Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Cung Mệnh Trong Tứ Hóa Phái: Hàm Nghĩa, Địa Chi, Trường Sinh Và Chính Tinh

Tử Vi Bắc Phái - Nhập môn16/09/202626 phút đọc3 lượt đọc
Cung Mệnh Trong Tứ Hóa Phái: Hàm Nghĩa, Địa Chi, Trường Sinh Và Chính Tinh

Cung mệnh là hình ảnh thu nhỏ của đời người, chủ về tính cách, nối với cung tật ách theo nguyên tắc nhất lục cộng tông và lấy cung nô bộc làm tuyệt tình. Vì vậy, vị trí địa chi cũng góp phần định hình con người: mệnh an ở mỗi cung từ Tí đến Hợi mang một nét cá tính và thiên hướng nghề nghiệp riêng. Xét theo vòng trường sinh, các cung an mệnh chia thành ba nhóm: Tí Ngọ Mão Dậu, Thìn Tuất Sửu Mùi và Dần Thân Tỵ Hợi. Ưu khuyết điểm của mười bốn chính tinh độc tọa cùng hai mươi sáu tổ hợp song tinh khi thủ mệnh được phân định rõ ràng. Điều bất ngờ là mười bốn chính tinh, vốn được xem như gương mặt của lá số, lại chỉ là phần nổi của tảng băng.


Hàm Nghĩa Và Huyền Nghĩa Của Cung Mệnh

Hàm nghĩa cơ bản của cung mệnh

Cung mệnh là hình ảnh thu nhỏ "mệnh" của một người trong mệnh vận, là chủ đạo sự cao thấp và vận thế tiên thiên của mệnh cách, đại biểu cho mọi thứ mệnh tạo sở hữu, bao gồm cá tính, diện mạo, tài năng.

Tứ hóa của can cung mệnh đại biểu cho sự thành bại và vận thế cao thấp của cách cục hậu thiên, cũng quan trọng như tứ hóa năm sinh thuộc cách cục tiên thiên. Cung mệnh tự Hóa Kị, một đời cứ ôm phiền não trong lòng, là người đa nghi, hay thấp thỏm, bồn chồn, thường mắc nợ, phải trả giá cho những chuyện này.

Cung mệnh chủ về những điều then chốt của tính cách: cung mệnh là "tính", cung tật ách là "tâm", cung quan lộc là chủ về "hành vi", cung phúc đức là chủ về "tâm trạng"; hợp lại là phần hình nhi thượng của con người!

Cung mệnh đếm nghịch đến cung thứ 6 là cung tật ách; cung mệnh và cung tật ách, theo Hà Đồ là "nhất lục cộng tông", giữa hai cung có khí trường tương ứng.

Cung mệnh là "1", cung nô bộc là cung vị đếm nghịch đến "8", là cung vị "tuyệt tình" của cung mệnh. Tức là mệnh của một người thành bại phần nhiều do tuyệt tình trong các sự cố giao tế.

Cung mệnh, cung tử nữ, cung thiên di, cung điền trạch là tứ chính của cung mệnh; tứ chính là "thể", là "tịnh". Cung mệnh, cung tài bạch, cung quan lộc là tam phương của cung mệnh; tam phương là "dụng", là "động".

Cung vị "khí số" của cung mệnh là cung quan lộc; cung mệnh cũng là cung vị "khí số" của cung tài bạch.

Mười hai cung chia thành bản cung và đối cung; cung mệnh là bản cung thì cung thiên di là đối cung, cung mệnh và cung thiên di hợp lại thành thái cực, tuyến "mệnh di" là tuyến "hoạt động".

Huyền nghĩa của cung mệnh

Chính tinh của cung mệnh biểu thị diện mạo, hình tượng bề ngoài của mệnh tạo, điều mà người ta nhìn một cái là thấy ngay, cảm nhận được, cá tính lộ ra rõ rệt. Cho nên diện mạo của một cá nhân có thể làm cho người khác ưa thích hay ghét bỏ, như diện mạo toát ra khí chất cao thượng thanh nhã, hay diện mạo giống như một người có tính xấu, hoặc vẻ mặt vui vẻ dễ gần gũi thân thiết. Điều này ngoại trừ do di truyền, đại đa số thành phần là từ cung quan lộc chuyển nghịch qua cung điền trạch đến cung phúc đức, cung phụ mẫu rồi tới cung mệnh, mà nhào nặn ra một hình tượng của sự dung hợp hai trạng thái khác nhau. Nếu lấy quan hệ tam hợp để luận giải: cung mệnh là cung vị tài bạch của cung quan lộc, đó là hấp thu men tiêu hóa tri thức của cung quan lộc, là hiện tượng biểu trưng cho trí tuệ bộc lộ ra bên ngoài.

