh tạo.
Đẩu Quân Tiên Thiên Và Hậu Thiên
Đẩu Quân tiên thiên
Trong mệnh bàn thường ghi Đẩu Quân năm Tí để tìm vị trí của các cung Đẩu Quân lưu niên. Vị trí của Đẩu Quân năm Tí là chỉ tháng giêng của năm Tí, rồi đếm thuận theo các cung để tìm ra các tháng còn lại.
Ví dụ, bạn sinh vào tháng 9, giờ Dần. Lưu niên năm Tí ở cung Tí; bạn sinh tháng 9 nên đếm nghịch tới tháng 9 là cung Thìn; bạn sinh giờ Dần, vậy khởi giờ Tí ở cung Thìn, đếm thuận đến giờ Dần là vào cung Ngọ — đây chính là vị trí Đẩu Quân năm Tí của bạn. Mỗi năm, vị trí khởi đẩu đều phải lùi một cung: nếu Đẩu Quân năm Tí ở cung Ngọ, thì Đẩu Quân năm Sửu ở cung Mùi, Đẩu Quân năm Dần ở cung Thân, Đẩu Quân năm Mão ở cung Dậu, và cứ thế tiếp tục.
Đẩu Quân lưu niên tiên thiên mang ý nghĩa như sau. Đẩu Quân lưu niên tiên thiên rơi vào cung nào, biểu thị hành hạn của người này chịu ảnh hưởng khí vận của cung đó — đây là do thiên tính của mệnh chủ xui khiến. Cung Đẩu Quân lưu niên tiên thiên có ảnh hưởng khá hạn chế, lúc luận mệnh các nhà Đẩu Số thường không xem trọng; có thuyết cho rằng đây là manh mối quan trọng liên quan đến nhân quả của kiếp trước và kiếp này — nếu xem xét tình hình tam hợp, ám hợp, tứ hóa của cung Đẩu Quân lưu niên tiên thiên, có thể giúp lí giải vì sao đời này lại có mệnh vận như vậy. Lúc luận lưu niên, rất kị cung Đẩu Quân lưu niên hậu thiên xung cung mệnh.
Đẩu Quân hậu thiên
Muốn tìm vị trí của Đẩu Quân lưu niên hậu thiên, phải xem cung Dần là cung chức gì trong mệnh bàn nguyên cục, rồi tìm cung chức của lưu niên cùng tên — đó chính là vị trí sở tại của Đẩu Quân lưu niên hậu thiên.
Ví dụ, cung Dần của mệnh bàn nguyên cục là cung tử nữ, thì Đẩu Quân lưu niên sẽ lấy cung tử nữ của lưu niên làm vị trí sở tại của Đẩu Quân — tức cung vị đó chính là tháng giêng của lưu niên này. Tìm được cung Đẩu Quân lưu niên hậu thiên rồi, cung đó là tháng giêng, rồi đếm thuận theo các cung để ra các tháng còn lại.
Về ý nghĩa của Đẩu Quân lưu niên hậu thiên, theo một số lưu phái Đẩu Số, đây là nhân tố cần phải xem xét trước tiên khi tính toán hành hạn lưu niên và lưu nguyệt; vận thế của mỗi tháng đều do các sao và tứ hóa của can cung này quyết định, biểu thị trong tháng đó nên lưu ý chuyện gì.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái
