Bài tổng quan
Cung quan lộc: chốn ký thác tinh thần, Xương Khúc, Hóa Khoa
Cung quan lộc là nơi một đời người gửi gắm tinh thần, nơi tính cách của cung mệnh hóa thành hành vi, và vì vậy cũng là chỗ nghiệp lực trú ngụ. Văn Xương, Văn Khúc đóng ở đây làm dịu cả những hung tinh bạo liệt, còn Hóa Khoa năm sinh dựng cho cung này một lớp bảo vệ mà chỉ thử thách mới đo được dày mỏng. Cung này còn hé lộ duyên phận ngoài hôn nhân và người đến sau trong lần tái hôn.
Hàm nghĩa cơ bản của cung quan lộc
Cung quan lộc còn có tên là cung "danh cơ vận". Đó là chốn một người gửi gắm tinh thần của mình; qua cung này có thể luận kèm cả chuyện nghề nghiệp, học hành, lẫn trạng thái tinh thần khi làm việc.
Năng lực làm việc của mệnh tạo cùng những vinh nhục trong sự nghiệp, từ thăng chức, giáng chức cho tới đổi nghề, mất việc, đều do cung quan lộc nắm giữ.
Tính cách ở cung mệnh được cung quan lộc tiếp nối và thể hiện thành hành vi bên ngoài. Đã có hành vi thì có nhân quả, vì vậy cung quan lộc cũng là nơi nghiệp lực trú ngụ. Hành vi ngay thẳng, lương thiện thì sự nghiệp dễ phát triển.
Chuyện học hành, thi cử hay dở ra sao cũng xem ở cung quan lộc. Muốn đoán cát hung của quan vận, công chức thì phối hợp thêm với cung phụ mẫu, tức cung của văn thư, công danh; còn xem vận thi tuyển thì phải tham chiếu cung nô bộc, tức đại chúng trong xã hội.
Cung quan lộc còn đại biểu cho duyên phận với người khác giới ở ngoài quan hệ vợ chồng (về điểm này còn có thuyết khác). Cung này có tứ hóa năm sinh thì rất dễ nảy sinh tình cảm ngoài hôn nhân. Với người ly hôn rồi tái hôn, cung quan lộc đại biểu cho người thứ hai, cho nên tình duyên sau khi tái hôn cũng xem ở đây.
Đặt cung quan lộc làm cung vị "1" thì đếm nghịch đến "6" là cung huynh đệ. Theo lẽ "nhất lục cộng tông" của Hà Đồ, hai cung quan lộc và huynh đệ có khí trường tương ứng.
Cũng đặt cung quan lộc làm cung vị "1" thì đếm nghịch đến "8" là cung tử nữ, nên cung tử nữ là cung vị "tuyệt tình" của cung quan lộc. Những thất bại trong giao tế, hợp tác, sự nghiệp đều phát sinh từ cung tử nữ.
Tứ chính của cung quan lộc là cung quan lộc, cung phụ mẫu, cung phu thê, cung tật ách; tứ chính là "thể", là "tĩnh". Tam phương của cung quan lộc là cung quan lộc, cung mệnh, cung tài bạch; tam phương là "dụng", là "động".
Cung tài bạch là cung vị "khí số" của cung quan lộc; phần mình, cung quan lộc là cung vị "khí số" của cung mệnh.
Theo phép chia mười hai cung ra bản cung và đối cung, khi cung quan lộc là bản cung thì cung phu thê là đối cung. "Quan phu" hợp thành một thái cực, và tuyến "quan phu" gọi là tuyến "công danh".
Huyền nghĩa của cung quan lộc
Từ chỗ là nơi ký thác tinh thần, cung quan lộc còn cho thấy một người giữ mình ra sao giữa công việc: mềm hay cứng, tiến hay thủ.
Từ cung quan lộc có thể đoán ra năng lực ứng xử cảm xúc, chí hướng và tham vọng trong sự nghiệp của một người. Cũng từ đây mà biết công việc đang làm có hợp hay không, năng lực được thi thố hay bị kìm hãm, thậm chí cả những tình huống như thất nghiệp hoặc vướng vào chuyện phạm pháp. Trước tiên hãy xét trường hợp cung quan lộc có Văn Xương, Văn Khúc: năng lực ứng xử cảm xúc trong nghề nghiệp của người này có cao không?
Văn Xương, Văn Khúc ở cung quan lộc
Trong Tử Vi Đẩu Số, Văn Xương và Văn Khúc là hai sao lễ nhạc. Văn Xương thành danh nhờ khoa cử: xuất thân từ tầng lớp trí thức, thành tài theo lối trường lớp chính quy, làm công việc chuyên môn mang tính học thuật, thiên về lý luận, lại hàm dưỡng được phong thái văn nhã. Văn Khúc thì lập công danh ngoài con đường chính quy: không nhờ khoa cử mà thành tài, đi theo hướng có kỹ năng đặc biệt, phát triển về nghệ thuật như nghệ thuật biểu diễn, biểu diễn nhạc khí, sáng tác tiểu thuyết, làm nhạc sĩ, họa sĩ…
Văn Xương, Văn Khúc đóng ở cung quan lộc sẽ làm các sao khác trong cung trở nên nhu hòa hơn; lực bạo phát của hung tinh cũng có thể được hòa hoãn. Nhờ đó năng lực ứng xử cảm xúc trong nghề nghiệp tăng lên, cảm tính và tính nhu hòa nhiều thêm, lối xung động đột ngột giảm đi tương đối. Phối hợp với các sao khác trong cung quan lộc, hai sao này phát huy những tính chất như sau.
Một là thiên về lý thuyết, học thuật, mang tính nhu và cảm tính; tương đối tuân thủ điển chương, quy chế, quy phạm nơi làm việc; tính chống đối cùng lối tư duy bất mãn bớt đi, trong khi tính hợp quần và lý tính tăng thêm.
Hai là ham hiểu biết, ham học hỏi, có nét mọt sách, tuân thủ pháp luật; dễ câu nệ nguyên tắc mà không giỏi quyền biến; tính quả quyết và độ tích cực tương đối giảm; trên đường nghề nghiệp thì tiến bộ theo từng bước một.
Ba là Văn Xương nghiêng về chế độ, điển chương, Văn Khúc nghiêng về biện giải bằng ngôn ngữ, văn từ; Văn Xương chuộng thứ tự lớp lang, phân minh, Văn Khúc thì tỉ mỉ, kỹ càng, tế nhị. Tính chất chung của cả hai là không thích làm lớn chuyện, có khuynh hướng khoa trương, phù phiếm, hư giả mà thiếu thực chất, che đậy cái xấu.
Bốn là thích suy nghĩ, thích nghiên cứu sâu, nên "không gấp mà cũng không hoãn" cũng thuộc về tính chất của hai sao này; cũng không loại trừ khả năng xuất hiện sự nhu nhược, thiếu quyết đoán, trù trừ, do dự, không cương quyết.
Nếu Văn Xương và Văn Khúc cùng ở cung quan lộc thì người này học rộng hoặc tài cao, tư duy tế nhị, tính khá nhu hòa, nặng cảm tính, thậm chí xử sự bằng cảm tính thay cho lý trí. Phong thái văn nhã của họ mang tính "thu vào": không phách lối, không thích ra oai, lại dễ gần gũi. Chỗ đáng ngại là quá giàu cảm tính và nhu hòa, bản thân hay lý tưởng hóa, đòi hỏi việc gì cũng phải thật hoàn mỹ, tinh tế, đến nỗi quên mất đại thể.
Hóa Khoa năm sinh và "lớp bảo vệ" của ngã cung
Khi Hóa Khoa năm sinh đóng ở "ngã cung" thì cung ấy xem như đã sẵn có một lớp bảo vệ. Chưa bàn đến chuyện cung đó có thực lực hay không, chỉ biết mặt ngoài đã được phòng thủ rất tốt. Cần nói thêm rằng Hóa Khoa, cũng như ba hóa kia, không ưa nhập cung tật ách, bởi ở đó nó không sao phát huy được tác dụng trong sinh hoạt thường ngày.
Mệnh tạo có Hóa Lộc và Hóa Kị đều ở "ngã cung", Hóa Khoa thì ở cung quan lộc, sẽ là người mà tinh thần, ý chí, tình cảm cho đến tiết tháo đều rất đúng đắn, bình dị, tự nhiên. Trong học tập, trong công việc, trong sinh hoạt ngủ nghỉ hằng ngày, thậm chí cả khi đối diện sự tình hiểm nguy, cấp bách, họ vẫn giữ nguyên khí độ ung dung. Chỉ có điều, đã gọi là "lớp bảo vệ" thì phải qua thử thách mới biết nó dày hay mỏng, không giống Hóa Khoa ở cung tài bạch hay ở cung mệnh, vốn chỉ cần nhìn là biết ngay.
Hóa Khoa năm sinh ở cung tài bạch thì mệnh tạo có thể đem sở học ra phát huy lĩnh vực chuyên môn; nhưng nghề nghiệp ấy thuộc đẳng cấp cao hay thấp thì lại do cung quan lộc quyết định. Vì vậy, khi cung tài bạch có Hóa Khoa năm sinh lại tự Hóa Khoa, lĩnh vực chuyên môn thường được phát huy đến tột bực, bởi tác động của Hóa Khoa sẽ dẫn khởi phản xạ của tự Hóa Khoa. Đối với mệnh tạo, tác động ấy là sự phát huy năng lực theo hướng tích cực; hơn thế, hình thức bên ngoài thì ai cũng thấy rõ, miễn là thỏa điều kiện tiên quyết: Hóa Lộc và Hóa Kị chia ra nhập "ngã cung".
Trường hợp cung quan lộc có Hóa Khoa năm sinh lại tự Hóa Khoa, mà Hóa Lộc và Hóa Kị năm sinh đều ở "ngã cung", thì đó là người biết một suy ra mười, từ mẫu mực sẵn có mà nhân rộng ra, lại dung chứa được những cái khác, có hiệu năng cải thiện phẩm chất, hoặc đạt tới cảnh giới tinh vi, chu đáo, hoàn thiện. Trong điều kiện ấy, cơ chế Hóa Khoa gặp tự Hóa Khoa có cơ hội chuyển biến theo hướng tốt.
Trái lại, khi Hóa Lộc và Hóa Kị không ở "ngã cung", nghĩa là cung quan lộc có Hóa Khoa năm sinh lại tự Hóa Khoa giữa lúc Hóa Lộc và Hóa Kị nằm ở những cung vị không thỏa đáng, thì thái độ tích cực lấy công làm thủ không còn nữa. Tri thức vốn phải nỗ lực mới có được sẽ tiêu ma dần, hoặc mệnh tạo sinh tính thủ cựu, cố chấp, không thích nghi nổi với trào lưu thời đại để tiếp thu cái mới. Ấy là thái độ tiêu cực lấy thủ thay công, vì thế sẽ có xu thế từ thịnh chuyển sang suy.
Khi luận đoán lực tác động của Lộc, Quyền, Khoa, Kị, không được dùng lối cắt đoạn; phải quan sát toàn diện mọi mặt rồi mới phân tích, có thế mới đạt tới cảnh giới cao thâm của Tử Vi Đẩu Số.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)