Đương nhiên, nhất định phải hiểu rõ công dụng của cung quan lộc, cung điền trạch, cung phúc đức, cung phụ mẫu ở phương diện tâm lí, tức là ở lãnh vực nội hàm bên trong tâm hồn của con người, thì mới có thể đoán mệnh một cách tinh tế và chính xác. Dù nói là "đoán mệnh một cách tinh tế và chính xác", thì đây cũng chỉ là chỉ ra một cách tỉ mỉ xu thế tuyến tính của mệnh vận, là một kiểu tính toán thuộc phạm trù thống kê xác suất; mà đã là thống kê xác suất thì không có đáp án tuyệt đối. Tức là nói, trong xu thế tuyến tính nhất định luôn tồn tại biến số, cho nên không phải tuyệt đối một trăm phần trăm; đã không thể tính toán ra kết luận tuyệt đối, thì không có cái gọi là "túc mệnh". Đó cũng là ý nghĩa thật sự của việc đoán mệnh, vì vẫn còn phần biến số dành cho chính bản thân mệnh tạo quyết định; vì không ai khác, mệnh tạo chính là người tạo ra mệnh của mình. Nói cho cùng, nếu mệnh lí có thể đưa ra kết luận tuyệt đối, thì làm gì có chuyện "cải vận"?! Làm gì có phép "xu cát tị hung"?!

Như đã thuật ở trên, cung mệnh là cung dùng để luận đoán hình tượng bên ngoài và cá tính của một cá nhân. Về lí luận, tổng hợp thể của "từ quan lộc đến cung phụ mẫu" là nội tại của cung mệnh; cung mệnh là phần nổi của tảng núi băng, còn tuyệt đại bộ phận chìm dưới mặt biển của tảng băng là cung tật ách. Cung mệnh là cung vị biểu hiện (cung vị giao dịch) của cung quan lộc; về nhận thức, cung mệnh không cách nào biểu hiện ra được toàn bộ nội hàm mà cung quan lộc sở hữu, nhưng cung mệnh lại là đại biểu của cung quan lộc. Do các sao ở cung mệnh tổ hợp thành, cung mệnh còn có ý nghĩa dung hợp của hai trạng thái khác nhau, cho nên các sao ở cung mệnh còn có công dụng và sứ mệnh khác; đây cũng là nơi tạo ra bước ngoặt từ tinh thần, trí tuệ, tri thức chuyển thành tình tự, cảm xúc.

Từ cung tài bạch đi thuận theo hướng chiều kim đồng hồ (là tiền bạc vật chất và dục tình) đến cung mệnh, cũng sẽ đối mặt với sự chuyển biến thành năng lực tinh thần, tiếp tục hướng tới cung phụ mẫu. Cung mệnh là hào ngũ của cung tài bạch, tức là nơi then chốt kiểm soát về tiền bạc vật chất và dục tình. Cung mệnh là thức ăn vật chất, còn cung thiên di là thức ăn tinh thần.

Quan Hệ Giữa Cung Mệnh Với 12 Cung Vị Địa Chi

Mệnh bàn Tử Vi Đẩu Số có 12 cung chức, bao gồm nhiều lãnh vực của sinh mệnh như quan hệ lục thân, tâm tính, tâm trạng, tiền tài, sự nghiệp, bệnh tật, thậm chí là tình hình vinh khô hưng suy của tài sản, bất động sản. Chỉ cần suy nghĩ kĩ sẽ phát giác cổ nhân đã dụng tâm gian khổ thế nào khi thiết kế 12 cung chức này; còn bố cục và cách an bài các tổ hợp tinh diệu thì thật là tinh tế, bất luận thời đại tiến bộ như thế nào cũng khó ra khỏi sự miêu tả của mệnh bàn.

Nếu hiểu các cung chức một cách sâu sắc, có thể đoán ra tính chất nhân cách, nghề nghiệp của một người, cách cục cuộc đời cao hay thấp, còn có thể biết được đời sống hôn nhân có hạnh phúc hay không, kết hôn muộn hay kết hôn sớm!

Sau khi định được vị trí của cung mệnh, vị trí các cung khác sẽ theo thứ tự mà bày ra. Căn cứ cung vị (địa chi) mà cung mệnh tọa lạc, có thể đoán được sơ lược về cá tính của một người, như sau.

Người tọa mệnh ở cung Tí

Sức tưởng tượng phong phú, tâm trạng lên xuống với biên độ lớn; trong tình cảm và hôn nhân dễ gặp sóng gió trắc trở, duyên hôn nhân của họ không bình thường, cảnh ngộ về tình cảm trước lúc kết hôn hay thay đổi, sau khi kết hôn dù không hạnh phúc cũng rất khó li dị, dù li dị rồi cũng sẽ "dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng". Nhưng người cung mệnh ở Tí có cơ hội thành "nhất đại tông sư", ví dụ như đại văn hào, bác sĩ nổi tiếng, mệnh lí đại sư, đại tài phiệt, tướng lãnh, danh nhân trên thương trường, hoặc danh ca, v.v... nhưng mệnh vận trái ngang của người này cũng có thể bại rất thảm, mức độ thăng trầm rất lớn. Người cung mệnh ở Tí, sau khi kết hôn, về tình cảm họ vẫn có thể còn rất nhiều hoa nguyệt, và cũng dễ xảy ra sóng gió.

Người tọa mệnh ở cung Sửu

Có nhân sinh quan cô độc, cao ngạo, không hợp quần, mắc phải phức cảm vĩ cuồng; phần nhiều thuộc tầng lớp chủ quản của nhóm đi làm việc, hoặc làm ông chủ, làm quan, công chức, giám đốc xí nghiệp... Điều đáng quý là họ biết được giới hạn của mình; dù tư duy rất phóng túng, hành sự nhiều lúc cũng xung động, nhưng không vượt qua quá xa những điều mà họ coi là quy tắc!

Người tọa mệnh ở cung Dần

Chiếm đa số là mẫu người lao tâm, không cách nào ngồi yên ở nhà; trong nghề nghiệp, họ thích công việc có tính đầu tư hay cổ đông hợp tác; họ là người thích dựa vào kế hoạch để thực hiện; nhiều vất vả nhưng cũng khá lạc quan. Thông thường, họ không chịu yên phận làm việc hưởng lương, cũng không thích hợp làm nhân viên công chức. Một khi họ xuất hiện ở cấp chủ quản thì khá kiệt xuất ở các lãnh vực như kinh doanh về truyền thông, chế tạo, hàng không, giao thông, vận chuyển hàng hóa, trong đó cũng có không ít tướng lãnh cao cấp.

Người tọa mệnh ở cung Mão

Thường là người linh hoạt, mẫn tiệp, đối với mọi việc họ đều có sự cảm thụ rất mạnh. Người tọa mệnh ở Mão phần nhiều văn võ toàn tài, tính tích cực khá cao, hơn nữa cũng khá xem trọng đời sống tinh thần và sinh hoạt tình cảm; xuất hiện trong các ngành nghề thường là nhân vật phò tá, như phó tổng giám đốc, phó giám đốc... Vì bẩm sinh có tính tích cực và có năng lực cảm thụ và suy đoán khá mạnh, cho nên có thể rất nổi tiếng và có sức ảnh hưởng với nhiều người, như siêu sao ca nhạc, đại sư mệnh lí, bác sĩ tâm lí.

Người tọa mệnh ở cung Thìn

Cung Thìn và cung Tuất trong mệnh bàn Tử Vi Đẩu Số được gọi chung là "Thiên La Địa Võng", đáng để tốn thời gian nghiên cứu. Tính chất của người tọa mệnh ở hai cung này cũng có một số chỗ "kì dị"; khảo nghiệm nghiêm khắc một chút thì đây là cung vị an mệnh của những người "thắng thì làm vua, thua thì làm giặc", như các anh hùng, gian hùng, đại nhân vật, hoặc các nhân vật truyền kì trong lịch sử... Thông thường người cung mệnh ở Thìn đều có lòng tự tôn rất mạnh, nhưng cũng dễ biến thành mặc cảm tự ti. Kết quả của hai loại khí cao thấp va chạm nhau là sinh ra một loại năng lượng đặc biệt, cho nên họ có cái khí thế oai nghiêm không chịu khuất phục; họ cũng có thể thoát khỏi những gông cùm trong vô hình đã tạo thành vết thương trong cuộc sống, trong tình cảm. Nhưng một khi thành công thì họ là đại nhân vật, ví dụ như hoàng đế, tổng thống, tổng giám đốc, viện trưởng, bộ trưởng, hiệu trưởng, tướng soái, v.v... đương nhiên cũng có thể thành đại ca, lão đại trong giới xã hội đen.

Người tọa mệnh ở cung Tị

Người tọa mệnh ở cung này thường khá lao tâm, nhưng không thuộc loại lao lực; về cá tính là người thẳng thắn, cởi mở và thông minh, có năng lực phân tích rất tốt, có kiến giải độc đáo, nhưng cũng thường thấy có một số người có cách suy nghĩ không thoáng, ưa tự trói mình vào những sự việc không thể giải quyết được. Người cung mệnh ở Tị không cách nào ngồi yên đợi ở nhà hoặc yên phận ở quê cha đất tổ; nếu không dời đi nơi khác ở, thì cũng vì công việc mà phải bôn ba. Về nghề nghiệp, thường thấy họ là vận động viên, cầu thủ, siêu sao thể thao, cố vấn xí nghiệp, nhân viên điều tra, nhân viên quân cảnh, v.v... Thông thường, người cung mệnh ở Tị cũng có thể thành chuyên viên tham mưu, phụ tá trọng yếu.

Người tọa mệnh ở cung Ngọ

Thông thường, mệnh ở cung vị này về cá tính là khá tích cực, cá tính mạnh mẽ, phần nhiều đều là người có năng lực, hay chủ động lo lắng cho người khác, khiến người ta dễ nảy sinh lòng kính nể, hoặc có cảm giác họ là người cao ngạo. Thế giới tình cảm của người này, dù giữa vợ chồng không được vui vẻ, hạnh phúc, họ vẫn giữ nét mặt bình thường, không để người ngoài biết chuyện. Về nghề nghiệp thường thấy họ là bác sĩ, đạo diễn điện ảnh, giáo sư, thầy giáo, chủ nhiệm giáo vụ, tướng quân, kí giả, nghị sĩ dân biểu, ủy viên lập pháp, nhà tư vấn tâm lí, v.v...

Người tọa mệnh ở cung Mùi

Phần nhiều có tính tình quái dị, bảo thủ, thâm trầm, ý thức về "cái tôi" khá mạnh, khó giao lưu, cũng khó tiếp nhận ý kiến của người khác, hay khoa trương để che giấu khuyết điểm của mình, hoặc trái tính trái nết. Về nghề nghiệp, thường thấy họ là chính trị gia, nhân viên công vụ, nhà kinh tế học, thương nhân, chủ công ty hay cửa hiệu, chủ tiệm tạp hóa, v.v...

Người tọa mệnh ở cung Thân

Phần lớn thuộc mẫu người rất tự tin, tự giữ kỉ luật, năng lực lí luận cũng tốt, làm việc vững vàng, có tinh thần trách nhiệm, nhưng thường hay buồn rầu lo nghĩ; quá nửa trong số người mệnh ở cung vị này đều thuộc loại duy mĩ hoặc có tính cầu toàn. Về nghề nghiệp, thường thấy họ là nhà khoa học, chuyên viên nghiên cứu, thẩm phán, luật sư, giáo sư, tài xế, nhân viên y tế, nhân viên bảo hiểm, tác gia, nhà thầu công trình, v.v...

Người tọa mệnh ở cung Dậu

Dậu là thuộc kim, kim có tính "thu vào", cũng có tính quyết đoán, cho nên người lập mệnh ở cung vị này phần nhiều khá lạnh nhạt với danh lợi, bản thân rất biết tự tiết chế, khá khách quan, tâm cảnh bình tĩnh nhìn đời với thái độ bàng quan, là người xem trọng hiện thực và chú trọng nền tảng. Về nghề nghiệp, thường thấy họ là người trong giới tư pháp, nhân viên giáo chức, tổng biên tập, tác gia, học giả, kế toán, nhân viên kiểm toán, v.v...

Người tọa mệnh ở cung Tuất

Thìn và Tuất được gọi chung "Thiên La, Địa Võng"; người tọa mệnh ở hai cung vị này có cá tính kịch liệt, nếu chẳng phải là anh hùng thì cũng là gian hùng. Nếu lực đạo không đủ để xung phá giới hạn thì thường thường sẽ thành "phàm phu tục tử". Nhưng người tọa mệnh ở cung Tuất có lòng tự tôn khá mạnh, không thích người khác phê bình hoặc can gián, phần nhiều là nhân vật hễ biết thì làm ngay; ở cung vị này thường xuất hiện những nhân vật ở cấp chủ quản khá kiệt xuất, ví dụ như thống soái, giám đốc, chủ tịch quận huyện, chủ tịch thành phố, thị trưởng, chủ tịch hội đồng, hiệu trưởng, người lãnh đạo của các đoàn thể, v.v...

Người tọa mệnh ở cung Hợi

Cung Hợi là đất thuộc thủy, cũng là đất Trưởng Sinh (trong Thập nhị Trưởng Sinh), cho nên người cung mệnh ở đây phần nhiều là có tính đa sầu đa cảm, sức tưởng tượng phong phú và có tinh thần hi sinh phụng sự, cũng thường thấy nhiều người có thiên phú hay tài nghệ đặc biệt. Nghề nghiệp thích hợp là triết gia, nhà tư tưởng, nhà âm nhạc, nghị sĩ, thầy giáo, diễn viên, mục sư, tài xế taxi, v.v...

Quan Hệ Giữa Cung Mệnh Với Thập Nhị Trưởng Sinh

Trong mệnh bàn Tử Vi Đẩu Số có 12 cung vị, cung nào cũng có thể là cung mệnh; 12 cung vị này theo thứ tự là Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Các cung vị có thể chia thành ba nhóm lớn; tuy cách phân loại này có hơi sơ lược, nhưng có thể đoán đại khái cá tính của một người và sơ lược về xu thế mệnh vận của họ. Có thể xem đây là tư liệu thú vị để tham khảo sơ bộ về hành vi tạo tác của mệnh tạo.

Cung mệnh ở đất Tứ Bại: Tí, Ngọ, Mão, Dậu

Các cung Tí, Ngọ, Mão, Dậu được gọi là đất "Tứ Bại", hoặc đất "Đào Hoa", là có nguồn gốc từ "Mộc Dục" trong "Ngũ hành thập nhị Trưởng Sinh", do trong quá trình an sao đều rơi vào 4 cung vị Tí, Ngọ, Mão, Dậu. Cổ nhân mang Mộc Dục kết hợp với đào hoa và liên tưởng mối quan hệ mật thiết của chúng, cho rằng các cung vị này tiếp cận đào hoa, và cũng sẽ nhiều lần lâm vào cảnh thất bại; đây có lẽ là câu dùng để cảnh tỉnh người đời! Nhưng phân tích sâu thêm một bước, sẽ phát giác mệnh tọa ở các cung Tí, Ngọ, Mão, Dậu có rất nhiều chỗ phù hợp với ý tưởng trên. Hai cung Tí, Ngọ là hai cung vị hoạnh phát hoạnh bại, còn hai cung Mão, Dậu mới gọi là đất "Đào Hoa". Người tọa mệnh ở cung Tí hoặc Ngọ khá lạc quan, biên độ biến động thay đổi trong cuộc đời cũng khá lớn, vận thế thăng trầm dễ tạo thành cục diện hoạnh phát hoạnh bại; mệnh tạo còn dễ bộc lộ hỉ, nộ, ai, lạc trên sắc mặt. Tuy nói đây là mệnh tọa đất "Đào Hoa", nhưng không phải là ra khỏi vòng lễ giáo, mà là trong cuộc đời sẽ có nhiều lúc "du hí nhân gian", nếm trải cuộc đời thành bại, mọi thứ sẽ đến mau rồi đi mau. Lí do họ lạc quan hơn những người tọa mệnh ở 8 cung vị khác không phải vì họ không biết tính toán, hay không biết lo xa, cũng không phải là họ không biết ưu phiền, mà hỉ nộ là do tính của họ. Tóm lại, người mệnh tọa 4 cung vị này, về cá tính khá là phong lưu, đối với công việc thì có tinh thần trách nhiệm, một đời sẽ vì tiền, vì tình mà bôn ba vất vả!

Cung mệnh ở đất Tứ Mộ Khố: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi

Các cung vị Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gọi là đất "Tứ Mộ", hoặc gọi là đất "Tứ Khố". "Mộ", "Khố" đều có hàm ý là thu giữ, cất giấu, cũng có ý tượng bảo thủ, thận trọng. Cho nên mệnh ở 4 cung vị này là người khá cương trực, mộc mạc, khá nhẫn nại, và cũng khá vất vả; tính chất của họ là "giàu cũng liều, mà nghèo cũng liều". Lúc bị hiện thực bức bách họ sẽ cho rằng không làm không được, nhưng dù biến thành đại phú gia, họ cũng sẽ cho rằng "con người sống là để làm chuyện tốt"; đối với thế giới này, dẹp tiền bạc qua một bên khoan nói tới, dường như họ đến trần gian là để "trả nợ", trả cái nợ lao tâm, trả cái nợ lao lực!

Cung mệnh ở đất Tứ Mã: Dần, Thân, Tị, Hợi

Gọi là "Tứ Sinh" chính là 4 cung vị đều ở đất Trưởng Sinh; còn gọi "Tứ Mã" là vì Thiên Mã chỉ ở 4 cung vị này, cho nên 4 cung vị Dần, Thân, Tị, Hợi được gọi là đất Tứ Sinh hay Tứ Mã. Người cung mệnh ở 4 cung vị này sẽ có đặc trưng gì? Phần lớn đều thuộc mẫu người không chịu ngồi yên, bôn ba, hành động mau lẹ mẫn tiệp, khá xem trọng tài lợi, quan niệm kiếm tiền khá uyển chuyển, rất nhạy bén trong việc ngửi thấy mùi tiền. Trong đó, cổ nhân đánh giá khá cao người có mệnh tọa cung Dần và cung Hợi, gọi cung Dần là "sơn đầu" (đầu ngọn núi), còn gọi Hợi là "yếu địa" (đất trọng yếu). Tức là nói, nam nữ tọa mệnh ở hai cung vị này thường là phú quý song toàn. Bất luận nam nữ, cá tính độc lập, sẽ có tạo tác lớn lao; cho nên gặp người cung mệnh tọa lạc ở cung Dần hoặc cung Hợi thì không nên xem thường, có thể họ sẽ thành đại phú gia, hoặc có thành tựu lớn!

Ưu Khuyết Điểm Của Các Chính Tinh Lúc Ở Cung Mệnh

Trong số các sao lớn nhỏ của Tử Vi Đẩu Số, có sức ảnh hưởng lớn nhất là nhóm sao cấp 1, gồm 14 chính tinh là Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.

Trong cung mệnh có thể là một chính tinh tọa thủ, hai chính tinh cùng tọa thủ, hoặc vô chính diệu. Độ cường nhược của các sao trong cung mệnh là y cứ trọng yếu lúc luận giải mệnh bàn, nhưng cũng không được lấy các sao tọa lạc ở cung mệnh để giải đoán một cách vô giới hạn, mà cần phải mang toàn bộ các sao như chính tinh, hung tinh, cát tinh, phụ tinh và tứ hóa trong cung mệnh tạo thành một sự liên quán, và dung hợp với cục ngũ hành của mệnh bàn (thủy nhị cục, mộc tam cục, kim tứ cục, thổ ngũ cục, hỏa lục cục), mới có thể đưa ra luận đoán một cách tinh tế. Dưới đây là tóm tắt ưu khuyết điểm của các chính tinh tọa thủ cung mệnh.

Chính tinh độc tọa thủ mệnh

Tử Vi độc tọa thủ mệnh. Ưu điểm: vững vàng, tự trọng, có năng lực quản lí. Khuyết điểm: chủ quan, ưa lộng quyền, dễ tin lời nói xấu.

Thiên Cơ độc tọa thủ mệnh. Ưu điểm: nhạy bén, có năng lực quan sát, giỏi cơ mưu và năng trí. Khuyết điểm: có mới nới cũ, giỏi biện luận, ưa khoe mạnh.

Thái Dương độc tọa thủ mệnh. Ưu điểm: nhiệt tình, khẳng khái, hiếu thuận, chăm lo cho gia đình. Khuyết điểm: cá tính xung động, thiếu tính nhẫn nại.

Vũ Khúc độc tọa thủ mệnh. Ưu điểm: cương nghị, thực dụng, xem trọng sự thành tín, độ lượng. Khuyết điểm: câu nệ, không tự nhiên, hấp tấp, nóng nảy, dễ nổi giận.

Thiên Đồng độc tọa thủ mệnh. Ưu điểm: ôn hòa, hòa hợp, khẳng khái, nhân từ, có lòng cảm thông. Khuyết điểm: thiếu chủ kiến, nặng tính ỷ lại, dễ xử sự bằng tình cảm.

Liêm Trinh độc tọa thủ mệnh. Ưu điểm: thông minh, hay đùa giỡn, thân thiện, hòa nhã, giỏi quan hệ. Khuyết điểm: đa nghi, hay đố kị, bụng dạ hẹp hòi.

Thiên Phủ độc tọa thủ mệnh. Ưu điểm: tính toán thận trọng, già dặn, vững vàng. Khuyết điểm: tự phụ, phách lối, thích ra oai, hấp tấp, nóng nảy, ưa khoe mạnh.

Thái Âm độc tọa thủ mệnh. Ưu điểm: khiêm tốn, hòa nhã, bình tâm tịnh khí, tế nhị, trọng tình cảm. Khuyết điểm: tác phong làm việc thiếu quả quyết, hay bị cảm xúc làm dao động.

Tham Lang độc tọa thủ mệnh. Ưu điểm: thông minh, nhớ cái cũ, đa tài đa nghệ, thân thiện, hòa nhã. Khuyết điểm: dục vọng chiếm hữu mạnh, thích chuyện cao xa, hay đố kị.

Cự Môn độc tọa thủ mệnh. Ưu điểm: cẩn thận, bình tâm tịnh khí, thu vào trong, tế nhị, đủ sức chịu đựng trong nghịch cảnh. Khuyết điểm: cá tính hay thay đổi bất định, đa nghi, ngôn từ sắc bén, quá chủ quan.

Thiên Tướng độc tọa thủ mệnh. Ưu điểm: thông minh, mẫn tiệp, nhiệt thành, thân thiện, hòa nhã, nhớ chuyện cũ, trọng tình cảm. Khuyết điểm: thích khiêu khích, chủ quan, ưa can thiệp vào chuyện của người khác.

Thiên Lương độc tọa thủ mệnh. Ưu điểm: vững vàng, khiêm tốn, hòa nhã, giỏi phân tích và lập kế hoạch, suy nghĩ chu đáo. Khuyết điểm: cao ngạo tự phụ, cố chấp chủ quan, ưa tranh quyền, thích biện luận.

Thất Sát độc tọa thủ mệnh. Ưu điểm: thông minh, mẫn tiệp, nặng lí trí, tính toán cẩn thận, trí dũng song toàn. Khuyết điểm: hấp tấp, nóng nảy, phản nghịch, hay thay đổi bất thường.

Phá Quân độc tọa thủ mệnh. Ưu điểm: quan niệm tiến bộ, có năng lực khai sáng, khẳng khái, có tác phong rất quả quyết, can đảm và hiểu biết. Khuyết điểm: đa nghi, hay thay đổi, thường bị cảm xúc điều khiển, không có khẩu đức.

Hai chính tinh cùng thủ mệnh

Tử Vi, Phá Quân thủ mệnh. Ưu điểm: giàu sáng kiến, dũng cảm tạo ra cục diện mới, có lực khai sáng và xung kích. Khuyết điểm: cố chấp, phách lối, thích ra oai, tự phụ, ưa thể hiện mình, dễ trở mặt vô tình.

Tử Vi, Thiên Phủ thủ mệnh. Ưu điểm: vững vàng, cẩn thận, thông minh, hiếu học, có năng lực quản lí. Khuyết điểm: tính cách mâu thuẫn, tự phụ, ưa nắm quyền, thích làm kẻ cả.

Tử Vi, Tham Lang thủ mệnh. Ưu điểm: đa tài đa nghệ, giỏi vận dụng quan hệ giao tế, có thể bộc lộ ưu điểm của bản thân. Khuyết điểm: quật cường cố chấp, tham lam không biết chán, mắt cao hơn đầu.

Tử Vi, Thiên Tướng thủ mệnh. Ưu điểm: vững vàng, nặng lí trí, cẩn thận, có nguyên tắc, có năng lực quản lí. Khuyết điểm: cố chấp, ưa khiêu khích, không biết quyền biến, xử sự không xem trọng phương diện tình cảm.

Tử Vi, Thất Sát thủ mệnh. Ưu điểm: giỏi quyền biến, có năng lực quản lí, quan hệ giao tế tốt. Khuyết điểm: phách lối, thích ra oai, chủ quan, độc đoán, thích hành động một mình, ưa ra lệnh.

Thiên Cơ, Thái Âm thủ mệnh. Ưu điểm: sáng suốt, trầm tĩnh, tâm tư tế nhị, túc trí đa mưu. Khuyết điểm: tự tư tự lợi, ưa tính toán so đo, hay thay đổi, nặng tâm cơ.

Thiên Cơ, Cự Môn thủ mệnh. Ưu điểm: thông minh, bình tâm tịnh khí, mưu lược, có sức thuyết phục, giỏi lập kế hoạch. Khuyết điểm: chủ quan, đa nghi, ưa tính toán so đo, ngụy kế đa đoan, quan hệ giao tế thiếu hòa hợp.

Thiên Cơ, Thiên Lương thủ mệnh. Ưu điểm: tâm địa thiện lương, có khẩu tài, có năng lực tổ chức và lập kế hoạch. Khuyết điểm: cô tịch, thiếu nhẫn nại, hay đố kị, ưa tính toán so đo.

Thái Dương, Thiên Lương thủ mệnh. Ưu điểm: nhiệt tâm, hay lo cho người khác, năng lực lập kế hoạch không tệ, quan hệ giao tế rất tốt. Khuyết điểm: hấp tấp, nóng nảy, ưa làm cao, lời nói dễ chuốc oán.

Thái Dương, Thái Âm thủ mệnh. Ưu điểm: cần kiệm, nhiệt tâm, tâm tư tế nhị, có tính nhẫn nại, có năng lực thích ứng. Khuyết điểm: tâm trạng hay thay đổi, lúc nóng lúc lạnh, tư tâm khá nặng.

Thái Dương, Cự Môn thủ mệnh. Ưu điểm: trung thực, chân thành, có mưu lược, giỏi ứng biến, nhiều toan tính. Khuyết điểm: nặng tâm lí đầu cơ, đa nghi, nói chuyện dễ làm tổn thương người khác.

Vũ Khúc, Thiên Tướng thủ mệnh. Ưu điểm: thông minh, nhiệt tâm, nghiêm túc, cẩn thận, giỏi giang. Khuyết điểm: ưa can thiệp vào chuyện của người khác, xem trọng tiền bạc quá đáng, tính ưa khiêu khích, hay thay đổi.

Vũ Khúc, Thất Sát thủ mệnh. Ưu điểm: tích cực tiến thủ, kiên trì với lí tưởng và quan niệm của mình, trung thành với chức vị của mình. Khuyết điểm: chủ quan, cố chấp, không biết quyền biến.

Vũ Khúc, Phá Quân thủ mệnh. Ưu điểm: siêng năng, nỗ lực, nhiều toan tính, giỏi vận dụng quan hệ giao tế. Khuyết điểm: cố chấp, ưa tranh giành, tham lam không biết chán.

Vũ Khúc, Tham Lang thủ mệnh. Ưu điểm: nhiều toan tính, có thể chịu đựng khổ cực. Khuyết điểm: nặng tình dục và vật dục.

Vũ Khúc, Thiên Phủ thủ mệnh. Ưu điểm: "thu vào trong", trầm ổn, có tác phong rất quả quyết, có năng lực lãnh đạo và kinh doanh. Khuyết điểm: hấp tấp, nóng nảy, có tầm nhìn thiển cận, cố chấp.

Thiên Đồng, Cự Môn thủ mệnh. Ưu điểm: tình cảm phong phú, tâm địa thiện lương. Khuyết điểm: tâm trạng hay thay đổi, quật cường, ương bướng, thiếu năng lực khai sáng.

Thiên Đồng, Thiên Lương thủ mệnh. Ưu điểm: chuyên tâm học tập, hòa hợp với mọi người, suy nghĩ chu đáo, thông minh, mưu lược. Khuyết điểm: thiếu năng lực khai sáng, thiếu tích cực.

Thiên Đồng, Thái Âm thủ mệnh. Ưu điểm: tình cảm phong phú, tâm địa thiện lương, thân thiện, hòa nhã. Khuyết điểm: thường bị cảm xúc điều khiển, thiếu sức đề kháng áp lực, thiếu lực xung kích.

Liêm Trinh, Thiên Phủ thủ mệnh. Ưu điểm: sáng suốt, giỏi giang, có năng lực lập kế hoạch, có thể nắm được đại cục. Khuyết điểm: tham lam, đa nghi, cường bạo, phách lối, thích ra oai, mục hạ vô nhân.

Liêm Trinh, Tham Lang thủ mệnh. Ưu điểm: trực giác nhạy bén, có khẩu tài, có sức thu hút, nhiều tài nghệ, giỏi lập kế hoạch. Khuyết điểm: tranh cường hiếu thắng, hay đố kị, nặng tình dục, thiếu tính tự kiềm chế.

Liêm Trinh, Thiên Tướng thủ mệnh. Ưu điểm: hài hước, ưa đùa giỡn, đa tài đa nghệ, giỏi lập kế hoạch. Khuyết điểm: hiếu thắng, đa nghi, ưa mạo hiểm, không thực dụng.

Liêm Trinh, Thất Sát thủ mệnh. Ưu điểm: thế mạnh, giỏi giang, có khả năng làm việc độc lập, giỏi phân tích, lập kế hoạch. Khuyết điểm: hay thay đổi bất thường, cố chấp, đa nghi, quá nặng tâm lí phòng vệ.

Liêm Trinh, Phá Quân thủ mệnh. Ưu điểm: có sáng kiến, có tinh thần cạnh tranh, có năng lực chủ đạo. Khuyết điểm: thiếu tính dẻo dai, phách lối, thích ra oai, hay thay đổi, quá xem trọng "cái tôi".


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn