Bài tổng quan
Ý Tượng Cơ Bản Của Hóa Quyền, Hóa Khoa Và Hóa Kỵ
Hóa Quyền là lực thực hiện, biến nguyện vọng khởi từ Hóa Lộc thành hành động, và mối quan hệ giữa hai hóa diệu này được so sánh qua ngũ hành. Hóa Khoa lại mang sắc thái tuyên dương danh vọng, đồng thời có khả năng hóa giải tai ách do Hóa Kỵ gây ra, trong một quan hệ ngũ hành riêng với Hóa Kỵ. Hóa Kỵ được xem là kết cục tất nhiên của mọi sự việc, nên sự phân biệt giữa Hóa Kỵ ở ngã cung với Hóa Kỵ ở tha cung giữ vai trò quan trọng khi luận đoán. Cả ba hóa diệu đều được soi từ thùy tượng, qua phần lý giải sâu, tới ý tượng khi nhập từng cung. Dẫu mang tiếng là điểm kết thúc của mọi việc, Hóa Kỵ không hẳn lúc nào cũng là điều xấu.
Mục lục · 3 phần
Hóa Quyền
Thùy tượng của Hóa Quyền
Hóa Quyền có thể ví với ngọn lửa dữ dội, giống như sức nóng của mùa hè: thẳng thắn, thích ra oai, phách lối, cương liệt, có mưu lược, giàu có, tài năng, có năng lực cạnh tranh, ham muốn lãnh đạo người khác, có năng lực khai sáng. Hóa Quyền chủ về cần phải phô diễn thực lực mạnh mẽ của mình trong cạnh tranh để đạt được quyền lực và địa vị chủ đạo — tức tài phú của Hóa Quyền phải dựa vào cạnh tranh mới có được. Có được quyền thế và địa vị trong cạnh tranh hay không là do phương cách vận dụng tiền bạc; trong quá trình thực hiện gian khổ cũng sẽ xảy ra thị phi và tranh chấp, có lúc khó tránh rắc rối với bạn làm ăn.
Tóm tắt ý tượng cơ bản của Hóa Quyền: thực tiễn, quyền lực, danh vọng và uy thế, chuyên nghiệp, năng lực, hiệu suất; nghĩa khí, biến động, cải cách, thực dụng; cứng, lớn, mạnh, kĩ thuật, hao tổn tinh thần và hình thể, đích thân làm; chủ quan, thích ra oai, phách lối, suy đi tính lại, chiếm hữu, can dự, can thiệp.
Giải thích sâu về Hóa Quyền
Hóa Quyền thuộc hỏa, hỏa có tính nóng và hướng lên; sao có Hóa Quyền nhập vào sẽ có một hoạt lực đặc biệt. Lúc Hóa Lộc động tâm khởi niệm cho một nguyện vọng, lí tưởng, dục vọng, lòng tham, sẽ dừng lại ở "ý định" — đó chỉ là bắt đầu, mới thành hình trong đầu. Còn Hóa Quyền là thực hiện, là đưa ra hành động thực tế; sự thực hiện này tích cực, cảm giác có sứ mệnh, nghiêm túc, không ngừng nghỉ, vì để đạt thành nguyện vọng của Hóa Lộc mà siêng năng, chăm chỉ, cần mẫn.
Giả sử sao ở cung mệnh có Hóa Quyền nhập vào, mệnh tạo là người khá chủ quan — vì lực tác động của Hóa Quyền khiến năng lực và hình tượng của mệnh tạo được nâng lên — nên người này sẽ có khuyết điểm hay tự cho mình là đúng; dù biết rất rõ khuyết điểm của mình, vẫn không thể hạ mình nhận sai. Là người tự tin, tự phụ, còn luôn nhắm đến địa vị quyền uy; vì cảm thấy mình có sứ mệnh nên cho rằng mình là trung tâm của mọi người, nên trong một nhóm người họ khá nổi bật.
Lực tác động của Hóa Lộc là ở tưởng tượng, lực tác động của Hóa Quyền là ở thực hiện. Ngũ hành của Hóa Lộc thuộc kim, Hóa Quyền thuộc hỏa; kim của Hóa Lộc được hỏa rèn luyện mới thành dụng cụ, nên nếu không có Hóa Quyền tạo tác, thì không cách nào thành tựu nguyện vọng của Hóa Lộc. Trong mệnh bàn, thông thường khá vui khi thấy Hóa Lộc và Hóa Quyền cùng ở một nơi, nhưng chỉ tập trung ở "ngã cung" mới có ý nghĩa; nếu đều ở "tha cung" thì cũng giống như người khác ăn mà mình la nóng.
Nói về ý tượng cơ bản, Hóa Quyền có thể bảo vệ Hóa Lộc, là nhân tố thực hiện ý muốn của Hóa Lộc, vì Hóa Lộc mà phấn đấu, cũng là thần phù hộ của Hóa Lộc. Trong lí luận ngũ hành, kim của Hóa Lộc gặp thủy của Hóa Kỵ — theo nguyên lí "kim sinh thủy" — nguyện vọng của kim sẽ biến thành hư ảo, vì Hóa Kỵ là kết thúc, là kết cục; nên ý muốn của Hóa Lộc phải có Hóa Quyền thực hiện. Vì Hóa Quyền và Hóa Kỵ ở thế đối lập nhau, nên lúc ở cùng một cung sẽ thành cục diện "thủy hỏa giao chiến"; nhưng "thủy" không nhất định sẽ đánh thắng "hỏa" — việc phân thắng bại phải căn cứ thuộc tính ngũ hành của cung vị, và phân biệt các sao lớn nhỏ mạnh yếu mà luận thành bại. Thứ tự phân biệt sức mạnh của các sao như sau: Tử Vi, Thiên Phủ lớn hơn Thái Dương, Thái Âm; lớn hơn Vũ Khúc; lớn hơn Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang; lớn hơn Thiên Cơ, Liêm Trinh, Thiên Lương, Thiên Đồng, Thiên Tướng, Cự Môn; lớn hơn Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật.
Vì các sao có sự phân biệt lớn nhỏ, nên lúc sự kiện xảy ra có thể biết được cát hung họa phúc nặng nhẹ thế nào. Người có Hóa Quyền và Hóa Kỵ cùng ở cung mệnh thường tự mâu thuẫn, cũng không ưa bị ai gây sự — thử nghĩ, người mà trong lòng lúc nào cũng mâu thuẫn, tính khí đương nhiên nóng nảy và không ổn định, có thể gây sự được không? Ai đi gây sự với người này thì cũng giống như đùa với lửa.
Ngũ hành của Hóa Lộc thuộc kim, mà lực tác động của kim là ngưng tụ — từ dịch thể ngưng tụ thành thể rắn, hay mang linh kiện tổ hợp thành phẩm cũng là lực tác động của kim. Vì vậy nhà máy sản xuất sản phẩm tổ hợp cũng thuộc tính "kim"; lúc tập trung tinh thần nhìn chăm chú vật gì đó cũng là trạng thái có tính "kim"; lúc leo lên đỉnh núi, loại bỏ mọi tạp niệm, giữ tâm tình thoải mái, trong lòng khoan khoái nhẹ nhàng, đó cũng là ý cảnh của "kim". Trong sinh hoạt, tùy tiện, chẳng có nề nếp, trong nhà rối loạn không gọn gàng, thường có thể do khí "kim" bất túc hoặc ở vào những vận hạn mất khí "kim". Rất nhiều trẻ nhỏ lúc học hành không cách nào tập trung, hoặc có người mắt nhìn vật không cách nào chuyên chú, đó đều thuộc về khí "kim" của ngũ hành; nguyên nhân gây ra lo nghĩ, âu sầu cũng có quan hệ với khí "kim". Trong sinh hoạt thường ngày, có nhiều hiện tượng có thể quy nạp vào tính "kim", ví dụ như biên tập sách báo, hoàn chỉnh kịch bản truyền hình... đều thuộc về ý tượng của khí "kim". Rất nhiều người thấy hành "kim" liền liên tưởng đến vàng, kim loại; nhưng xin lưu ý, nghề nghiệp liên quan đến lãnh vực tài chính, tiền tệ lại thuộc mộc, không phải thuộc kim — nghề cổ phiếu chứng khoán cũng thuộc mộc. Không phải thấy tiền tệ thuộc "kim" mà cho rằng đó là nghề nghiệp thuộc kim, đây cũng là chỗ thường bị hiểu lầm.
Hóa Lộc thuộc kim, đó là tượng ý niệm và dục niệm ngưng tụ; từ "động tâm khởi niệm" cho đến ngưng tụ thành dục vọng, nguyện vọng, lòng tham, hi vọng... đều thuộc phạm trù của Hóa Lộc kim. Ví dụ, mong muốn giàu có, mong muốn có quyền lực, mong muốn học hành giỏi, mong muốn có chồng giỏi vợ đẹp, đều đã thành hình trong đầu; sự trông mong, nguyện vọng đều thuộc về lực ngưng tụ của khí "kim". Cho nên "kim" là khởi đầu của sự kiện. Những ý niệm này nếu không có hành động tạo tác thực tế, thì chỉ là vọng tưởng hay chỉ là khát vọng của nội tâm.
Kim của Hóa Lộc phải trải qua sự rèn luyện của Hóa Quyền hỏa mới "thành khí cụ"; nếu không, ý niệm của kim chỉ là hư ảo, không cách nào thành hiện thực. Vì vậy có thể xem Hóa Quyền là lực thực hiện, lực hành động. Lực tác động của hỏa là bốc lên, tức hướng lên, leo lên; phàm được thăng chức là thuộc phạm trù của "hỏa". Trong sinh hoạt thường ngày, có không ít hiện tượng thuộc về hỏa, ví dụ như chiến tranh, cãi vã, vì muốn có thành tích tốt mà nỗ lực học tập, thanh thiếu niên còn đang phát triển... đều thuộc "hỏa"; công xưởng sản xuất linh kiện là nghề nghiệp thuộc hỏa. Kịch liệt, quyền uy, không ngừng nghỉ... là những hiện tượng của Hóa Quyền.
Có thể xem Hóa Quyền là hành động thực hiện ý niệm của Hóa Lộc. Hóa Lộc được người ta thích chỉ vì có ước mơ — ước mơ tốt hay xấu là căn cứ tính của sao được Hóa Lộc nhập vào và cung nó tọa thủ để phân biệt; còn Hóa Quyền là lực thực hiện, lực hành động, lực đốc thúc. Cho nên trường hợp Hóa Quyền ở cung mệnh, thường là người chỉ trông cậy vào chính mình, tự đánh giá mình quá cao, mong họ khiêm tốn e rằng rất khó, muốn người khác không chú ý họ cũng khó, vì đó chính là tác dụng của Hóa Quyền.
Ý tượng của Hóa Quyền theo từng cung
Hóa Quyền chủ về dục vọng chiếm hữu mạnh, phát huy được tài năng, biểu hiện năng lực, ưa nắm quyền, tính cố chấp, theo ý mình. Nếu muốn kiếm tiền thuận lợi, hoặc sáng lập cơ nghiệp làm ông chủ, thì cung mệnh hay cung thân cần phải cùng lúc thấy Hóa Lộc và Hóa Quyền. Nếu chỉ có Hóa Quyền thì chỉ vẻ vang bề ngoài mà thôi; nếu chỉ có Hóa Khoa thì chỉ gặp quý nhân tương trợ, kiếm tiền khá nhẹ nhàng; cần phải gặp cả Hóa Lộc và Hóa Quyền mới có thể sáng lập cơ nghiệp thuận lợi.
Sao Hóa Quyền nhập cung mệnh: tính độc lập, kiêu ngạo, có chủ kiến, xử sự thận trọng, thích nắm quyền, ưa quản thúc người nhà mà không thích bị quản thúc, phàm chuyện gì cũng muốn đích thân làm, nên vất vả bận rộn. Sao Hóa Quyền nhập cung tài bạch: chủ về nắm tiền, có dục vọng cao đối với tài phú. Sao Hóa Quyền nhập cung quan lộc: có dục vọng cao đối với sự nghiệp, quyền lực, biểu hiện của bản thân dễ được ủng hộ, nhưng cũng chủ về vất vả; người có chức vị dễ lên chức vị cao hơn, cơ hội thăng tiến khá lớn.
Sao Hóa Quyền nhập cung lục thân: chủ về thích ra oai, phách lối, dễ đụng chạm với lục thân. Sao Hóa Quyền nhập cung phu thê: người phối ngẫu khá chủ quan, có năng lực. Sao Hóa Quyền nhập cung tử nữ: nhiều con cái, nhiều đào hoa, tính dục khá mạnh. Sao Hóa Quyền nhập cung thiên di: thích đi đó đi đây, được người ta xem trọng. Sao Hóa Quyền nhập cung phúc đức: chủ về lãng phí, hưởng thụ, ưa tạo sự chú ý. Sao Hóa Quyền ở cung tật ách: chủ về vất vả, dễ nổi giận, trở mặt rất nhanh. Sao Hóa Quyền nhập cung huynh đệ: anh em ưa can thiệp vào cuộc sống của mệnh tạo. Sao Hóa Quyền nhập cung phụ mẫu: rất có duyên với người khác giới, nhiều cơ hội đào hoa.
Hóa Khoa
Thùy tượng của Hóa Khoa
Hóa Khoa đại biểu cho tài năng hiển lộ, có phong thái và tiết tháo cao nhã, có danh tiếng, có trí tuệ và năng lực học tập, được khẳng định và nổi tiếng ở mức độ nhất định trong lãnh vực chuyên môn nào đó. Nó có thể ví với cảnh đẹp của mùa thu, nên phương thức kiếm tiền của Hóa Khoa là dựa vào tri thức chuyên môn và mức độ nổi tiếng.
Tóm tắt ý tượng cơ bản của Hóa Khoa: quý nhân, có phương pháp, giáo hóa, giáo dục, biến phức tạp thành đơn giản; hóa giải nguy cơ, thanh danh, danh dự, ổn định; nhu hòa, văn nhã, thanh mảnh, chất phác, nét đẹp không dung tục, nhỏ nhẹ; nội hàm, phong độ, lãng mạn, hiền hòa, không cố chấp.
Giải thích sâu về Hóa Khoa
Về bản chất, Hóa Lộc và Hóa Khoa là đối lập nhau, vì kim khắc mộc. Thuộc tính của Hóa Khoa là danh vọng, danh dự, trái ngược với thuộc tính tham lam, dục niệm trùng trùng của Hóa Lộc. Nhưng Hóa Khoa còn có công dụng làm nổi bật lực tạo tác của Hóa Lộc và Hóa Quyền, nên một khi Hóa Khoa và Hóa Lộc đồng cung là rất không bình thường — bối cảnh đó là nhờ tài năng đặc biệt nào đó mà nổi tiếng, tương tự như thương hiệu, nhãn hiệu nổi tiếng, hoặc quyền lợi đối với hình ảnh của mình, chứ không phải hình tượng, danh vọng hay danh tiếng đơn thuần.
Nếu Hóa Lộc là dục niệm, lòng tham, còn Hóa Quyền là dũng cảm xông tới chỗ Hóa Lộc sai khiến để làm bất cứ chuyện gì, thì Hóa Khoa cũng sẽ vì sự thiên vị này mà hết lòng tung hô "tiếng tốt" của chúng — hơi có ý vị "thêm cánh cho cọp", "giúp kẻ xấu làm chuyện ác". Vì Hóa Khoa thuộc mộc, còn Hóa Quyền thuộc hỏa, trong tình trạng mộc giúp hỏa thiêu đốt, nếu Hóa Lộc là tà niệm thì Hóa Khoa và Hóa Quyền sẽ hợp lực làm chuyện ác, "khí thế mạnh mẽ, không cách nào cản trở" — đó là lí do dẫn tới kết quả xấu của Hóa Kỵ. Nhưng vì Hóa Khoa còn có sứ mệnh thiên phú là hóa giải tai ách, hóa giải nguy cơ, nên Hóa Khoa cũng sẽ có động tác cứu vãn hậu quả của Hóa Kỵ.
Hóa Kỵ thuộc thủy, còn Hóa Khoa thuộc mộc; thủy sẽ sinh mộc, chỉ có mộc mới làm thông suốt được sự khó khăn của thủy — tức Hóa Khoa có thể giải tai ách của Hóa Kỵ. Hóa Khoa đóng hai vai trò rõ ràng: một là hạ mình trong động tuyến "Lộc Quyền" để làm tăng thanh thế Hóa Lộc và Hóa Quyền; hai là, bất luận đúng hay sai, đây đều là "sứ mệnh" — sau khi trải qua các tác động của Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, thì Hóa Kỵ là kết quả của chiến trường; nếu kết quả xấu, Hóa Khoa sẽ phát huy lực cứu vãn hay bù đắp; nếu kết quả của Hóa Kỵ tốt, thì Hóa Khoa được hưởng sự vinh diệu vô hạn.
Lúc luận giải ý tượng của tứ hóa, cần chú ý sao mà tứ hóa nhập vào là lớn hay nhỏ để tính toán tình trạng được mất, tốt xấu — đây là căn cứ rất quan trọng. Giả sử Hóa Kỵ đại vận nhập cung nô bộc của đại vận và xung cung huynh đệ của đại vận, thì trong đại vận này có thể xảy ra tai nạn bất ngờ; nhưng nếu trong cung huynh đệ của đại vận có Hóa Khoa đại vận, và sao Hóa Khoa lớn hơn sao Hóa Kỵ, thì chỉ kinh sợ mà không nguy hiểm. Giả sử Hóa Khoa đại vận ở cung huynh đệ của đại vận, còn Hóa Kỵ đại vận ở cung mệnh của đại vận, thì mệnh tạo sẽ bị thương nhưng không nguy hiểm đến tính mạng — hoặc mệnh tạo vô sự, nhưng thân hữu của mệnh tạo sẽ xảy ra chuyện.
Ngũ hành Hóa Khoa thuộc mộc; phàm là khoa danh, giáo hóa, nội hàm, phong độ, danh tiếng, lí tính, hiền hòa, không cố chấp, che đậy, tính bình thường, quý nhân trợ giúp, phùng hung hóa cát, đều thuộc phạm trù của Hóa Khoa. Toàn bộ động tuyến của tứ hóa là Hóa Lộc — động tâm khởi niệm — dẫn tới Hóa Quyền — thực hiện, thực tiễn — dẫn tới Hóa Khoa — tuyên dương, chính danh, giáo hóa — rồi tới Hóa Kỵ — kết cục. Trong động tuyến này, lực tác động của Hóa Khoa là làm rõ nét lực tác động của Hóa Lộc và Hóa Quyền, nên có các ý tượng như tạo lập danh vọng, làm cho thông, giáo hóa, tính bình thường, tính hợp lí... Nhưng ý tượng quan trọng nhất của Hóa Khoa lại thường bị bỏ sót, đó chính là công dụng hóa giải tai ách, "phùng hung hóa cát".
Ngũ hành của Hóa Kỵ thuộc thủy, còn Hóa Khoa thuộc mộc, thủy sẽ sinh mộc — nghĩa là mộc có thể hướng dẫn hung tính của Hóa Kỵ thủy đi theo hướng hợp lí. Giả sử kết cục của Hóa Kỵ là "xấu", thì Hóa Khoa mộc mới có đất dụng võ; phản ứng của nó trong hiện thực nhân sinh là, lúc Hóa Lộc và Hóa Quyền có tác dụng không thỏa đáng, để Hóa Kỵ mang lại họa tai, thì Hóa Khoa có thể phát huy công dụng điều tiết, hóa giải tai ách. Nếu sự cố quá lớn, đến nỗi Hóa Khoa không giải quyết được, thì Hóa Khoa cũng sẽ phản ứng bằng cách che đậy, khoa trương, giả tạo.
Muốn biết Hóa Khoa có thể hóa giải hoàn toàn lực phá hoại của Hóa Kỵ hay không, phải xem Hóa Khoa nhập vào sao lớn hay nhỏ: lúc sao Hóa Khoa lớn hơn sao Hóa Kỵ, có thể giải trừ nguy cơ; nếu nhỏ hơn, sẽ để lại hậu di chứng. Giả sử Hóa Kỵ vốn có kết cục tốt, mà trong cùng cung lại thấy thêm Hóa Khoa, đó lại là "chuyện xấu" — sẽ làm cho Hóa Kỵ thủy đang tĩnh lặng bỗng nổi cơn sóng gió ba đào. Tình trạng này giống như Hóa Kỵ nhập cung điền trạch: nếu Hóa Kỵ có kết cục tốt, tài phú của mệnh tạo có "kho giữ", nhưng có Hóa Khoa đồng cung thì lực tác động của Hóa Khoa càng là "xấu", ứng nghiệm trong cuộc sống hiện thực là chủ về "được rồi lại mất". Cung điền trạch là "ngã cung", mang ý tượng "thu vào"; nhưng nếu Hóa Lộc ở "tha cung" thì Hóa Kỵ ở cung điền trạch là không tốt, cần có Hóa Khoa để giải. Giả sử Hóa Lộc ở "ngã cung", còn Hóa Khoa, Hóa Kỵ cùng ở cung điền trạch, thì Hóa Khoa nhất định sẽ phá hỏng "kết quả tốt" của Hóa Kỵ, khiến "thủy" dừng rồi lại chảy, nên "bất động sản" của cung điền trạch có hiện tượng "được rồi lại mất".
Ý tượng của Hóa Khoa theo từng cung
Hóa Khoa chủ về phong cách văn nhã. Lúc nhập cung mệnh, sẽ có dáng dấp thanh tú nho nhã, ôn hòa từ ái, thông minh hiếu học, sức học tập mạnh, tài năng bộc lộ; nhưng nếu đồng cung với hung tinh thì dễ vì chuyện xấu mà mang tiếng tăm. Nhập cung lục thân, chủ về là người hòa hoãn, hòa hợp với mọi người.
Hóa Khoa chủ về quý nhân. Nếu Hóa Khoa nhập cung quan lộc, chiếu cung phu thê, chủ về mệnh tạo là quý nhân của người phối ngẫu; nếu nhập cung huynh đệ, chiếu cung nô bộc, chủ về mệnh tạo là quý nhân của bạn bè; nếu nhập cung thiên di, chiếu cung mệnh, chủ về người khác là quý nhân của mệnh tạo.
Hóa Khoa chủ về thanh bạch; nhập cung lục thân là chủ về lục thân có xuất thân thanh bạch. Nếu nhập cung phu thê, chủ về người phối ngẫu có gia cảnh thanh bạch, hoặc người phối ngẫu là quý nhân. Hóa Khoa còn chủ về đào hoa — đào hoa của Hóa Khoa là đào hoa có phong độ, hết duyên thì tan, khác với đào hoa của Hóa Quyền là đào hoa của dục vọng chiếm hữu, đào hoa của Hóa Lộc là sự nhiệt tình của tiếng sét ái tình, còn đào hoa của Hóa Kỵ là chuốc họa vào thân, dám yêu dám hận.
Hóa Khoa nhập cung tài bạch, cung quan lộc, chủ về nên phát triển về phương diện văn, thích hợp ngồi bàn giấy. Hóa Khoa nhập cung điền trạch, chủ về nhà ở bài trí tao nhã; nếu Hóa Kỵ nhập cung điền trạch thì trong nhà ắt rất lộn xộn, rối tung. Hóa Khoa nhập cung phúc đức, chủ về nhiều phúc vận, lạc quan, ưa hưởng thụ, tình trạng kinh tế phần nhiều cân bằng giữa nhập và xuất. Hóa Khoa nhập cung thiên di, vận đi xa, ra bên ngoài đều tốt, có nhiều quý nhân trợ giúp, nhiều cơ hội phát triển. Hóa Khoa nhập cung tử nữ, con cái thông minh lanh lợi, có giáo dục.
Hóa Khoa nhập cung nô bộc, bạn bè giao du đa phần là người có khí chất cao thượng — trong khi Hóa Lộc nhập cung nô bộc thì bạn bè đa phần là người có thành tựu, Hóa Quyền thì bạn bè đa phần là người rất tài cán, còn Hóa Kỵ thì bạn bè đa phần là người ở tầng lớp thấp trong xã hội.
Nam mệnh, đại vận, lưu niên mà gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, phần nhiều đều có tiến bộ và biểu hiện tốt. Nữ mệnh thì nên lưu ý, vì giỏi hơn chồng có thể ảnh hưởng đến tình cảm hôn nhân; lúc lưu niên đến cung hạn gặp Hóa Khoa, phần nhiều sức khỏe tốt.
Hóa Kỵ
Thùy tượng của Hóa Kỵ
Hóa Kỵ đại biểu cho sự kết thúc hay kết quả của sự việc, kết toán toàn bộ. Hóa Kỵ chủ về mọi sự phát triển đều đầy "biến số" và rơi vào tình trạng bị bắt buộc, không còn cách nào khác, bất luận có vừa ý, thỏa mãn hay không. Hóa Kỵ là cần phải tiếp nhận cái "kết quả" tất nhiên trong cuộc sống. Nó đại biểu cho sự kết thúc và thu chứa, giống như mùa đông, cần phải dự trữ vật dụng để chờ năm mới đến. Vì vậy Hóa Kỵ là cuộc sống không thuận lợi toại ý, biến động và thị phi, đầy sóng gió trắc trở bất ngờ; nó cũng chủ về tài vận không được tốt, tiền bạc dễ thiếu hụt, khó giữ tài vật, kiếm tiền khá lao tâm lao lực, thu nhập ít hơn chi xuất. Đương nhiên, cần phải xem sao nào hóa và nó ở cung nào, để tính toán sức ảnh hưởng lớn hay nhỏ.
Tóm tắt ý tượng cơ bản của Hóa Kỵ: chung kết của dục vọng, mắc nợ tình tiền, thị phi rắc rối, bối rối, lúng túng, khó xử, tán loạn; tiêu cực, lui về phòng thủ, thu chứa, phá hoại, tính toán so đo, chịu thiệt; hư nhược, tinh thần sa sút, bất an, tiều tụy; hoảng loạn, tùy tiện, tâm trạng trào dâng, lửa tình hừng hực, dính mắc một cách thiếu lí tính.
Giải thích sâu về Hóa Kỵ
Ngũ hành của Hóa Kỵ thuộc thủy, là kết thúc, kết cục. Nếu nói Hóa Lộc là "nhân", thì Hóa Kỵ là "quả" — nhưng "nhân" và "quả" ở đây không liên quan "nhân quả nghiệp báo" của các nhà tôn giáo. Hầu như các nhà nghiên cứu Đẩu Số đều xem chữ "Kỵ" là "điềm bất tường" và dùng quan niệm này để luận giải; nhưng trên thực tế, không phải tất cả Hóa Kỵ thực sự là "rất kỵ". Khi nghiên cứu hiện tượng Hóa Kỵ sẽ phát giác: "luận định nhất thời" trên mệnh bàn có kết quả tốt chỉ khoảng một phần tám cơ hội, nên người ta sợ gặp Hóa Kỵ là có lí do — nhưng tuyệt đại đa số lại không biết một phần tám "kết quả tốt" đó nằm ở đâu.
Phàm là nghi kị, tự ti, không cởi mở, cầu toàn, thà chịu thiệt chứ không chịu chiếm lợi thế của người khác, phải chịu đựng trong im lặng; hơi có chút tình cảm lần mẩn, thương hại, đồng tình, tiêu cực... thảy đều có quan hệ với Hóa Kỵ. Trường hợp Hóa Kỵ nhập vào các sao ở cung lục thân (phụ mẫu, huynh đệ, phu thê, tử nữ, nô bộc), có thể lấy ý "mắc nợ nhau" để giải thích mối quan hệ giữa mệnh tạo với họ là rất thỏa đáng. Lấy trường hợp Hóa Kỵ nhập vào sao tọa thủ cung phu thê làm ví dụ, tình cảnh này thường sẽ là "do yêu mà thành hận nhưng không đành gạt bỏ", "triền miên xót xa, bùi ngùi trong lòng" — nên "suốt cuộc đời của hai người phải thanh toán mối quan hệ giữa chủ nợ và người mắc nợ" là cách giải thích rõ ràng nhất của tình trạng Hóa Kỵ nhập cung lục thân.
Vì phần lớn trường hợp Hóa Kỵ sẽ mang lại "quả" khổ, nên Hóa Kỵ đúng là hơi giống "sao chổi" chiếu. Như đã thuật, Hóa Lộc là động tâm khởi niệm; Hóa Quyền là lực thực hiện những điều do Hóa Lộc khởi niệm; Hóa Khoa là trợ giúp cho Hóa Quyền, đại biểu cho danh vọng, danh vị; còn Hóa Kỵ là luận định nhất thời của Hóa Lộc. Vì Hóa Khoa còn có nhiệm vụ thu thập tàn cục của Hóa Kỵ, nên lúc Hóa Khoa phát huy lực trợ giúp, thường có kèm ý vị đắng cay trong đó — ví dụ như sau khi mắc bệnh, đi gặp lương y, bác sĩ, uống thuốc, châm cứu, phẫu thuật. Trường hợp không giải được tai ách của Hóa Kỵ, lúc đó lực tác động của Hóa Khoa là che đậy cái xấu, "dọn dẹp cái đống lộn xộn".
Luận giải Tử Vi Đẩu Số là thuyết minh những cảnh ngộ gặp phải trong cuộc đời thực do mệnh bàn phản ánh, trong đó không có quan niệm "thiện có thiện báo, ác có ác báo" như trong tôn giáo; vì vậy việc định luận cát hung của Hóa Kỵ, ngoại trừ phải tính đến cung vị nó tọa thủ, còn một then chốt khác là cung nào có Hóa Lộc. Lúc Hóa Kỵ là hung, có thể gặp tình trạng tranh chiến với Hóa Quyền, nhưng còn có cơ hội là Hóa Khoa hóa giải tai ách, nên thấy Hóa Kỵ không nên quá bi quan.
Bất kể Hóa Lộc, Hóa Quyền, hay Hóa Khoa làm phát sinh sự cố, dù chuyện tốt hay chuyện xấu, cũng đều do Hóa Kỵ tạo ra kết cục — "mọi chuyện đều phải có kết thúc", "trong cuộc đời không có bữa tiệc nào là không tàn". Hóa Kỵ còn có hàm ý "ngậm ngùi không rời bỏ được", "cảm giác mất mát một cái gì đó mà không diễn tả được", hoặc thương cảm, hoài cảm. Ngũ hành của Hóa Kỵ thuộc thủy, tính thủy là "thấm xuống", "chảy xuống", nên cũng có khí thế bàng bạc như "nước sông ào ạt chảy băng nghìn dặm, khó mà dừng lại". Nhưng không phải mọi kết cuộc đều là bi kịch, nên không cần cau mày, sợ hãi khi thấy Hóa Kỵ. Vì dục vọng của con người là vô hạn, nên lòng tham, ý niệm xấu, dục cầu vĩnh viễn khó mà thỏa mãn — nên Hóa Kỵ thường đóng vai trò làm cho người thất vọng.
Thông thường người cung mệnh có Hóa Kỵ dễ sinh ra mặc cảm tự ti, thường là người hướng nội, không tin vận tốt sẽ đến với mình; họ hay hoài nghi, lòng nghi kị cũng nặng, nhưng đây chỉ là những phản ứng mang tính phòng vệ để bản thân không bị tổn hại. Cho nên người cung mệnh có Hóa Kỵ sẽ chỉ lầm bầm tự nói với mình, hay giấu sự oán trách trong lòng, lúc cãi vã hơi có ngữ khí khắc bạc; vì Hóa Kỵ sẽ "giới hạn" mệnh tạo làm chuyện xấu, dù muốn làm. Trừ phi ở cung mệnh có thêm Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh hoặc Hóa Quyền, nếu không, hành động phản kích của họ chỉ để bảo vệ bản thân, sẽ không chủ động mưu đồ làm chuyện xấu hại người khác, mà trái lại thường biểu hiện "lòng nhân từ của phụ nữ". Vì vậy người cung mệnh có Hóa Kỵ nên tiếp cận tôn giáo tín ngưỡng, vận động nhiều, thường tiếp xúc với hoàn cảnh bên ngoài để tìm ra điều làm mình thỏa mãn, như vậy tâm tình mới thoải mái, nhân sinh được như ý. Vì Hóa Kỵ ở cung mệnh là "ngã cung", đó cũng là đất "thu vào", đối với chuyện tốt hay xấu đều sẽ để trong bụng.
Đừng cho rằng người có Hóa Kỵ ở cung mệnh nhất định sẽ chịu thiệt thòi — thực ra họ chỉ không chiếm lợi thế của người khác; nhưng nếu Hóa Lộc nhập "ngã cung", thì người có Hóa Kỵ ở cung mệnh có thể tận hưởng thành quả mà bản thân đã vất vả trả giá, thậm chí có thu hoạch lớn.
Muốn luận giải tinh tế phải dựa vào tứ hóa, nhất là nắm vững hệ thống cung có Hóa Lộc và Hóa Kỵ tọa thủ. Lúc Hóa Kỵ và Hóa Quyền đồng cung, sẽ tạo thành hiện tượng mâu thuẫn, vì Hóa Kỵ thủy và Hóa Quyền hỏa sẽ giao chiến; muốn biết tình hình thắng bại phải xem sao hóa nào lớn, sao hóa nào nhỏ mà định — giống như "áp suất khí quyển cao" và "áp suất khí quyển thấp" cùng tồn tại một nơi, lúc nào đó sẽ tạo thành cuồng phong, khó dự đoán. "Sắc bén", "chủ quan", "không chịu thua" là kết luận lúc Hóa Quyền đồng cung với Hóa Kỵ, nên người có cách cục này sẽ khiến người khác cảm thấy họ xử sự không tốt.
Hóa Kỵ ở cung mệnh, cung tài bạch, cung tật ách, cung quan lộc, cung điền trạch, hay cung phúc đức, là thuộc "ngã cung", ở đây có tình trạng "thu vào"; còn lúc ở "tha cung", nó sẽ quay lại "ngã cung" và nhất định sẽ xung kích "ngã cung" — lúc này Hóa Lộc thành chẳng được gì, còn xúi Hóa Kỵ gây ra họa. Người ta rất sợ thấy Hóa Kỵ, vì cho rằng nó là kết thúc "hài kịch" hoặc sáng tạo ra "bi kịch". Nhưng mệnh bàn nào cũng phải có Hóa Kỵ: nếu nó bay vào cung không thích đáng thì đúng là sẽ không như ý, nhưng nếu bay vào cung thích đáng thì vẫn là kết cục có hậu. Phần nhiều lúc Hóa Kỵ rơi vào "ngã cung" thì không phải là chuyện xấu, còn rơi vào "tha cung" thì không phải là chuyện tốt.
Giả sử Hóa Lộc ở cung điền trạch, còn Hóa Kỵ ở cung mệnh — nếu luận đơn giản là chủ về người có tiền, có bất động sản, giàu có; nhưng trong cuộc sống lại là người khá lao tâm và lao lực, vì để có tiền của, bất động sản, để làm cho người nhà vui vẻ, hòa hợp, sống sung túc. Ở đây, Hóa Kỵ bay vào cung mệnh (ngã cung) là chủ về những gì cho ra và nỗ lực đều do mệnh tạo chịu đựng — đó là "thu vào". Nếu Hóa Kỵ rơi vào "tha cung", nó sẽ vì tác động "thu vào" mà quay sang "ngã cung", sinh ra lực xung kích "ngã cung"; ví dụ Hóa Kỵ nhập cung phụ mẫu (tha cung), lúc quay sang cung tật ách (ngã cung) để "thu vào", sẽ sinh ra lực xung kích cơ thể, cơ thể dễ mắc bệnh. Người Hóa Kỵ ở cung mệnh tuy hơi khổ sở, nhưng cuộc sống có nội dung phong phú, đúng là "vui vẻ làm, tình nguyện chịu".
Hóa Kỵ ở cung điền trạch có thể là cách cục của người có tiền, bởi Hóa Kỵ là "thu vào trong" — riêng cung điền trạch còn chủ về "luôn luôn không thỏa mãn", nên ở một số cung Hóa Kỵ lại là chuyện tốt, chứ không phải lúc nào cũng ảm đạm, hung hao. Phá cách của trường hợp này là khi Hóa Kỵ đồng cung với Hóa Lộc, Hóa Quyền, hay Hóa Khoa; hoặc trong cung điền trạch có Hóa Kỵ mà xuất hiện thêm Địa Kiếp, Địa Không, hoặc Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh — như vậy sẽ khiến Hóa Kỵ biến chất. Nếu có sao Hóa Khoa đồng cung, hầu như ai cũng cho rằng Hóa Khoa là tốt, Hóa Kỵ là xấu; nhưng thực ra trong hiện tượng này sao Hóa Khoa mới là chuyện xấu, còn sao Hóa Kỵ là chuyện tốt — vì Hóa Khoa (mộc) sẽ khiến Hóa Kỵ (thủy sinh mộc) không hoàn thành được công dụng "thu vào", nên tài sản, bất động sản của mệnh tạo sẽ xảy ra tình trạng đáng tiếc là "trong cái được có cái mất".
Ý tượng của Hóa Kỵ theo từng cung
Sao Hóa Kỵ chủ về tình trạng thu nạp cất chứa, không thuận, biến động, thị phi, tổn thất, khiếm khuyết, ganh ghét.
Sao Hóa Kỵ nhập cung mệnh, chủ về tính thẳng thắn, đường đời gập ghềnh, nhiều biến động, khá vất vả, tính cô tịch, ít nói, trọng tình cảm. Sao Hóa Kỵ nhập cung mệnh, cung tử nữ, cung thiên di, cung điền trạch, chủ về biến động, hơn nữa trong đời dễ xảy ra sự cố, tai ách bất ngờ. Sao Hóa Kỵ nhập cung tài bạch, chủ về thu nhập không ổn định. Sao Hóa Kỵ nhập cung phúc đức, chủ về mệnh vất vả, kiếm tiền rất khó khăn mà không có phúc hưởng thụ. Sao Hóa Kỵ nhập cung phu thê, phần nhiều kết hôn muộn. Sao Hóa Kỵ nhập cung quan lộc, chủ về vận sự nghiệp không thuận, nên đi làm hưởng lương là tốt nhất. Sao Hóa Kỵ nhập cung thiên di, chủ về lúc đi xa, ra ngoài không được người ta trợ giúp, không thuận lợi toại ý.
Sao Hóa Kỵ nhập cung lục thân, chủ về tình hình phải cho ra. Nếu ở cung phu thê, chủ về trong cuộc đời này mệnh tạo phải "trả nợ" khá nhiều cho người phối ngẫu; ở cung phụ mẫu, phải hiếu thuận phụng dưỡng cha mẹ, cũng chủ về phá tướng; nhập cung tử nữ, con cái ương bướng, làm theo ý mình, cần phải hao phí tâm lực để dạy dỗ; nhập cung huynh đệ, duyên bạc với anh chị em, dễ bị bạn bè gây lụy, nên phòng tiểu nhân.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái
