Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Hình phú của Tử Vi: Đế tinh và bách quan triều củng

Tử Vi Bắc Phái - Nhập môn20/09/202677 phút đọc2 lượt đọc
Hình phú của Tử Vi: Đế tinh và bách quan triều củng

Ngồi ngôi cao nhất trong mệnh bàn, vậy mà thiếu quần thần thì đế tinh chỉ còn là ông vua cô độc giữa đồng hoang — lí tưởng to tát, lời nói cao xa, rốt cuộc chẳng ai theo. Kỉ thổ ẩm ướt ấy ở cung Ngọ được lửa hong khô thành xe vàng chở vua, mà xuống cung Tí gặp nước lại hóa bùn, ngoài trầm ổn trong sóng ngầm. Từ tướng mạo, bệnh tật cho tới bốn mục tiêu xem thành bại, hết thảy đều bắt đầu từ chỗ ấy…

Mục lục · 46 phần
  1. 01Ý tượng cơ bản của Tử Vi
  2. 02Tử Vi chỉ độc tọa ở hai cung Tí và Ngọ
  3. 03Cùng độc tọa mà Tí khác Ngọ
  4. 04Tử Vi tọa mệnh ở cung Tí
  5. 05Tử Vi tinh giải: sao được an đầu tiên
  6. 06Đế tọa cần có quần thần phò tá
  7. 07Kỉ thổ là đại địa, là nơi chở sinh mệnh
  8. 08Tử Vi kiềm chế sát tinh, hóa giải tai ách
  9. 09Ưu điểm và khuyết điểm về cá tính của người Tử Vi thủ mệnh
  10. 10Biểu hiện bề ngoài của người Tử Vi thủ mệnh
  11. 11Tử Vi khác Hóa Quyền ở chỗ nào
  12. 12Đế tọa vẫn phải nhờ Tả Phụ, Hữu Bật mới thành việc
  13. 13Vì sao Tử Vi ở cung Tí khó giàu chân chính
  14. 14Luận tình cảm phải lấy ngã cung làm trục chính
  15. 15Ngã cung và tha cung — cái gì nắm giữ được, cái gì không
  16. 16Cung tài bạch là cửa ngõ giao dịch, cung quan lộc là cung vị khí số
  17. 17Thái Âm lạc hãm ở cung nô bộc làm nên "cô quân"
  18. 18Cùng có Tả Phụ đồng cung mà không thể luận giống nhau
  19. 19Tử Vi ở cung Tí thuộc Thủy nhị cục
  20. 20Tử Vi thủ mệnh ở cung Tí hoặc Ngọ
  21. 21Tử Vi ở cung Ngọ là "Kim dư phù giá"
  22. 22"Tử Vi, Phá Quân" thủ mệnh ở cung Sửu hoặc Mùi
  23. 23"Tử Vi, Thiên Phủ" thủ mệnh ở cung Dần hoặc Thân
  24. 24Tổ hợp "Tử Vi, Thiên Phủ" gặp Lộc Tồn và gặp sát tinh
  25. 25Cung Dần và cung Thân — hai ưu thế khác nhau
  26. 26"Tử Vi, Tham Lang" thủ mệnh ở cung Mão hoặc Dậu
  27. 27"Tử Vi, Thiên Tướng" thủ mệnh ở cung Thìn hoặc Tuất
  28. 28"Tử Vi, Thất Sát" thủ mệnh ở cung Tị hoặc Hợi
  29. 29Ảnh hưởng của Tử Vi ở cung quan lộc và cung tài bạch
  30. 30Tử Vi ở cung tài bạch chủ nghề chuyên môn
  31. 31Tính tình của Tử Vi
  32. 32Quy tắc bài bố Tử Vi trong cung tứ chính
  33. 33Bốn mục tiêu quan sát sự thành bại của Tử Vi
  34. 34Tử Vi ở từng cung vị so với thế của Nhật Nguyệt
  35. 35Xem có gặp sát tinh hay không
  36. 36Xem ảnh hưởng của Thiên Đồng đối với Tử Vi
  37. 37Xem ảnh hưởng của Tham Lang đối với Tử Vi
  38. 38Xem ảnh hưởng của Thiên Tướng và Lộc Tồn đối với Tử Vi
  39. 39Tướng mạo của người Tử Vi tọa thủ cung mệnh
  40. 40Các biểu trưng của Tử Vi
  41. 41Tử Vi luận về bệnh tật và về số
  42. 42Tử Vi đồng cung với các sao khác
  43. 43Tình của Tử Vi
  44. 44Trong âm tính có chứa dương khí
  45. 45Những cung vị Tử Vi không ưa
  46. 46Đế tinh thuộc về tầng lớp lãnh đạo

Ý tượng cơ bản của Tử Vi

Tử Vi về ngũ hành là thuộc âm thổ — Kỉ thổ — là chủ tể của sinh mệnh, chưởng quản ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, để sinh vạn vật; ở trên trời là chủ tể của các sao, cũng là chủ chốt của các sao.

Tính chất. Đôn hậu, già dặn, khiêm cung, lễ độ, khí chất ung dung, rất mẫn cảm, thích làm chủ đạo, rất chủ quan, chí cao khí ngạo, yêu ghét thất thường, ý chí không kiên định, ưa tin lời xiểm nịnh, ngoài cương trong nhu. Tử Vi ở cung quan lộc là đắc vị, có thể hiển thị rõ tính chất của Tử Vi. Đặc trưng của Tử Vi là ưu tú, cao cấp, tinh xảo, sở học chuyên môn, có công phu hàm dưỡng hoặc tài nghệ kĩ xảo.

Hình thái. Sinh ra trong gia đình giàu có thì sắc mặt trắng đẹp; người xuất thân hàn vi thì mặt hiện sắc bóng màu tía cọ. Nam mệnh tướng mạo đôn hậu; nữ mệnh dung nhan thanh tú; cơ thể tròn trịa đầy đặn, vóc người trung bình. Đại biểu cho bộ vị thân thể là phần phần đầu, phần não, cũng chủ về Đốc mạch.

Ý tượng. Trời, quẻ Kiền, tôn quý, thanh nhã, cao cấp, vật phẩm trân quý, cao to, tiệm vàng, cửa hàng bán đá quý, cổ phiếu, công tác văn hóa giáo dục, nghiên cứu học thuật, trung tâm điều khiển, nhân viên cơ quan tổng chủ quản, bác sĩ khoa tâm lí, bác sĩ khoa tâm thần, bác sĩ khoa thần kinh, quán bar cao cấp, nghề kiến trúc.

Vị trí địa lí. Khu đất quý có giá cao, trung tâm chợ, cơ quan công, lầu cao nhà lớn, khu thương nghiệp, nông trường loại lớn.

Kiến lập quan niệm. Trung hậu, già dặn, khiêm cung, ngoài cương trong nhu, linh hoạt, mẫn tiệp, ý chí không kiên định, thiếu chủ trương, lại thích làm chủ tể, có khí chất tôn quý, dễ làm cho người ta nảy sinh lòng tin phục, khó hạ mình cầu xin ai điều gì. Đây là tính tình của Tử Vi, cũng là ý tượng cơ bản mà mọi người đều biết.

Tử Vi chỉ độc tọa ở hai cung Tí và Ngọ

Nhìn chung kết cấu mệnh bàn của Tử Vi, Tử Vi chỉ ở cung Tí hoặc Ngọ mới có cơ hội độc tọa; những miêu tả về tính tình này là biểu tượng của Tử Vi. Lấy trường hợp Tử Vi tọa mệnh ở cung Tí để luận giải, giữa hình tượng và nội tại có thể nói là khác nhau một trời một vực; bởi vì nó có tác phong vững vàng và biểu hiện bề ngoài ung dung sang quý, nhưng trong nội tâm là những đợt sóng ngầm sôi nổi.

Tử Vi ở hai cung Tí hoặc Ngọ là độc tọa; ở cung Sửu hoặc Mùi là tổ hợp song tinh "Tử Vi, Phá Quân"; ở cung Dần hoặc Thân nhất định là tổ hợp song tinh "Tử Vi, Thiên Phủ"; ở cung Mão hoặc Dậu là tổ hợp song tinh "Tử Vi, Tham Lang"; ở cung Thìn hoặc Tuất là tổ hợp song tinh "Tử Vi, Thiên Tướng"; còn ở cung Tị hoặc Hợi là tổ hợp tổ hợp song tinh "Tử Vi, Thất Sát". Đó cũng là nói, Tử Vi ở mỗi một cung vị đều có phương thức tổ hợp cố định.

Cùng độc tọa mà Tí khác Ngọ

Lấy hai trường hợp Tử Vi ở cung Tí và Tử Vi ở cung Ngọ để luận giải, về lí luận, có biểu hiện "năng lượng" khác nhau, tức cung vị có thể làm tăng hay giảm "năng lượng" của Tử Vi.

Nói về cung Ngọ, vị trí của nó chủ về hỏa, còn Tử Vi thuộc thổ; hỏa của cung Ngọ có thể sinh thổ của Tử Vi, cho nên năng lượng của Tử Vi sẽ tăng thêm. So với trường hợp Tử Vi ở cung Tí: cung Tí chủ về thủy, còn Tử Vi thuộc thổ; thổ của Tử Vi sẽ đi khắc thủy của cung Tí, chỉ cần có "chinh chiến" ắt sẽ có thương tổn nguyên khí. Vì vậy về lí luận, Tử Vi ở cung Ngọ sẽ dễ có biểu hiện đột xuất tính chất và độ sáng của nó hơn trường hợp Tử Vi ở cung Tí. Cũng vì vậy mà cá tính và xu thế mệnh vận của hai trường hợp này tất nhiên sẽ khác nhau.

Tử Vi tọa mệnh ở cung Tí

Lấy trường hợp Tử Vi tọa mệnh ở cung Tí để nói: cung Tí thuộc thủy, mà thủy này rốt cuộc lớn đến mức độ nào? Tính chất của thủy là thế nào? Thật khó mà tưởng tượng, cho nên Tử Vi tọa lạc ở cung thủy không bờ không bến rất khó mà lí giải. Nếu chỉ lấy trường hợp Tử Vi tọa mệnh ở cung Tí để thuyết minh về mệnh lí thì thật là hoang đường, thiếu căn cứ; cho nên việc đầu tiên là phải định giới hạn của cung Tí, phương thức định giới hạn là dựa vào năm sinh.

Tử Vi tọa mệnh ở cung Tí, sau lưng lời nói và hành vi của nó ngầm có ý muốn thay đổi truyền thống, bất mãn với hiện trạng, ưa làm chủ tể, làm chủ đạo, nhưng lại khó xác định rõ chủ trương của mình là gì; khiến cho người ta cảm thấy họ thâm trầm, vững vàng.

Người này thích thu nạp ý kiến rộng rãi trong nghề nghiệp, lại có bản ngã khá độc lập, không thích người khác tham dự vào ý thức của họ; tư duy của họ bất định, xoay chuyển 180 độ rất khó đoán. Trong khí độ ung dung và tận nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn họ lại đậm tính hoài nghi và ưa cạnh tranh với người khác.

Người tọa mệnh như vậy có khát vọng rất lớn: họ mong muốn có cuộc sống giống như con ngựa hoang thoát khỏi vòng kiềm tỏa trong một thế giới đầy biến động thay đổi, và có thể có một cuộc đời đẹp đẽ đầy lãng mạn. Biểu hiện bề ngoài là thâm trầm vững vàng, nhưng tận trong chỗ sâu thẳm nhất của tâm hồn thì lại hay thay đổi bất định, cho nên dễ có hành vi thiên lệch, hoặc xuất hiện hiện tượng trong ngoài bất nhất.

Nhưng những thuyết giải này chỉ là "thủy tượng", là tính chất trong trạng thái tĩnh của người có Tử Vi tọa mệnh ở cung Tí; lúc vận trình chuyển biến, sẽ tùy theo tứ hóa mà triển khai một chuỗi cảnh ngộ gặp phải trong cuộc đời.

Lấy người sinh năm Giáp để làm ví dụ, Tử Vi tọa mệnh ở cung Tí, phạm vi của nó là "Bính Tí", tức là lấy Bính để định giới hạn của Tí. Lại lấy người sinh năm Ất làm ví dụ, giả thiết cũng là Tử Vi tọa mệnh ở cung Tí, thế thì người này ở trong phạm vi "Mậu Tí"; so với người sinh năm Bính, năm Đinh cũng sẽ có mệnh vận khác nhau.

Vấn đề đáng nghiên cứu tìm hiểu là: người có Tử Vi ở cung Bính Tí và người có Tử Vi ở cung Mậu Tí, tuy cùng an ở cung Tí, nhưng cá tính, tính khí, hôn nhân, gia đình, diện mạo, hành hạn, thành tựu… sẽ đều giống nhau hay không? Tính chất chung của chúng là gì? Tính chất riêng của chúng là gì? Đó là những vấn đề sẽ tìm hiểu sau. Ở đây, trước tiên hãy ghi nhớ ý tượng cơ bản của Tử Vi như đã thuật ở trên.

Tử Vi tinh giải: sao được an đầu tiên

Biết tính nết của đế tinh rồi, còn phải biết vì sao nó được đặt vào bàn cờ trước hết thảy các sao khác.

Tử Vi là sao được an đầu tiên trong mệnh bàn Đẩu Số, cho nên có ý nghĩa tượng trưng là thống lãnh các chính tinh Nam Bắc Đẩu, cũng là sao chí tôn ở Trung Thiên. Trong truyền thuyết, Tử Vi được định vị là cái chuôi của Bắc Đẩu; các sao đều phải đợi Tử Vi định vị rồi mới an phận của chúng, cho nên Tử Vi còn là then chốt của chư tinh, là chủ tể của các sao trên trời. Cũng vì sao này quan trọng như vậy, xét về ý nghĩa "hình nhi thượng", Tử Vi cũng có thể xem là điểm then chốt của toàn bộ mệnh bàn.

Đế tọa cần có quần thần phò tá

Tử Vi tượng trưng cho đế tọa — chỗ ngồi của vua — còn được hiệu xưng là "Đế vương tinh". Người có Tử Vi nhập cung mệnh, tự nhiên sẽ có khí độ tự tin của bậc vương công thế gia; phong thái uy nghiêm của họ khiến người ta dễ sinh lòng kính trọng và ngưỡng mộ, tự nhiên dễ ra lệnh sai khiến người khác.

Xét ở phương diện khác, người có Tử Vi nhập cung mệnh cần phải có chúng nhân phò tá; "cô quân" — vua cô độc — thì khó mà thành sự. Do đó có thể thấy, Tử Vi tuy tôn quý, có khí thế trời sinh, có tài năng lãnh đạo, nhưng vẫn cần phải được hoàn cảnh bên ngoài trợ giúp, cho nên tạo tác của họ không phải hoàn toàn dựa vào sức lực của bản thân, mà thường thường là nhờ có nhiều người giúp sức.

Từ lí lẽ này, quay lại tinh bàn để xem xét: Tử Vi là vua, còn cần phải có các sao khác — tượng trưng cho các vị đại thần phò tá — ở vị trí thích hợp, hoặc có lực tác động của tứ hóa trợ giúp, mới có thể làm cho tính chất của Tử Vi hiển lộ một cách tự nhiên thuận lợi, hoặc phát huy hết mức. Tử Vi như vậy mới không phải là "hôn quân vô đạo" hay là "cô quân tại dã".

Tử Vi là vua cần phải có tôi thần phụ trợ; trong Đẩu Số là nói các sao như Thiên Phủ, Thiên Tướng, Lộc Tồn, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Mã.

Tác dụng của Thiên Phủ, Thiên Tướng và Lộc Tồn giúp Tử Vi duy trì độ ổn định và khí độ; còn tác dụng của lục cát tinh và Thiên Mã là cung cấp năng lực đa dạng hóa và quan hệ giao tế. Tử Vi có thể dựa vào các sao này để bộc lộ năng lực.

Trong số các sao phò tá, Tả Phụ và Hữu Bật có vai trò khá đặc biệt. Lực lượng phò tá mạnh nhất là trường hợp được hai sao Tả Phụ và Hữu Bật giáp cung; kế đến là Tả Phụ và Hữu Bật chia ra ở cung tam hợp vây chiếu; kế tiếp nữa là một trong hai sao Tả Phụ hoặc Hữu Bật đồng cung phò tá Tử Vi.

Còn trường hợp Tả Phụ, Hữu Bật đồng cung với "Tử Vi, Phá Quân" thì cần phải có lực lượng khác phụ trợ, mới có tác dụng. Tác dụng và phương pháp luận đoán các sao phù trợ khác cũng tương tự như phương thức của Tả Phụ, Hữu Bật.

Tử Vi được phù trợ, thì từ "cô quân" — vua cô độc — có thể biến thành "minh chúa", cách phân tích đặc tính của mệnh cục cũng theo đó mà có chỗ khác nhau.

Nhưng nếu Tử Vi không được các sao phù trợ như đã thuật ở trên, sẽ phát sinh chuyện gì? Ứng nghiệm trong hiện thực là: dễ làm cho mệnh tạo có lí tưởng quá ư xa to tát, lời nói và việc làm thường trái ngược nhau, hoặc lời nói quá uyên thâm ít người hiểu được, cô độc và tự đánh giá cao về bản thân.

Nhưng không phải hễ có Tả Phụ, Hữu Bật trợ giúp thì mệnh tạo nhất định sẽ đạt đến thành công, mà còn phải xem tình hình tứ hóa vận chuyển trong mệnh cục mới có thể định đoạt, cho nên phải phân tích cẩn thận.

Kỉ thổ là đại địa, là nơi chở sinh mệnh

Tử Vi Đẩu Số bắt nguồn từ tổ sư Hi Di Trần Đoàn, đời Tống, đương nhiên phép đoán mệnh này có quan hệ mật thiết với nguyên lí ngũ hành. Trong ngũ hành, Tử Vi thuộc âm thổ — Kỉ thổ; Kỉ thổ là đại địa, là nơi chở sinh mệnh; tức Tử Vi là sao mạnh nhất và có lực tác dụng lớn nhất trong Đẩu Số. Cho nên bản thân Tử Vi cũng sẽ có khí thế "duy ngã độc tôn"; người Tử Vi thủ mệnh sẽ có lối suy nghĩ và cách phản ứng bắt nguồn từ đây.

Vì Thiên Đồng luôn luôn ở cung tật ách của Tử Vi ở cung mệnh, ảnh hưởng này làm cho người Tử Vi thủ mệnh sùng thượng sự hưởng thụ về tinh thần; nhưng có lúc cũng lười biếng, ưa an nhàn mà ghét vất vả, làm việc hay trì hoãn, truy cầu hưởng thụ vật chất.

Tử Vi có khí độ ung dung nên dễ nổi bật trong một nhóm người; dù không thấy rất có năng lực, hoặc không thấy có ý kiến của lãnh đạo, nhưng họ lại dễ có sức thu hút của một "cường nhân" và có thể làm thay đổi người khác. Sức thu hút này thường khiến cho người thế yếu tự động muốn nương tựa.

Tử Vi vốn đậm chủ ý, nhưng không phải chỉ chăm chú vào bản thân; nó biểu hiện thế mạnh theo kiểu "thuận ta là bạn", nhưng không có tính phách lối, thích ra oai "nghịch ta thì chết", mà nó có khí độ dung chứa cả người tốt lẫn kẻ xấu, cả quân tử lẫn tiểu nhân.

Tử Vi kiềm chế sát tinh, hóa giải tai ách

Trong Đẩu Số, Tử Vi có sức mạnh rất lớn, mà còn có lực tạo tác tương tự như Hóa Quyền, cho nên nói Tử Vi có công dụng kiềm chế sát tinh và hóa giải tai ách.

Nhưng vì mệnh lệnh của đế vương là có tính cưỡng chế, cho nên họ thường có hành vi của người trên ra lệnh cho người dưới, muốn mọi người phải phục tùng.

Tử Vi gặp tứ sát tinh Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, sẽ phát huy thuộc tính Kỉ thổ của nó; nó không sợ tính hung của Hỏa Tinh, Linh Tinh, mà ngược lại còn có thể chuyển hóa thành lực kích phát.

Gặp Kình Dương, Đà La thì có thể kiềm chế tai hại của chúng. Tuy lúc gặp tứ sát tinh, Tử Vi vẫn có thể phát huy tính chất cương ngạnh của mình, nhưng cũng do đó mà phá hỏng khí tôn quý của Tử Vi.

Nếu có tổ hợp sao khác không tốt hoặc tứ hóa phối trí không thỏa đáng, lúc đó Tử Vi rất dễ thành là ngang tàng bạo ngược, ưa làm "đại ca" nhưng lại không có chủ trương.

Tuy Tử Vi có năng lực chế sát mạnh như vậy, nhưng lúc gặp một trong hai sao Địa Không hay Địa Kiếp thì khá bất lợi; bởi vì hai sao Địa Không, Địa Kiếp dễ sinh ra ảo tưởng hoặc có lối suy nghĩ thiếu thực tế. Do đó nếu Tử Vi gặp hai sao Địa Không, Địa Kiếp hoặc bị Địa Không và Địa Kiếp giáp cung ở Tị hoặc Hợi, người này thường thường sẽ có thiên hướng về tôn giáo.

Vì thái độ xử lí của Tử Vi là phải giải quyết vấn đề, chớ không che giấu, do đó lúc gặp chuyện không như ý, bề ngoài tuy vẫn giữ khí độ, nhưng thực ra phần nhiều trong lòng họ đều sợ hãi; đây cũng là thực trạng thế giới nội tâm của người Tử Vi thủ mệnh.

Ưu điểm và khuyết điểm về cá tính của người Tử Vi thủ mệnh

Ưu điểm. Người Tử Vi thủ mệnh, tâm tính khá trung hậu, giỏi suy nghĩ mà còn có tuệ nhãn; nếu cách cục tốt thì kiến văn quảng bác, có khí thế khôi vĩ và trang trọng, thái độ khiêm cung vững vàng mà không nhỏ mọn, ngoài cương trong nhu. Vì Tử Vi tượng trưng cho trời cao, có thể bao trùm vạn vật, cho nên có thái độ bao dung những người theo mình.

Gặp Tả Phụ, Hữu Bật thì chủ về xử sự hòa hợp và khéo léo, giao du rộng, thích kết giao với người giỏi hơn mình, thi ân để mong người ta báo đáp, mà phần nhiều cũng sẽ như nguyện. Nội tâm tuy tâm cao khí ngạo, nhưng người khác khó biết được. Đối với sự việc chung quanh, họ thường có kiến giải độc đáo, rất dễ có quan niệm đi trước thời đại; một khi họ đã ra quyết định thì khó mà thay đổi, lòng tự tôn cực mạnh, rất xem trọng sĩ diện, không dễ gì chịu thua, không chịu tùy ý phụ họa.

Khuyết điểm. Thường là người học rộng biết nhiều nhưng thiếu chuyên tinh; danh vọng của họ thường thường là thành quả của nhiều người. Ưa được người khác tôn trọng, thích nghe lời khen ngợi hay lời nịnh hót, tương đối dễ bị lời nói của người khác làm dao động, thiếu chủ kiến; đồng thời cũng ưa sĩ diện, xem trọng thân phận, địa vị. Tử Vi cũng dễ thay đổi, thi ân chỉ mong người ta báo đáp.

Nhưng nếu gặp Địa Không, Địa Kiếp, sẽ có tâm tình vượt khỏi thế tục, thường thường khó hòa đồng với người khác, cũng khó giao du với người khác; cho nên làm cho người ta cảm thấy họ là người cô tịch hoặc cao ngạo, nhưng cuộc sống tinh thần của người này có cảm giác trống rỗng và cô tịch.

Nếu Tử Vi độc tọa mà không có Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật phù trợ, là chủ về người này cố chấp kiến giải của bản thân, chuyên quyền, tự cho mình là đúng, thậm chí là có tính khí nóng nảy.

Ngoài ra, người Tử Vi thủ mệnh có lực tạo tác mạnh lúc thuận thế, không như người có sao Hóa Quyền thủ mệnh có thể tạo tác lúc nghịch thế. Thông thường người có sao Hóa Quyền thủ mệnh còn có thể tay trắng làm nên, nhưng người Tử Vi thủ mệnh thì không thể chịu đựng gian khổ trường kì, trừ phi là cách cục đặc biệt hoặc đại vận xuất hiện kết cấu không thuận lợi.

Biểu hiện bề ngoài của người Tử Vi thủ mệnh

Lúc đi chân thường không rời đất, động tác chậm rãi, thận trọng, phần nhiều tư thái rất tĩnh mặc; diện mạo vững vàng, đầy đặn, cao khỏe.

Người sinh ra trong gia đình giàu có, sắc mặt trắng xanh; người xuất thân hàn vi, mặt hiện sắc tía cọ, da ấm. Tuổi trẻ da vàng trắng, trung niên da vàng nhuận, lão niên da sắc tía hoặc hồng vàng; thiên đình cao, đường chỉ pháp lệnh rõ rệt, mi thanh mục tú, song mục hữu thần.

Nam mệnh tao nhã cao quý, tướng mạo đôn hậu, có uy nghi, vóc người trung bình mà thể hình vững vàng, xem trọng danh lợi quyền thế. Nữ mệnh thanh tú cao quý, hình thể tròn trịa đầy đặn, nhưng nét mặt uy nghiêm, khó thân cận, có thể vượng phu ích tử, có năng khiếu nghệ thuật, có mắt thẩm mĩ, tính tình hoạt bát cởi mở; là mĩ nữ có khí chất và rất có sức quyến rũ.

Tử Vi khác Hóa Quyền ở chỗ nào

Bản thân Tử Vi tuy có tính chất tương tự như Hóa Quyền, nhưng có chỗ khác biệt. Người có sao Hóa Quyền tọa mệnh, ngoại trừ có ý thức chủ quan mạnh, có tư tâm, tư tình, tư dục nặng nề, họ còn truy cầu lợi ích thực tế, phách lối, thích ra oai, có khí thế mạnh, có lòng tự tôn, lòng tự tin mạnh; những tính chất này có một số rất giống với Tử Vi.

Chỗ khác nhau là: người có Tử Vi thủ mệnh sẽ lộ ra "khí chất lãnh tụ" một cách tự nhiên, chớ không phải gắng gượng mà có.

Đế tọa vẫn phải nhờ Tả Phụ, Hữu Bật mới thành việc

Thông thường chủ giải của Tử Vi tọa mệnh ở cung Tí hoặc Ngọ, là "cô quân" — vua cô độc — và không có chủ kiến, cần phải có Tả Phụ hoặc Hữu Bật phò tá, mới không đến nỗi thành tầm thường, mà còn có tạo tác; nếu có Văn Xương, Văn Khúc làm bầu bạn, thì tăng thêm khí chất hoa lệ, còn có thiên phú về nghệ thuật.

Mệnh bàn nào cũng có hai sao Tả Phụ, Hữu Bật. Nếu xem xét kĩ cung có Tả Phụ, Hữu Bật tọa lạc, có thể đoán định lực tạo tác của Tử Vi là trời giúp hay tự giúp, hay là nhờ tha nhân trợ lực mà thành tựu.

Vị trí của Tả Phụ, Hữu Bật phải như thế nào mới có thể khiến Tử Vi thành "thiên hạ vô địch"? Mà nguyên nhân thành "thiên hạ vô địch" là do quyền mưu, xảo trá hay nhờ nỗ lực phấn đấu từng bước mà có thành quả? Điều này có liên quan đến cung có Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La tọa lạc.

Có thể thành bậc quân vương vĩnh viễn không? Điều này lại cần phải xem xét cung có tứ hóa. Nhân tố nào khiến người có Tử Vi tọa mệnh ở cung Tí biến thành hư ngụy, giả dối, tô vẽ bề ngoài? Điều này có liên quan đến cung có Văn Xương, Văn Khúc tọa lạc.

Vì sao Tử Vi ở cung Tí khó giàu chân chính

Kết cấu dạng nào có thể khiến người có Tử Vi tọa mệnh ở cung Tí trở thành giàu có một cách chân chính? Do khung giá kết cấu độc tọa đã tạo cơ hội cho thần tài đi qua mệnh bàn khác, mà cũng có thể là, vào thời điểm quyết định, lại khiến cho nỗ lực sở hữu một lịch sử huy hoàng biến thành sở hữu một nắm đất.

Bởi vì Tử Vi tọa mệnh ở cung Tí, "kho tiền" là Thiên Cơ tọa thủ — cung huynh đệ. Thiên Cơ không chủ về tiền bạc, cũng không chủ về giàu có. Cung điền trạch ở Mão là "không cung" — cung trống — không có chính tinh tọa thủ, rốt cuộc cũng không sở hữu được gì, tùy đã từng có tiền, từng giàu có; đối với người có kết cấu dạng này, đúng là có thể như vậy. Dù có thêm Tả Phụ, Hữu Bật cũng khó xoay chuyển tình thế.

Luận tình cảm phải lấy ngã cung làm trục chính

Trước khi luận giải về tình trạng tình cảm hôn nhân, cần chú ý ý nghĩa quan hệ giữa "ngã cung" và "tha cung" trong Bắc phái Tử Vi Đẩu Số: phàm là các sao của "tha cung" đều phải lấy các sao của cung mệnh làm trục chính, dựa vào phương thức so sánh để phân tích, chớ không phải lấy ý tượng của Thất Sát để luận giải.

Xin cứ một ví dụ khác để thuyết minh: người có Vũ Khúc tọa mệnh ở cung Tuất, cung phu thê của mệnh tạo cũng là Thất Sát; lấy sao Vũ Khúc phối với Thất Sát và lấy sao Tử Vi phối với Thất Sát sẽ có định nghĩa hoàn toàn khác nhau, tuyệt đối không thể xem lẫn lộn như làm một.

Quay lại chủ đề phân tích trường hợp Tử Vi phối với Thất Sát ở cung phu thê: đối với người phối ngẫu đây là thuộc vấn đề hai người có cá tính hoàn toàn khác nhau, tính ổn định của hôn nhân không đủ.

Người có Tử Vi tọa mệnh, đối tượng hôn nhân rất ít. Ngoại trừ vì "yêu" mà kết hợp, họ còn xem xét một số điều kiện phụ khác. Nhiều lúc do ý loạn tình mê, hay vì nhục dục xung động mà kết hợp thành vợ chồng; khi đã kết hôn, họ sẽ cãi nhau cả ngày, nhưng muốn li dị cũng rất khó.

Nếu không phải vì "dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng", thì cũng vì nguyên nhân khác mà dây dưa, sẽ có hiện tượng li tí hợp hợp hoặc đồng sàng dị mộng; trường hợp này còn kì dị hơn trường hợp Vũ Khúc phối với Thất Sát.

Ngã cung và tha cung — cái gì nắm giữ được, cái gì không

Mệnh bàn Tử Vi Đẩu Số Tứ Hóa phái được chia thành hai nhóm cung, đó là "ngã cung" và "tha cung". Cung mệnh, cung tài bạch, cung tật ách, cung quan lộc, cung điền trạch, cung phúc đức được quy vào nhóm "ngã cung"; các cung khác được quy vào nhóm "tha cung". Vấn đề này còn có sự bất đồng giữa các chi lưu thuộc Tứ Hóa phái.

Cách phân loại này dựa trên nguyên cớ như sau: vì "tha cung" là "sinh mệnh thể" khác, "ngã" chỉ có thể gây ảnh hưởng chớ không thể nắm giữ, khống chế, kiểm soát.

Hàm nghĩa của các "ngã cung" là phong thái, cá tính, tinh thần, tư tưởng, ý thức, lời nói và hành vi, cho đến tài sản thuộc cá nhân của "ngã".

Tử Vi Đẩu Số lấy cung mệnh làm chủ đạo của toàn mệnh bàn, mà cung mệnh là đại biểu bản thân của "ngã" — tức mệnh tạo; còn "tha cung" là đại biểu cho các "sinh mệnh thể" khác, chỉ có thể từ góc độ của "ngã", tư duy của "ngã", lập trường của "ngã" để luận đoán về chúng. Cho nên cũng chỉ có thể dùng phương thức so sánh và quy chiếu chúng với cung mệnh để luận giải.

Xin cử một ví dụ để thuyết minh: người Tử Vi thủ mệnh ở cung Tí, cung huynh đệ là Thiên Cơ; "Thiên Cơ" này chỉ là đại danh từ, là "Thiên Cơ" tương giao với Tử Vi. So với mệnh tạo là người Tử Vi tọa mệnh, thì lanh lợi, cơ trí, nhiều suy nghĩ, nhiều sầu muộn, nhiều phiền não, có khẩu tài, phản ứng nhanh, hơn mệnh tạo; nhưng nếu so với người khác, vẫn có thể bị mắng là ngu đần.

Bởi vì, rốt cuộc thì anh chị em cũng có mệnh bàn và cung mệnh của riêng họ, và trong cung mệnh của họ có thể không phải là Thiên Cơ tọa mệnh. Đây là điều mà người nghiên cứu Đẩu Số cần phải lưu ý.

Cung tài bạch là cửa ngõ giao dịch, cung quan lộc là cung vị khí số

Cung tài bạch là cửa ngõ giao dịch; cái cửa ngõ này không chỉ quan hệ đến phương thức kiếm tiền, đồng thời còn quan hệ đến cách đối nhân xử thế, và biểu hiện của việc giao du với người khác.

Còn bản nghĩa của cung quan lộc là cung vị khí số, là chỉ tiêu tinh thần về năng lực và công việc trong việc đảm nhiệm chức vụ. Lấy các sao của cung tài bạch để định vị loại công việc mệnh tạo đang làm, và lấy các sao của cung quan lộc để biết được người này có thể thăng chức nhanh hay không, hoặc có chuốc thị phi, gây rối loạn hay không.

Thái Âm lạc hãm ở cung nô bộc làm nên "cô quân"

Trở lại chủ đề Tử Vi tọa mệnh ở cung Tí: người có mệnh bàn như vậy, cung nô bộc của họ là Thái Âm ở thế yếu, mất hào quang, vô lực và bị động. Cũng có thể nói trong sinh hoạt cuộc sống, họ xem người Tử Vi tọa mệnh làm trục chính; trong tương giao, họ khó trợ giúp một cách có thực chất, cho nên mới lấy "Thái Âm lạc hãm" làm biểu trưng.

Cổ nhân lo lắng Tử Vi ở cung Tí sẽ biến thành "cô quân" — vua cô độc — nguyên nhân cũng tại lí do này. Trong tình huống này, vị trí của Tả Phụ, Hữu Bật khá quan trọng. Nếu chúng ở cung Thân và cung Ngọ, thì người này càng là "cô quân", căn bản chẳng chịu nghe ai khuyên bảo, rốt cuộc sẽ khó thành người giàu có. Còn Tả Phụ, Hữu Bật ở cung Tí thì thế mạnh.

Nhiều sách Tử Vi Đẩu Số và các nhà Đẩu Số tiền bối cho rằng, cung tam hợp của Tử Vi phải thấy Tả Phụ, Hữu Bật mới không phải là "cô quân"; đây là ý tượng: mệnh tạo có năng lực và có biểu hiện tốt.

Cùng có Tả Phụ đồng cung mà không thể luận giống nhau

Trong mệnh bàn Đẩu Số, nếu Tử Vi đồng cung với Tả Phụ ở cung mệnh, hoặc đồng cung với Hữu Bật ở cung mệnh: giả thiết một người cung mệnh ở Tí, có Tử Vi đồng cung với Tả Phụ, và một người khác cung mệnh ở Ngọ cũng có Tả Phụ đồng cung với Tử Vi, thì không thể luận giải như nhau.

Theo quan điểm của Tứ Hóa phái, dùng Đẩu Số đoán mệnh, trước tiên phải xem trọng diễn biến của tứ hóa; trong quá trình dự đoán vận thế, phải xem xét lực tác động hỗ tương của tứ hóa giữa các cung nguyên cục, đại vận và lưu niên để luận giải ra các hiện tượng cuộc đời.

Ở đây xin cử một ví dụ không liên quan đến tứ hóa để thuyết minh: một người có Tử Vi, Hỏa Tinh tọa mệnh ở cung Tí, và một người khác có Tử Vi độc tọa ở cung Tí, nhưng cung tật ách có Hỏa Tinh, vậy hai người này khác nhau thế nào? Ai là người có tính tốt? Ai là người có tính xấu?

Giải thích hợp lí là: người có Tử Vi và Hỏa Tinh tọa mệnh thường hay phát tính cuồng; còn người có Tử Vi độc tọa cung mệnh, Hỏa Tinh ở cung tật ách, thường diễn xuất để bản thân có dáng vẻ ung dung sang quý. Sự đè ép có lúc sẽ nổi giông tố, nhưng đó là lúc đã bị "nộ hỏa công tâm", bệnh chứng đã xuất hiện.

Tuy chỉ là phân tích cá tính, nhưng nếu muốn phân tích sâu hơn để biết người này tốt hay xấu, thì cần phải phối hợp với tứ hóa, và xem xét thêm các sao ở cung phúc đức mới có thể đưa ra kết luận.

Tử Vi ở cung Tí thuộc Thủy nhị cục

Người có Tử Vi tọa mệnh ở cung Tí thuộc Thủy nhị cục, có tính cầu toàn và hơi kèm tính ép buộc người khác; sau lưng biểu hiện lời nói và hành vi có phép tắc và lí lẽ, không khó phát hiện họ đã nhiều lần sửa đổi mới xác định được hướng tư duy.

Tuy bề ngoài ôn tồn nho nhã, nhưng trong nội tâm khá nóng nảy; thái độ đối với công việc và sự nghiệp là truy cầu vẻ hoa lệ và hoàn mĩ, thậm chí sẽ đầu tư và thử trước nhiều phương diện.

Dù họ có biểu hiện rất nhẹ nhàng, nhưng bản thân cũng đã nhiều lần thay đổi bất định. Kiệt tác sau khi tưởng tượng đủ cách phải có vẻ bề ngoài cực kì tốt đẹp.

Người này phải "trùm" thiên hạ, khiến cho chất lượng cuộc sống không được tốt, thậm chí còn có thể làm cho cả gia đình chịu áp lực xung kích.

Xin cử một ví dụ khác để thuyết minh: người Tử Vi thủ mệnh ở cung Tí thuộc Thổ ngũ cục, sẽ bày ra mọi thứ hoàn mĩ nhất, vì mục đích kiếm tiền mà mất nhiều thời gian và tinh thần, thậm chí có lúc cảm thấy vô lực, lực bất tòng tâm, vẫn dốc hết khả năng.

Có sức tưởng tượng phong phú, cũng có khiếu sáng tạo, và có cá tính phân biệt trong ngoài rõ ràng. Sẽ vì thân hữu hay người thân của mình mà thể hiện tinh thần trách nhiệm một cách mạnh mẽ, hao tốn nhiều tâm tư cho chuyện kinh doanh của anh em hay thân hữu.

Đối với thế giới bên ngoài họ có nhiều ảo tưởng; đối với tình cảm cũng có phần mơ mộng lãng mạn, nhưng đối tượng hôn phối của họ thường lại là người không như lí tưởng, cho nên thế giới tình cảm của người này cũng khá đa đoan.

Ai cũng biết Tử Vi chủ về tôn quý, vững vàng, khiêm cung, thẳng thắn; thực ra nhiều lúc quá khiêm cung mà thiếu trung hậu, tự phụ, ưa nghe lời xiểm nịnh, đa nghi. Lúc thuộc cục ngũ hành khác thì tâm tính cũng không rộng rãi gì. Nói tôn quý, nhưng giống như cao ngạo, ưa làm chủ tể của mọi người, hành xử lại nhiều tình cảm.

Những tính chất này sẽ vì cục ngũ hành khác nhau mà khiến cho người Tử Vi tọa mệnh ở cung Tí có cá tính khác nhau, đối với sự truy cầu trong cuộc sống cũng hoàn toàn khác nhau. Từ ví dụ người có Tử Vi tọa mệnh ở cung Tí thuộc Thủy nhị cục và Thổ ngũ cục đã thấy có nhiều chỗ khác nhau; các cục ngũ hành khác như Mộc tam cục, Kim tứ cục, Hỏa lục cục, cũng có cá tính khác nhau rất rõ rệt, cảnh ngộ gặp phải trong cuộc đời cũng khác nhau ít nhiều.

Tử Vi thủ mệnh ở cung Tí hoặc Ngọ

Đã biết cùng một cung mà khác cục thì khác người, nay xem tiếp từng cung vị một, bắt đầu từ chỗ đế tinh được ngồi một mình.

Tử Vi thủ mệnh ở cung Tí hoặc Ngọ, ở cung Ngọ ưu hơn cung Tí. Tử Vi ở cung Tí hoặc Ngọ là độc tọa, nhưng cung Tí là thuộc thủy, Tử Vi thuộc thổ sẽ đi khắc thủy của cung Tí, chỉ cần có "chinh chiến" ắt có thương tổn nguyên khí.

Vì Tử Vi thủ mệnh ở cung Tí lúc nào cũng phải đối kháng với Tí thủy, cho nên phía sau lời nói và hành vi của người này ắt sẽ có động cơ muốn thay đổi truyền thống, không bằng lòng với hiện trạng, thích làm chủ đạo nhưng lại khó xác định rõ chủ trương của mình và điều muốn thay đổi nằm ở đâu.

Về phong cách làm việc, họ làm cho người ta có cảm giác trầm ổn, vững vàng, tuy thích thu nạp ý kiến rộng rãi, nhưng đồng thời lại có ý thức độc lập và không thích người khác tham dự vào chuyện của mình, nhiều lúc thay đổi lối suy nghĩ 180 độ, không cách nào xác định được.

Nếu ở trong tình trạng không gặp Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật — do ảnh hưởng của "Thiên Đồng, Cự Môn" thủ cung tật ách — với khí độ ung dung bề ngoài, tận nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn họ lại đậm lòng nghi kị và thích cạnh tranh với người khác.

Vì ảnh hưởng của Tham Lang ở cung thiên di, họ luôn có khát vọng, mong ước, theo đuổi một cuộc sống đẹp đẽ, đầy lãng mạn, thoát khỏi mọi vòng cương tỏa trong thế giới nhiều biến động thay đổi này. Bề ngoài họ là người trầm ổn, vững vàng, nhưng ở nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn họ lại hay thay đổi bất định.

Cũng vì sức mạnh của Tử Vi dùng vào việc chế khắc Tí thủy, cho nên lúc có lực lượng khác tiếp cận công phá, dễ có hành vi thiên lệch, hoặc trong ngoài bất nhất.

Vì vậy, trường hợp Tử Vi thủ mệnh ở cung Tí, giữa hình tượng và nội tại thường thấy rất khác nhau; do người Tử Vi thủ mệnh ở cung Tí có tác phong vững vàng và biểu hiện đầy đủ phong độ, nhưng trong nội tâm là những đợt sóng ngầm cuộn cuộn, nên họ không phải là người an nhiên tự tại như biểu hiện bề ngoài.

Mệnh tạo rất dễ thành người theo lí tưởng chủ nghĩa, và cũng tự biết giữa lí tưởng và hiện thực có một độ khoảng cách, nên trong tâm tồn tại một ý thức mạnh mẽ ở mức độ cao hơn; cũng vì vậy mà họ chôn trong lòng những hạt giống ưu phiền bất an.

Tử Vi ở cung Ngọ là "Kim dư phù giá"

Còn trường hợp Tử Vi ở Ngọ, bởi vì Ngọ là cung thuộc hỏa thổ, "thấp thổ" — đất ướt — của Tử Vi được hỏa thổ — đất lửa — làm thành "đất màu mỡ"; lại không hỗn tạp như các chính tinh cấp một khác, Tử Vi được toàn quyền phát huy lợi thế của nó, cho nên Tử Vi ở cung Ngọ được gọi là "Kim dư phù giá" — xe vàng chở vua.

Tuy trạng thái nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn và những mong muốn về cuộc đời của trường hợp Tử Vi ở cung Ngọ cũng giống như trường hợp Tử Vi ở cung Tí, nhưng về lực tạo tác họ có thể xác định rõ chủ trương và kế hoạch cho viễn cảnh tương lai.

Nhờ khí của cung vị phối trí, người này có kiến giải và tư duy cao siêu hơn người bình thường.

So với người Tử Vi thủ mệnh ở cung Tí, trong ngoài cũng nhất trí hơn; họ còn là cứng cỏi, vững vàng, nhưng có thể tổng hợp ý kiến của mọi người. Do đó có thể thấy, Tử Vi ở cung Ngọ là đúng vị trí hơn ở cung Tí.

Tuy Tử Vi ở hai cung Tí hoặc Ngọ thủ mệnh không cách nào được Tả Phụ và Hữu Bật giáp cung, nhưng còn có thể được Tả Phụ, Hữu Bật ở cung thiên di, cung tài bạch vây chiếu; người được cách cục này cũng có thể đạt được thành công ở mức độ khá. Hơn nữa, phần nhiều đều dựa vào nỗ lực của bản thân, "tự giúp mình rồi trời sẽ giúp", trong ngoài ứng hợp mà có được thành tựu.

"Tử Vi, Phá Quân" thủ mệnh ở cung Sửu hoặc Mùi

"Tử Vi, Phá Quân" thủ mệnh ở cung Sửu hoặc Mùi, ở cung Mùi ưu hơn ở cung Sửu.

Phá Quân là tướng quân tiên phong của Tử Vi; đã là tiên phong, tức là dũng sĩ trong số hàng ngàn người. Phá Quân chỉ cần được sắc lệnh của Tử Vi tất sẽ dũng cảm xông tới, cho nên người có hai sao này thủ mệnh sẽ cứng cỏi, ngang ngược hơn, và cũng có năng lực khai sáng hơn trường hợp Tử Vi độc tọa.

Do Phá Quân có tính chất chống đối truyền thống nên sẽ khiến Tử Vi đồng cung biến thành giàu sáng kiến, dũng cảm sáng tạo cái mới, có thể tiếp nhận quan niệm của trào lưu mới; về phong cách hành sự cũng khá độc lập.

Bởi vì Tử Vi thủ mệnh ở cung Sửu hoặc Mùi có thể được Tả Phụ, Hữu Bật giáp cùng, cho nên có thể nói đây là cách cục được phù trợ tối đa. Được Tả Phụ, Hữu Bật giáp cùng, không những có chí hướng lí tưởng, tham vọng và sáng kiến, mà còn có thể nỗ lực phấn đấu.

Hơn nữa, do ảnh hưởng của Thiên Tướng ở cung thiên di, người này sẽ rất xem trọng phong thái hình tượng bên ngoài, và giỏi biểu đạt sức quyến rũ, làm cho người khác có ấn tượng tốt đẹp về mình. Nếu không có cát tinh hội chiếu trợ giúp, sẽ dễ thành người tâm cao khí ngạo, trở mặt vô tình.

Mặt khác, vì phương tam hợp là cách cục "Sát Phá Tham", tổ hợp sao ở cung quan lộc và cung tài bạch hình thành đặc tính biến động khá lớn, chủ về cuộc đời gặp nhiều sóng gió trắc trở; bất kể có cát tinh hội chiếu hay không, đều dễ làm nhiều công việc khác nhau, hoặc làm thử nhiều nơi khác nhau.

Do ở cung tài bạch là tổ hợp "Vũ Khúc, Thất Sát", nên biểu hiện và hành vi dễ làm cho người khác có cảm giác họ là người vô tình vô nghĩa; mặc dù mệnh tạo khá đa tình, trong vô tình vẫn khiến cho người ta cảm thấy họ là người tình cảm lạnh nhạt.

Mệnh bàn thứ nhất: "Tử Vi, Phá Quân" thủ mệnh tại cung Sửu.

Tị
Quan Lộc
Liêm Trinh
Tham Lang
Ngọ
Nô Bộc
Cự Môn
Mùi
Thiên Di
Thiên Tướng
Thân
Tật Ách
Thiên Đồng
Thiên Lương
Thìn
Điền Trạch
Thái Âm
Dậu
Tài Bạch
Vũ Khúc
Thất Sát
Mão
Phúc Đức
Thiên Phủ
Tuất
Tử Nữ
Thái Dương
Dần
Phụ Mẫu
Vô chính diệu
Sửu
Mệnh
Tử Vi
Phá Quân
Tí
Huynh Đệ
Thiên Cơ
Hợi
Phu Thê
Vô chính diệu

Mệnh bàn thứ hai: "Tử Vi, Phá Quân" thủ mệnh tại cung Mùi.

Tị
Phu Thê
Vô chính diệu
Ngọ
Huynh Đệ
Thiên Cơ
Mùi
Mệnh
Tử Vi
Phá Quân
Thân
Phụ Mẫu
Vô chính diệu
Thìn
Tử Nữ
Thái Dương
Dậu
Phúc Đức
Thiên Phủ
Mão
Tài Bạch
Vũ Khúc
Thất Sát
Tuất
Điền Trạch
Thái Âm
Dần
Tật Ách
Thiên Đồng
Thiên Lương
Sửu
Thiên Di
Thiên Tướng
Tí
Nô Bộc
Cự Môn
Hợi
Quan Lộc
Liêm Trinh
Tham Lang

Nhưng cách cục "Tử Vi, Phá Quân" trong Tử Vi Đẩu Số có thể nói là cách cục đào hoa lớn nhất, còn thuộc tính ẩn; bởi vì cung quan lộc — cung vị khí số — là hai sao đào hoa Liêm Trinh, Tham Lang tọa thủ, còn cung thiên di có khát vọng của Thiên Tướng, khiến người này xem trọng biểu hiện bề ngoài và hưởng thụ cuộc sống cao cấp.

Mà có biểu hiện ung dung như vậy còn làm cho người có cách cục "Tử Vi, Phá Quân" này được bạn khác giới hiệp trợ; do đó, trong xã giao, người này luôn nghĩ cách làm cho người ta chú ý, còn có gặp gỡ bất ngờ.

Nếu trong cách cục còn được sao đào hoa khơi động, thì năng lực thực hiện của "Tử Vi, Phá Quân" sẽ chuyển sang phục vụ vì "Liêm Trinh, Tham Lang", biến thành "người chống đối của trào lưu mới" trong tình cảm.

Cách cục "Tử Vi, Phá Quân" ở cung Mùi ưu hơn ở cung Sửu, nguyên nhân là vì tính thủy của Phá Quân quá hàn. Theo nguyên lí ngũ hành thì có thể biết ở cung Mùi còn có dư hỏa, có thể trợ giúp Tử Vi đè nén Phá Quân; còn ở cung Sửu là nơi dư khí hàn, Tử Vi muốn kiềm chế Phá Quân thì phải hao tốn nhiều khí lực.

Cũng vì vậy mà người có "Tử Vi, Phá Quân" ở cung Sửu bị mâu thuẫn nội tâm hơn nhiều so với trường hợp ở cung Mùi; năng lực hành động vì vậy cũng mạnh hơn ở cung Mùi, đồng thời tính chống đối của trường hợp ở cung Sửu cũng mạnh hơn rất nhiều.

"Tử Vi, Thiên Phủ" thủ mệnh ở cung Dần hoặc Thân

"Tử Vi, Thiên Phủ" thủ mệnh ở cung Dần hoặc Thân, cung Dần hay cung Thân đều có chỗ ưu liệt riêng, nhưng luận về tài phú thì ở cung Thân ưu hơn ở cung Dần.

Thiên Phủ là lớn thứ hai so với Tử Vi, cũng thuộc thổ, là Mậu thổ, là "đất" khô ráo ở chỗ cao rộng. Hai sao "Tử Vi, Thiên Phủ" cùng ở cung Dần hoặc Thân, do bản tính tương tự nhau, mà sức mạnh cũng chuyên nhất và to tát, do đó cổ nhân đánh giá tổ hợp sao này rất cao, cho rằng "Tử Vi, Thiên Phủ" đồng cung gặp Liêm Trinh Hóa Lộc hay Vũ Khúc Hóa Lộc, nhất định là nhà giàu có hoặc là bậc công khanh.

Còn bình luận "Tử Vi, Thiên Phủ đồng cung là sinh quý nhân, trời đất sáng rõ, vạn tượng đều tươi mới, ưa gặp cung Dần hoặc Thân cùng đắc địa, danh tiếng lỗi lạc động càn khôn":

Đồng cung Tử Phủ quý sinh nhân,
Thiên địa thanh minh vạn tượng tân,
Hỉ phùng Dần Thân đồng đắc địa,
Thanh danh hiển lỗi lạc động kiền khôn.

Tổ hợp "Tử Vi, Thiên Phủ" cũng rất thích Tả Phụ, Hữu Bật. Nếu hai sao Tả Phụ, Hữu Bật chia ra ở cung quan lộc và cung thiên di vây chiếu, có thể khiến cho người "Tử Vi, Thiên Phủ" có lực tạo tác không những là phúc lộc song toàn, mà còn có danh tiếng đồn xa.

Cho nên có thuyết: "Có Tả Phụ đồng cung, là bậc tôn quý có nhiều đất đai; có Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật đồng cung, là rất giàu có; có đủ Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, là đỗ đạt cao được vinh hiển":

Hữu Tả Phụ đồng, tôn cư vạn thặng,
Xương Khúc Tả Hữu đồng, cự vạn chi tư,
Tả Hữu Xương Khúc toàn, cao đệ ân vinh.

Nếu luận về người, vì tính thổ ấm khô điều hòa, cho nên là người vững vàng, cẩn thận, vững vàng, hiền lành, năng lực học tập và năng lực quản lí đều rất tốt; nhưng vì sức mạnh nghiêng lệch, nên luôn lấy bản thân làm trung tâm, dục vọng quyền lực quá nặng, thích nắm quyền.

Hai chủ tinh của Nam Đẩu và Trung Thiên cùng ở một cung, mệnh tạo sẽ có cảm giác mình ưu việt hơn người bình thường, tự thị tự cao; cũng vì có khoảng cách quá lớn với người khác nên thường sẽ có cảm giác cô độc.

Do tâm trạng này, nữ mệnh "Tử Vi, Thiên Phủ" dễ bị tình trạng yêu mà không thể thổ lộ, do đó phần nhiều đều kết hôn muộn. Nếu bị phụ tinh ảnh hưởng mà kết hôn sớm, tình cảm sau khi kết hôn sẽ dễ vì vậy mà có sóng gió.

Tổ hợp "Tử Vi, Thiên Phủ" gặp Lộc Tồn và gặp sát tinh

Tuy "Tử Vi, Thiên Phủ" thủ mệnh thích gặp Lộc Tồn đồng cung, chủ về người này có cơ hội thành thương nhân giàu có, khá thích hợp phát triển trong giới kinh tế tài chính; nhưng vì tính của ba sao này đều nặng, thường thường vận tác rất chậm, nên vận trình cũng sẽ phát khá chậm.

Vì vậy cần phải có Thiên Mã đồng cung hoặc tứ hóa nhập cung, mới có động lực thúc đẩy vận thế của cách cục này phát sớm; đồng thời vì đặc tính của Lộc Tồn là nặng tâm lí phòng vệ, thậm chí tính khí hẹp hòi, keo kiệt.

"Tử Vi, Thiên Phủ" đồng cung tối kị có Đà La hoặc Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung — Kình Dương không xuất hiện ở hai cung Dần và Thân. Đây là phá cục, bởi vì ba sát tinh này sẽ phá hoại tính cách vững vàng, hiền lành ban đầu; người này tuy vẫn có thể có thành tựu, nhưng sẽ dễ thành người gian trá, giảo hoạt, ích kỉ.

Nếu gặp hai sao Địa Không, Địa Kiếp, cũng giống như trường hợp Tử Vi gặp Địa Không, Địa Kiếp, chủ về cô lập, không nơi nương tựa. Nếu vận thế không tốt, cao thì khó thành, thấp cũng không được, có tài mà không gặp thời, tính cách cô tịch, rốt cuộc kì vọng của họ thường thường đều khó thực hiện.

Cung Dần và cung Thân — hai ưu thế khác nhau

Ưu thế của hai sao thổ nặng "Tử Vi, Thiên Phủ" cùng ở cung Sửu là được khí mộc của Sửu làm cho thông suốt, có thể thúc đẩy hai sao này tăng tốc lực tạo tác, thành ruộng đất tốt để chở vạn vật, củng cố tường thành của gia viên.

Còn ưu điểm của hai sao thổ nặng "Tử Vi, Thiên Phủ" cùng ở cung Thân là được khí kim của Thân làm cho ưu tú, chủ về người này rất có năng lực.

Còn hai sao Thái Dương, Thái Âm "Nhật Nguyệt tịnh minh" rơi vào cung lục thân là chủ về có thể trợ giúp mệnh tạo về thực chất, cha mẹ có thể cho mệnh tạo ở trong hoàn cảnh giáo dục ưu tú.

Nếu gặp Tả Phụ, Hữu Bật hoặc Văn Xương, Văn Khúc cùng giáp, thường thường xuất thân con nhà thư hương hoặc thế gia vọng tộc, có thể phát triển hướng làm công chức. Ngoài ra, vì Cự Môn ở cung điền trạch, nếu Cự Môn được ở cung Hợi thì ý tượng có tài phú càng lớn, khả năng mệnh tạo thành cự phú càng tăng thêm.

"Tử Vi, Tham Lang" thủ mệnh ở cung Mão hoặc Dậu

Thuộc tính ngũ hành của Tham Lang là mộc kèm thủy; ở cung Mão hoặc Dậu được Tử Vi thổ tạo cho chỗ đứng, nhờ có căn cơ mà được hưng thịnh, cho nên tổ hợp này sẽ lộ rõ tính cách của Tham Lang. "Tử Vi, Tham Lang" cư Mão Dậu, cổ nhân gọi là "Cực cư Mão Dậu".

Bởi vì Tham Lang là tượng trưng cho dục vọng trong nhân mệnh, sau khi được Tử Vi ngầm công nhận đã tạo thành ảnh hưởng là khiến mệnh tạo có cử chỉ gì cũng đều có sức quyến rũ hơn người bình thường, đương nhiên khá dễ có tổ hợp đào hoa; người xưa từng nói là "đào hoa phạm chủ là rất dâm" — đào hoa phạm chủ vi chí dâm.

Thực ra lực tạo tác của tổ hợp này, diễn giải bằng ngôn ngữ hiện đại là: người này có cuộc sống lãng mạn, biết ý vị của cuộc sống. Dục vọng của Tham Lang không chỉ là cuộc sống vật chất, mà còn có lòng ham muốn hiểu biết rất mạnh.

Nếu không gặp các sao đào hoa, Tham Lang bị Tử Vi cưỡng chế hành vi tạo tác, sẽ khiến mệnh tạo có khuynh hướng cầu toàn; một khi đã cho là chính xác thì kiên trì thực hiện, không chịu thua.

Nếu "Tử Vi, Tham Lang" có các sao đào hoa Văn Xương, Văn Khúc, Hồng Loan, Thiên Hỉ, Thiên Diêu đồng cung, thông thường sẽ có chuyện tình cảm rối rắm, phiền phức; nhưng nếu không gặp các sao đào hoa vừa kể, thì sẽ thành tổ hợp tinh hệ Tử Vi có cách cục cực đẹp.

Bởi vì tổ hợp tam phương mệnh tài quan có thể khiến mệnh tạo thành người hào sảng, ngay thẳng, dứt khoát, có lực hành động, có tính dẻo dai và phản ứng mẫn tiệp; thường thường là người thông minh, sôi nổi, còn có diện mạo bất phàm, biết quan sát sắc mặt và lời nói của người khác, miệng mồm lanh lợi, rất biết nói chuyện.

Do lòng ham muốn hiểu biết và thiên phú của Tham Lang, phần nhiều mệnh tạo sẽ có nghề chuyên môn hay sở trường đặc biệt về nghệ thuật hoặc văn học.

Một đặc tính khác của Tham Lang là chủ về trường sinh; lúc đặc tính này hiển lộ, mệnh tạo sẽ rất thích tìm hiểu thuật thần tiên.

Thông thường mà nói, bất kể tam phương hội hợp với chính tinh nào, chỉ cần có Địa Không, Địa Kiếp nhập cung mệnh, đều sẽ làm giảm yếu nhu cầu vật chất của "Tử Vi, Tham Lang" mà chuyển sang phương diện tinh thần.

Nếu gặp thêm Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, sẽ có khuynh hướng phát triển về phương diện tôn giáo — tôn giáo nào cũng được, không chỉ riêng Phật giáo, vì đây là khuynh hướng tìm sự an ủi tâm hồn. Cho nên cổ nhân còn nói: "Tử Vi cư Mão Dậu có tứ sát tinh, Địa Kiếp, Địa Không đồng cung, phần nhiều là sư tăng thoát tục":

Cực cư Mão Dậu, Kiếp Không tứ sát,
Đa vi thoát tục chi tăng.

Chữ "tăng" trong cách cục này cũng chỉ bậc siêu phàm thoát tục.

"Tử Vi, Thiên Tướng" thủ mệnh ở cung Thìn hoặc Tuất

"Tử Vi, Thiên Tướng" thủ mệnh ở cung Thìn hoặc Tuất, ở cung Thìn ưu hơn ở cung Tuất.

Hai cung Thìn Tuất, trong Tử Vi Đẩu Số gọi là Thiên La, Địa Võng. Bất cứ sao nào rơi vào hai cung vị này cũng đều giống như rơi vào vũng bùn lầy lội, cần phải hao tốn rất nhiều sức lực mới thoát ra được; nói một cách tương đối, thoát ra được đều không phải là hạng người tầm thường.

Tử Vi ở hai cung này sẽ đồng cung với Thiên Tướng. Thiên Tướng là quan phò tá đế vương, chưởng quản ấn tỉ để phát hiệu lệnh; Tử Vi mà được ấn tỉ tức là vua được quần thần công nhận và tuân theo. Nhưng vì "Tử Vi, Thiên Tướng" rơi vào cung Thìn hoặc Tuất là cảnh khó khăn, nên không cách nào tạo tác; do đó hai cung vị này rất là bất lợi đối với Tử Vi.

Một là, tuy Tử Vi được ấn Thiên Tướng nhưng không xung phá được sự hạn chế của cung vị, nên dù đầy tinh thần chính nghĩa và tư duy logic khá tốt, nhưng vẫn có nguyên tắc thâm căn cố đế là "tự cho mình là đúng". Nếu không thấy các sao phò tá khác thì bất kể hoàn cảnh tốt hay xấu, điều này sẽ làm tăng áp lực khiến mệnh tạo không còn lực phản kích, cảm thấy mình có chí hướng nhưng khó thực hiện.

Hai là, Thiên Tướng là thủy, Tử Vi thuộc thổ, về bản chất, thế giới nội tâm của người này đầy mâu thuẫn. Hơn nữa, đối cung là Phá Quân, trường hợp mệnh ở cung Thìn hoặc Tuất sẽ thấy kì vọng của đế tinh Tử Vi là Phá Quân phá hoại rồi mới kiến thiết, chủ về mệnh tạo muốn thay đổi toàn bộ cục diện của hoàn cảnh, có trạng thái tâm lí phủ định tất cả. Tuy bề ngoài vẫn xử sự cẩn thận, lạc quan đối đãi với người, nhưng thực ra bên trong tâm hồn ngầm chứa sóng gió ba đào.

Vì "Tử Vi, Thiên Tướng" bị thiên di hấp dẫn, làm biến thành thích khai sáng, có nhiều ý tưởng đặc biệt, ưa làm những công việc hay nghề nghiệp hoạt động ở bên ngoài. Nhưng do người "Tử Vi, Thiên Tướng" thủ mệnh chỉ trông cậy vào bản thân, cho nên thường thường không chịu an phận.

Vì luôn phải xung phá sự hạn chế của Thiên La Địa Võng, cho nên mệnh vận thăng trầm với biên độ rất lớn; đặc biệt là trường hợp gặp Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh thì càng nặng. Nhưng thường thường cũng nhờ được tứ sát tinh trợ lực và tứ hóa phản ứng, nên sẽ có năng lực cải cách không phải tầm thường.

Cũng vậy, cách cục này nếu được Tả Phụ, Hữu Bật trợ lực, thường thường có thể xung phá được giới hạn mà nắm quyền bính; được Văn Xương, Văn Khúc hội hợp thì có thu hoạch nhờ tài nghệ và danh tiếng; thấy Kình Dương, Thiên Hình đồng độ, phần nhiều chủ về hình khắc kiện tụng; gặp Đà La thì chủ về hành hạn hay thay đổi, dễ gặp trắc trở, nhưng bất kể nam nữ, đều không may mắn về tình cảm, mối tình đầu thường khắc cốt ghi tâm.

"Tử Vi, Thiên Tướng" thủ mệnh ở cung Thìn, có thành tựu về tiền bạc, sự nghiệp hơn "Tử Vi, Thiên Tướng" thủ mệnh ở cung Tuất, vì "Nhật Nguyệt tịnh minh" ở cung Sửu chiếu sáng cung điền trạch, có cơ hội thành người giàu có, tuy vừa phú vừa quý là khó được.

Mệnh bàn thứ ba: "Tử Vi, Thiên Tướng" thủ mệnh tại cung Thìn.

Tị
Phụ Mẫu
Thiên Lương
Ngọ
Phúc Đức
Thất Sát
Mùi
Điền Trạch
Vô chính diệu
Thân
Quan Lộc
Liêm Trinh
Thìn
Mệnh
Tử Vi
Thiên Tướng
Dậu
Nô Bộc
Vô chính diệu
Mão
Huynh Đệ
Thiên Cơ
Cự Môn
Tuất
Thiên Di
Phá Quân
Dần
Phu Thê
Tham Lang
Sửu
Tử Nữ
Thái Dương
Thái Âm
Tí
Tài Bạch
Vũ Khúc
Thiên Phủ
Hợi
Tật Ách
Thiên Đồng

"Tử Vi, Thất Sát" thủ mệnh ở cung Tị hoặc Hợi

Thất Sát là đại tướng của đế tinh Tử Vi, là đại tướng tất phải có dũng có mưu; người xưa thường nói "một tướng thành công vạn xương khô":

Nhất tướng công thành vạn cốt khô.

Lúc "Tử Vi, Thất Sát" đồng cung, vẫn lấy Tử Vi làm chủ đạo; Thất Sát phò vua mà tạo tác, cũng giống như đi theo hoàng đế ngự giá thân chinh thì phải là một vị tướng tài đương thế.

Cho nên người "Tử Vi, Thất Sát" thủ mệnh phần nhiều có tính cách kiên cường, có tác phong rất quả quyết; tuy hơi phách lối, thích ra oai và chủ quan, nhưng thường thường vẫn có thể hành động đúng hướng.

Vì Thất Sát thuộc kim, Tử Vi thuộc thổ sinh được Thất Sát kim, mẫu người này thường thường đều có biểu hiện năng lực khá tốt, có hùng tâm tráng chí, ai cũng biết.

Nếu được các sao Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, hoặc Lộc Tồn trợ lực, tức như cổ nhân nói "Tử Vi, Thất Sát mà nắm quyền, lại biến thành điềm lành":

Tử Vi Thất Sát hóa quyền, phản tố trinh tường.

Ý nói Tử Vi có đủ sức mạnh để kiềm chế tính cương dũng của Thất Sát thì nó sẽ thành tướng tài phò tá; hoặc ý nói bản thân Tử Vi có đủ binh lực để Thất Sát vận dụng, như vậy mới "hóa sát làm quyền" — biến sát khí thành quyền lực — làm cho Tử Vi có tiếng tăm vang dội.

Nếu gặp Địa Không, Địa Kiếp, thì như cổ nhân nói "Tử Vi, Thất Sát thêm Không Vong là có hư danh nhờ cha ông":

Tử Vi Thất Sát gia Không Vong, hư danh thụ ấm.

Ý nói dù nhất thời có được danh lợi, e rằng rốt cuộc cũng chỉ còn chút hư danh; nhưng nếu "Tử Vi, Thất Sát" gặp các hung tinh Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, thì tính của Thất Sát càng nổi lên, có thể thành bá chủ đám người tầm thường, được rồi thì bị phá.

Cho nên "Tử Vi, Thất Sát" thủ mệnh nếu được cát tinh phù trợ, thường thường là người thông quyền đạt biến, tính toán tỉ mỉ, chỗ nào tốt thì đến chỗ đó, nhưng giàu tính độc lập, hiếu cường. Người thuộc cách cục này lợi về khai sáng mà khó giữ thành quả; ứng nghiệm trong cuộc sống thực tế thường sẽ bị tình trạng trước siêng sau lười.

Ảnh hưởng của Tử Vi ở cung quan lộc và cung tài bạch

Đế tinh ngồi ở cung mệnh đã bàn đủ mười hai cung vị; nay xem nó rời khỏi ngôi chủ mà sang hai cung nói chuyện làm ăn.

Trong mười hai cung vị địa chi, chỉ hai cung Tí và Ngọ là Tử Vi độc tọa, các cung vị còn lại Tử Vi đều đồng cung với chính tinh khác. Lúc Tử Vi đồng cung với chính tinh khác, sức mạnh của nó đủ để thay đổi mệnh cục.

Cho nên lúc Tử Vi rơi vào cung quan lộc tượng trưng cho mệnh cục cao thấp rất là hữu dụng, có thể kiềm chế sát tinh và hóa giải sao hung, chủ đạo toàn cục, có sự trợ giúp rất lớn đối với mệnh tạo. Vì Tử Vi là chủ về quan lộc, nên người có Tử Vi nhập cung quan lộc phần nhiều đều có chí lớn, khí độ hiên ngang.

Người mới học Tử Vi Đẩu Số thường chỉ chú trọng tính chất các sao tọa thủ cung mệnh, mà không tìm hiểu thấu đáo tính chất của các sao ở cung quan lộc và cung tài bạch. Lấy trường hợp Tử Vi ở cung Tí là cung quan lộc hay cung tài bạch làm ví dụ: người cung mệnh có Tử Vi và người cung tài bạch hay cung quan lộc có Tử Vi nhất định sẽ có sân khấu cuộc đời và nghề nghiệp hoàn toàn khác nhau; thái độ làm việc và tính chuyên nghiệp của người này trong nghề nghiệp cũng sẽ không giống nhau.

Người cung quan lộc ở cung Tí là Tử Vi tọa thủ sẽ không phải là người thiếu lập trường, dễ nghe lời người khác, càng không ưa chuyện được xu nịnh, mà có yêu cầu cực cao đối với bản thân.

Cung quan lộc là thuộc lãnh vực tinh thần nội tại, cho nên Tử Vi ở cung quan lộc là người có tư tưởng tình cảm cao thượng.

Đây cũng là tiêu chuẩn họ định vị cho chính mình, và cũng là mục tiêu để họ đốc thúc bản thân. Cho nên người như vậy rất có tinh thần trách nhiệm, có năng lực gánh vác trọng trách.

Cung mệnh của người này ở cung Thân, tất nhiên là "Vũ Khúc, Thiên Tướng" thủ mệnh; trong đó, Vũ Khúc là chủ về phải trải qua tôi luyện mới có được thành tựu, đây là do Tử Vi ở cung quan lộc tạo ra.

Bản thân Tử Vi đã có tính chất của Hóa Quyền; Hóa Quyền ở cung quan lộc là người rất nghiêm khắc với bản thân, phàm chuyện gì cũng chú trọng hiệu suất, cho nên người có Tử Vi ở cung quan lộc còn có tinh thần cúc cung tận tụy. Những điều vừa thuật chỉ là miêu tả trường hợp Tử Vi độc tọa, không có tính chất của các sao khác lẫn vào.

Tử Vi ở cung tài bạch chủ nghề chuyên môn

Lại lấy Tử Vi tọa thủ cung Tí là cung tài bạch làm ví dụ: đây là chủ về có tính chuyên nghiệp và nghề chuyên môn, hay có sở trường đặc biệt; còn có hàm ý "người trên đối với người dưới", "một người đối với nhiều người".

Cho nên về nghề nghiệp, họ có thể là làm việc ở cấp chủ quản, huấn luyện viên của các vận động viên chuyên nghiệp, thầy của các thầy, thầy của các chuyên viên về thời trang, làm đẹp, y tá trưởng của các y tá…

Trên là ý tượng cơ bản của trường hợp Tử Vi độc tọa cung tài bạch, nhưng lãnh vực hay phạm vi nghề nghiệp của Tử Vi cũng có thể thay đổi, tăng hay giảm, mở rộng hay thu gọn; các vấn đề này phải xem ảnh hưởng của các sao đồng cung.

Ngoài ra, trường hợp này tất nhiên là "Liêm Trinh, Thiên Phủ" thủ mệnh ở cung Thìn, còn cung quan lộc ắt sẽ thấy "Vũ Khúc, Thiên Tướng"; giả thiết lúc khí thế cung quan lộc tăng cao, thì biểu hiện của Tử Vi cũng sẽ thấy tăng mạnh, "nước dâng thì thuyền dâng".

Tính tình của Tử Vi

Cùng một đế tinh ấy, Bắc phái còn giữ một bản chép khác; đại thể thì giống nhau, chỉ khác ở đôi chỗ nhỏ.

Cùng một đế tinh ấy, trong Bắc phái còn một nguồn tư liệu khác chép lại; đại thể thì giống nhau, khác nhau ở đôi chỗ nhỏ, nên chép ra để đối chiếu.

Tử Vi thuộc Kỉ thổ, âm thổ, là sao tôn quý của Trung Thiên — có thuyết khác là chính tinh của Bắc Đẩu; hóa khí làm "tôn quý", ở số là cai quản tước lộc, có công năng hóa giải tai ách, kéo dài tuổi thọ, chế hóa sự tình; là chủ quan lộc.

Phàm là chính tinh của Trung Thiên hay của Nam Bắc Đẩu, như Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm, đều ưa "bách quan triều củng"; tam phương tứ chính rất ưa có các sao đôi cát tường như Văn Xương Văn Khúc, Tả Phụ Hữu Bật, Thiên Khôi Thiên Việt, Lộc Tồn Thiên Mã hội nhập. Các sao đôi đều phải hội nhập song song, thì lực phò tá mới lớn.

Tử Vi không sợ sát tinh, nhưng cũng không ưa các sát tinh như Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, sao Hóa Kị hội nhập ở tam phương. Nếu không có cát tinh hội nhập mà chỉ có sát tinh hội nhập, thì gọi là "cô quân".

Hóa khí là chuyển hóa năng lượng, biến thành, mở rộng tính của sao. Tử Vi hóa khí làm tôn quý; tôn quý thì địa vị ở trên mọi người, có bản chất lãnh đạo. Ở số là cai quản tước lộc, "tước" là danh vị, chức vị; "lộc" vốn có nghĩa là "bổng lộc quốc gia, lương bổng", suy ra là tiền tài vật chất, bao gồm phúc lộc, thực lộc, tài lộc, y lộc.

Tử Vi có công năng hóa giải tai ách, kéo dài tuổi thọ, chế hóa — chế hóa là có năng lực kiểm soát, khống chế và khuất phục sát tinh. Do có sức mạnh bao trùm, cho nên Tử Vi là một sao trong "Ngũ phúc tinh" và "Ngũ thọ tinh". Biệt danh của Tử Vi là: Đế tọa, Bắc cực, Bắc thần, Tôn tinh.

Quy tắc bài bố Tử Vi trong cung tứ chính

Tứ chính là Tí Ngọ Mão Dậu, Thìn Tuất Sửu Mùi, Dần Thân Tị Hợi. Phàm các chính tinh trước tiên đều chia thành ba nhóm Tí Ngọ Mão Dậu, Thìn Tuất Sửu Mùi, Dần Thân Tị Hợi; rồi từ các nhóm này chia nhỏ thành sáu tuyến giao thoa nhau, như tuyến Tí Ngọ, tuyến Mão Dậu, tuyến Thìn Tuất, tuyến Sửu Mùi, tuyến Dần Thân, tuyến Tị Hợi.

Rồi dựa vào các tuyến này mà phân biệt ở cung Tí hay cung Ngọ, ở cung Mão hay cung Dậu, ở cung Thìn hay cung Tuất, ở cung Sửu hay cung Mùi, ở cung Dần hay cung Thân, ở cung Tị hay cung Hợi.

Ví dụ như Tử Vi, trước tiên chia thành ba nhóm Tí Ngọ Mão Dậu, Thìn Tuất Sửu Mùi, Dần, Thân, Tị, Hợi.

Nếu Tử Vi ở nhóm Tí Ngọ Mão Dậu, lại chia nhỏ thành tuyến Tí Ngọ, tuyến Mão Dậu. Ở tuyến Tí Ngọ, Tử Vi ở cung Tí hay Ngọ đều là độc tọa, Tham Lang ắt sẽ ở đối cung của nó. Ở tuyến Mão Dậu, Tử Vi và Tham Lang ở cung Mão hay Dậu đều đồng cung.

Cho nên Tử Vi ở bốn cung Tí Ngọ Mão Dậu, sẽ chịu sự ảnh hưởng rất lớn của Tham Lang, do Tham Lang ở đối cung hoặc đồng cung. Rồi lại phân biệt Tử Vi ở cung Tí và Tử Vi ở cung Ngọ.

Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, Tham Lang ắt sẽ ở đối cung; Tử Vi và Tham Lang đồng cung ở hai cung Mão hoặc Dậu; cho nên Tử Vi ở các cung Tí, Ngọ, Mão, Dậu sẽ bị ảnh hưởng rất lớn của Tham Lang.

Tử Vi và Phá Quân đồng cung ở hai cung Sửu hoặc Mùi, Thiên Tướng ắt sẽ ở đối cung; Tử Vi và Thiên Tướng đồng cung ở hai cung Thìn hoặc Tuất, Phá Quân ắt sẽ ở đối cung; cho nên Tử Vi ở các cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi sẽ bị ảnh hưởng rất lớn của Thiên Tướng hoặc Phá Quân.

Tử Vi và Thiên Phủ đồng cung ở hai cung Dần hoặc Thân, Thất Sát ắt sẽ ở đối cung; Tử Vi và Thất Sát đồng cung ở hai cung Tị hoặc Hợi, Thiên Phủ ắt sẽ ở đối cung; cho nên Tử Vi ở các cung Dần, Thân, Tị, Hợi sẽ bị ảnh hưởng rất lớn của Thiên Phủ hoặc Thất Sát.

Bốn mục tiêu quan sát sự thành bại của Tử Vi

Một là xem Tử Vi rơi vào cung mạnh hay cung yếu. Cung mạnh là các cung mệnh, tài, quan, điền; cung yếu là các cung phụ, tật, huynh, nô. Nếu Đế tinh ở cung yếu, là ý tượng: người này vất vả, dù có sự trợ giúp cũng không phải là phúc. Cho nên nam mệnh thì Tử Vi không ưa ở cung phúc đức; nữ mệnh thì Tử Vi ưa ở cung phu thê.

Hai là xem hai cung giáp. Có nghĩa là, muốn luận sao Tử Vi thì phải xem Tả Phụ và Hữu Bật có ở hai cung lân cận hay không? Hai cung lân cận có cát tinh nào giáp không, có sát tinh giáp không, và chính tinh của hai cung này có mạnh vượng không?

Ba là xem có "bách quan triều củng" không. Tử Vi Đế tọa cần phải lấy Tả Phụ và Hữu Bật làm tướng; lấy Thiên Tướng, Văn Xương, Văn Khúc làm tùy tùng; lấy Thiên Khôi, Thiên Việt làm quan truyền lệnh; lấy Thái Dương và Thái Âm làm phân ti; lấy Lộc Tồn và Thiên Mã làm cai quản tước vị; lấy Thiên Phủ làm kho tiền. Gặp được chúng thì không còn gì cát lợi bằng.

Lại gặp thêm các sao đôi như Long Trì Phượng Các, Tam Thai Bát Tọa, Ân Quang Thiên Quý, Đài Phụ Phong Cáo, Thiên Quan Thiên Phúc thì càng thêm tốt đẹp — các sao đôi phải gặp đủ cặp, sức mạnh mới to lớn.

Bốn là xem ảnh hưởng của Thái Dương và Thái Âm đối với Tử Vi. Cách cục của Tử Vi muốn cao, nhất định Thái Dương và Thái Âm phải tọa ở cung sinh vượng; còn vì Thái Dương sinh vượng thì Thái Âm cũng sẽ sinh vượng, cho nên có thể tóm tắt là: cách cục của Tử Vi muốn cao, nhất định Thái Dương phải tọa ở cung sinh vượng.

Hơn nữa, Thái Dương thuộc nam, Thái Âm thuộc nữ, cho nên có thể mở rộng là: Tử Vi tọa mệnh của phái nam thì phải xem Thái Dương có ở cung sinh vượng không, và có cát tinh cùng chiếu không; Tử Vi tọa mệnh của phái nữ thì phải xem Thái Âm có ở cung sinh vượng không, và có cát tinh cùng chiếu không.

Tử Vi ở từng cung vị so với thế của Nhật Nguyệt

Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, ở cung Ngọ tốt hơn, vì Thái Dương sẽ ở cung Mão, Thái Âm sẽ ở cung Hợi, Thái Dương và Thái Âm đều sáng.

Tử Vi và Phá Quân đồng cung ở Sửu hoặc Mùi, ở cung Mùi tốt hơn, vì Thái Dương sẽ ở cung Thìn, Thái Âm sẽ ở cung Tuất, Thái Dương và Thái Âm đều sáng.

Tử Vi và Thiên Phủ đồng cung ở Dần hoặc Thân, ở cung Thân tốt hơn, vì Thái Dương sẽ ở cung Tị, Thái Âm sẽ ở cung Dậu, Thái Dương, Thái Âm đều sáng.

Tử Vi và Tham Lang đồng cung ở Mão hoặc Dậu, ở cung Dậu tốt hơn, vì Thái Dương sẽ ở cung Ngọ, Thái Âm sẽ ở cung Thân, Thái Dương và Thái Âm đều sáng.

Tử Vi và Thiên Tướng đồng cung ở Thìn hoặc Tuất, nam mệnh ở cung Thìn tốt hơn, vì Thái Dương và Thái Âm sẽ ở cung Sửu; Thái Dương ở cung Sửu tuy yếu, nhưng có khí tiến lên.

Tử Vi và Thiên Tướng đồng cung ở Thìn hoặc Tuất, nữ mệnh ở cung Tuất tốt hơn, vì Thái Dương và Thái Âm sẽ ở cung Mùi; Thái Âm ở cung Mùi tuy yếu, nhưng có khí tiến lên.

Tử Vi và Thất Sát đồng cung ở Tị hoặc Hợi, ở cung Tị tốt hơn, vì Thái Dương sẽ ở cung Dần, Thái Âm sẽ ở cung Tí, Thái Dương và Thái Âm đều sáng.

Cho nên trong cổ quyết có "Tứ chính đồng lâm cách", tức "bốn chính tinh Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm đều sinh vượng". Thực ra, phàm là chính tinh như Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm, đều ưa bách quan triều củng. Nếu Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm đều vượng, đương nhiên quý không thể nói.

Xem có gặp sát tinh hay không

Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp là lục sát tinh, thêm Hóa Kị là lục sát tinh.

Tử Vi không sợ sát tinh, tuy có thể chế hóa sát tinh, nhưng sát tinh nhiều — hai, ba sát tinh — vẫn có ảnh hưởng; vì nhiều sát tinh thì "quý khí" của đế tinh bị khắc, gọi là "tớ hiếp chủ", nhất là lúc gặp sát tinh sao đôi, cũng luận thấp kém hay bình thường.

Nếu tam phương tứ chính có sát tinh và cát tinh hội chiếu, thì gọi là "quân tử ở nơi hoang dã, còn tiểu nhân tại vị", là ý tượng: là người gian trá, bất lương, bình sinh có tích ác.

Nhưng Tử Vi cũng cần gặp một sát tinh để làm tăng xung lực; nếu thuần cát tinh mà không có sát tinh, sẽ rất bảo thủ, quá cứng ngắc, cũng không phải là hay.

Xem ảnh hưởng của Thiên Đồng đối với Tử Vi

Tử Vi thủ mệnh thì cung tật ách ắt có Thiên Đồng. Tử Vi thuộc Kỉ thổ, tì thấp, ưa kháng ưa dương; nếu Thiên Đồng thuộc Nhâm thủy quá vượng, không bị chế hóa, thì Tử Vi sẽ chìm đắm trong dật lạc, không có định kiến, thích nghe lời xiểm nịnh, càng có nhiều thị hiếu và sở thích, không cách nào chuyên nhất, biến thành khiếp nhược, hành sự trì hoãn và không có xung lực.

Tử Vi chủ về tì — tuyến tụy — tì ưa táo — khô ráo — ghét thấp — ẩm thấp. Thiên Đồng ở cung tật ách thủy tính thái quá, sẽ dễ bị bệnh tả lị, hoặc rối loạn tiêu hóa.

Xem ảnh hưởng của Tham Lang đối với Tử Vi

Tham Lang chủ về đào hoa, sắc dục, ham muốn vật chất, còn chủ về họa phúc, giáo hóa. Tham Lang thuộc Giáp mộc, còn là Quý thủy; Giáp mộc của Tham Lang có liên quan đến giáo hóa ban đầu, học thuật, tài nghệ, triết lí, tôn giáo. Quý thủy của Tham Lang thì chủ về phá tán, hư hao, đào hoa, sắc dục.

Tử Vi ở hai cung Tí hoặc Ngọ thì Tham Lang ở đối cung; Tử Vi ở hai cung Mão hoặc Dậu thì đồng cung với Tham Lang. Tử Vi thủ mệnh ở hai cung Thìn hoặc Tuất thì Tham Lang ở cung phu thê; Tử Vi thủ mệnh ở hai cung Sửu hoặc Mùi thì Tham Lang ở cung quan lộc; Tử Vi thủ mệnh ở hai cung Dần hoặc Thân thì Tham Lang ở cung phúc đức; Tử Vi thủ mệnh ở hai cung Tị hoặc Hợi thì Tham Lang ở cung tài bạch.

Trong số đó, trường hợp Tử Vi thủ mệnh ở các cung Tí, Ngọ, Mão, Dậu là bị ảnh hưởng rất lớn của Tham Lang, nguyên nhân chủ yếu như sau.

Tử Vi chủ về tinh thần, Tham Lang chủ về vật dục; Tử Vi đế tọa có đặc tính dễ uốn nắn, dễ bị vật dục lôi kéo.

Tham Lang tam hợp là Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, làm xuất hiện đặc tính dẫn động, trôi nổi, ba động, bất ổn; khiến tính vững vàng của Tử Vi bị xung kích.

Tử Vi ở các cung Tí, Ngọ, Mão, Dậu bị ảnh hưởng khá lớn của Tham Lang; đều chủ về đào hoa, theo đuổi vật dục. Nếu Tham Lang lại gặp sao đào hoa và Kình Dương, Đà La, thì tính của Tử Vi sẽ chuyển hóa thành đào hoa dâm dục, mê luyến tửu sắc mà bỏ hết mọi chuyện.

Nếu các sao hội nhập là những sao âm nhu như Linh Tinh, Đà La, Âm Sát thì Tử Vi sẽ chuyển thành nhu nhược, thiếu quyết đoán, cương nhu mất cân bằng, hay suy đi tính lại, lần lữa, phần nhiều về sau phải hối tiếc.

Trái lại, ưa tổ hợp "Tử Vi, Tham Lang", hơi có sao Không là theo nẻo chính; gặp thêm khoa tinh Thiên Khôi, Thiên Việt, thì lợi về phát triển trong lãnh vực học thuật, triết lí.

Nếu Tử Vi thủ mệnh ở hai cung Thìn hoặc Tuất, thì Tham Lang ở cung phu thê, phần nhiều hôn nhân không tốt đẹp, không nên kết hôn sớm. Tử Vi ở hai cung Dần hoặc Thân, thì Tham Lang ở cung phúc đức, bất lợi nữ mệnh.

Xem ảnh hưởng của Thiên Tướng và Lộc Tồn đối với Tử Vi

Thiên Tướng là "ấn tinh"; đế tinh có "ấn" mới thành "quyền lực", thành "năng lực". Cho nên phải xem hai cung giáp Thiên Tướng là cát hay hung. Nếu hai cung giáp Thiên Tướng là Thiên Lương và Cự Môn mang tính "cô khắc hình kị", thì Thiên Tướng không cách nào trợ lực cho Tử Vi được.

Tử Vi ưa gặp Lộc Tồn. Nếu "Tử Vi, Thất Sát" gặp Lộc Tồn, sẽ hóa "sát khí" thành "quyền lực".

Tướng mạo của người Tử Vi tọa thủ cung mệnh

Tử Vi đế tọa còn là phúc tinh, cho nên tướng mạo đầy đặn, vững vàng, già dặn, uy nghiêm; thân hình cao trung bình hoặc tráng kiện; vai rộng, lưng dày, eo tròn, mập mạp, mặt hình chữ nhật, lòng bàn tay dày, thiên đình khá cao, hai mắt sáng có thần, lông mày thanh tú, mềm và xếch lên, đường chỉ pháp lệnh sâu mà có nét oai phong, thái độ ung dung, cử chỉ khoáng đạt.

Nữ mệnh đầy đặn, tròn trịa, đoan trang quý phái — có đoan trang hay không, phải xem có sao đào hoa hội nhập không; gặp nhiều sao đào hoa thì làm sao đoan trang, thậm chí còn trôi nổi. Nhưng tóm lại, Tử Vi là người có phong thái quý phái.

Các biểu trưng của Tử Vi

Về người. Người lãnh đạo, người chỉ huy, người tổng hợp, người có địa vị xã hội, ông hay bà chủ, tổng giám đốc, giám đốc, hội trưởng, quản đốc, chủ quản, quản lí, quan viên, người có uy quyền, người trọng sĩ diện, tính tự tôn mạnh, người có lòng bao dung, người có học, học giả, giáo sư.

Về việc. Lễ chế điển chương, nghi thức, khánh điển, hội chợ triển lãm, trò chơi truyền hình, đại hội, đại nhạc hội.

Về đất. Tòa nhà cao tầng, nhà sang trọng — tức nhà có đặc tính cao, rộng, hào nhoáng, lớn, sâu; dốc cao, gò lăng, cao nguyên, cơ cấu kinh doanh tiền tệ, ngân hàng, thương hiệu bán nữ trang và ngọc, quan nha, quan thự, cơ quan công quyền, hội sở, nơi phát ra quyền lực, phòng khách lớn, tiệm ăn hay quán ăn sang trọng, nhà hàng cao cấp, biệt thự, khu nhà ở cao điểm hoặc trung tâm điểm.

Về vật. Vàng, kim cương, châu báu, bảo vật quý hiếm, đồng hồ tinh xảo, đồ cổ, đồ vật trang trí tinh xảo, máy thu hình, ghế dài bọc đệm.

Về thân người. Não bộ, phần đầu, ấn đường, đầu tóc, tóc quăn.

Tử Vi luận về bệnh tật và về số

Tử Vi nhập cung tật ách chủ về bệnh tì vị. Tử Vi thuộc âm thổ; thổ là nền tảng sinh dưỡng vạn vật, trong đông y là tạng tì.

Tì đảm nhiệm chức năng tiêu hóa hấp thu dưỡng chất cho cơ thể; là căn nguyên của sự chuyển hóa sinh thành khí huyết, cho nên tì là nền tảng để sinh thành huyết dịch, còn có tác dụng cai quản tuần hoàn huyết dịch và cơ bắp.

Tì và vị phối hợp với nhau là biểu lí: tì tính ưa "táo" — khô ráo — mà ghét "thấp" — ẩm thấp. Tử Vi thủ mệnh thì cung tật ách nhất định có Thiên Đồng, Thiên Đồng thuộc thủy; vị — dạ dày — chủ về công năng tiêu hóa, dạ dày ưa "thấp" mà ghét "táo".

Cho nên, Tử Vi chưởng quản tì vị; tì hư thì tuần hoàn huyết dịch mất điều hòa, quá trình trao đổi chất của thủy dịch mất điều hòa, khí huyết không đủ, đại tiện ra máu, khẩu vị nhạt nhẽo, không muốn ăn, sụt cân, cơ bắp mềm nhũn, môi trắng bạch không bóng, buồn vui bất thường, hay lo nghĩ, trí nhớ giảm sút.

Tử Vi ở cung tật ách chủ về tì vị hàn nhược hoặc thấp nhiệt, bệnh tả lị, hoặc rối loạn tiêu hóa, bệnh ở đầu, thần kinh não, huyết áp cao.

Về số. Chủ về số 1 hay số 9; hoặc bội số của 9. Tử Vi là sao tôn quý, 9 là số cực điểm. Tử Vi chủ về gộp chung, cho nên là số 1.

Tử Vi đồng cung với các sao khác

Tử Vi đồng cung với Văn Xương, Văn Khúc: thư họa, cao quý.

Tử Vi thủ mệnh ở các cung Tí, Ngọ, Mão, Dậu, cung điền trạch có Thiên Lương tọa thủ, đại biểu cho đồ cổ trong nhà, Phật đường.

Tử Vi đồng cung với Thiên Khôi: cái đầu khá lớn.

Tử Vi đồng cung với Địa Kiếp: cái đầu hơi nhỏ.

Tử Vi đồng cung với Thiên Khôi hoặc Địa Không: đầu tóc bạc.

Tử Vi đồng cung với Địa Không, Địa Kiếp: đầu hói.

Tử Vi đồng cung với Âm Sát, Giải Thần: da đầu bị tróc chất sừng.

Tử Vi đồng cung với Thiên Hình hoặc Thiên Việt: bị thương ở phần đầu.

Tử Vi đồng cung với Thiên Hình hoặc Địa Không: trúng phong — tai biến mạch máu não.

Tử Vi đồng cung với Địa Không, Địa Kiếp: suy nhược thần kinh.

Tử Vi đồng cung với Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh: thiên đầu thống.

Tử Vi đồng cung với Văn Xương, Văn Khúc: trí tuệ cao siêu, tháo vát, lanh trí, siêng năng mẫn cán.

Tử Vi đồng cung với Tả Phụ, Hữu Bật: hòa nhã, thành thực, trung hậu, "đại trí nhược ngu".

Tử Vi đồng cung với Phá Quân hoặc Kình Dương: chấn thương não.

Tử Vi đồng cung với Liêm Trinh, Kình Dương: não xung huyết.

Tình của Tử Vi

Tôn quý, tước lộc, hóa giải tai ách, kéo dài tuổi thọ, chế hóa, lãnh đạo chỉ huy, ham muốn là lãnh tụ, chủ tể, ra lệnh, ghét bị chỉ huy, uy nghiêm, cao thượng, thể diện, cao ngạo, nhìn cao, chủ quan, tự tôn, tự tin, tự phụ, tự đại, khoa trương, bành trướng cái tôi.

Tự khen mình, luôn tự cho mình là đúng, tự kì vọng vào chính mình, tự thương hại, tự than thân trách phận, tự kiềm chế, tự trọng, tự ái, tự kiêu, trung hậu, ưa sĩ diện, xem trọng thể diện, kín đáo, che đậy, không dễ gì biểu lộ cảm xúc trong lòng, không cách nào mở miệng xin giúp đỡ, không thích bị người ta chọc phá, chú ý ánh mắt của người khác, chuộng hư vinh, mục tiêu quá cao.

Trọng tình cảm, thiện lương, dễ xiêu lòng, có lòng che chở người khác, bao dung, ưa nghe lời siểm nịnh, ưa được tôn trọng, tính độ lượng, đa nghi, không tín nhiệm ai, cô độc, độc đoán, bị động, ỷ lại, lười biếng, già dặn, vất vả về tinh thần, hứng thú nhiều lãnh vực, tính ngang bướng, tâm trạng dễ thay đổi, có nạn sắc tình; nữ mệnh khiêm cung, thẳng thắn, thương ai thì thương tới cùng, ghét ai thì ghét tới chết.

Trong âm tính có chứa dương khí

Tử Vi thuộc Kỉ thổ, thuộc âm; trong âm tính có chứa dương khí, là trong tĩnh có động, chủ về tinh thần — Thiên Phủ thuộc Mậu thổ, là ý tượng vật chất.

Là người thuần hậu, trung thực, tâm địa thiện lương, tính hay thay đổi, có thể bị uốn nắn. Muốn biết điều gì có thể uốn nắn nó thì phải xem chính tinh, cát tinh và sát tinh nào đồng cung hay ở đối cung mà định.

Tử Vi đế tọa rất ưa có tùy tùng phụ trợ, để tỏ rõ uy thế và công đức; công đức chủ yếu là ở tôn quý, tước lộc, hóa giải tai ách, kéo dài tuổi thọ, chế hóa. Vì nó là sao quyền năng, có thực quyền hay không phải xem các phụ diệu.

Vì vậy, lúc không có tùy tùng thì gọi là "cô quân"; người này tính nóng vội, tâm cao khí ngạo, không ưa đứng dưới người khác, dễ siêu lòng, ưa nghe lời nịnh hót, dễ bị hoàn cảnh tác động.

Đồng cung với Hữu Bật, có sở thích và hứng thú ở nhiều lãnh vực, cá tính cương nhu không quân bình, tính ngang bướng tùy tiện, hành động thường bất chấp hậu quả.

Tử Vi là sao có thể bị uốn nắn: gặp Tả Phụ và Hữu Bật thì cá tính khá hài hòa; nếu Tử Vi ở hai cung Tí hoặc Ngọ gặp Văn Xương, Văn Khúc thì có đào hoa.

Tử Vi có Kình Dương, Đà La hội chiếu, thì cương nghị, cố chấp, thường hay đâm đầu vào những chuyện không giải quyết được; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì tính khí nóng nảy, hành động đơn độc; gặp Địa Không, Địa Kiếp thì nhiều ảo tưởng, không thực tế, đầu voi đuôi chuột, có khuynh hướng trốn vào "cửa không".

Tử Vi gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La là được thúc đẩy mà thay đổi, hóa bị động thành chủ động. Nếu chỉ gặp thuần cát tinh mà không có sát tinh, thì bảo thủ, vững vàng, lực giữ thành quả thì có dư, nhưng không có lực xung kích.

Tử Vi gặp nhiều sát tinh mà không có cát tinh, là người giảo hoạt, gian trá, nóng nảy, bốp chốp, cô độc, cao ngạo, bi quan, độc đoán, không cởi mở, do dự bất định, nhỏ nhặt.

Những cung vị Tử Vi không ưa

Tử Vi không ưa độc tọa ở các cung Tí hoặc Ngọ; nếu không có cát tinh phù trợ, là "cô quân", uy thế của đế vương mất hết, dễ thành hèn hạ thấp kém; không có chủ kiến, dễ bị tiểu nhân bao vây, và rơi vào tình trạng hành động đơn độc; tính khí nóng nảy, bốp chốp, có hiện tượng cô độc, mà còn nhiều vất vả, cuộc đời lắm thành bại, thăng trầm.

"Cô quân" thì mọi mưu tính đều phí sức, tiền đến tiền đi, bên ngoài điều khiển bên trong, tâm không có định kiến. Nếu tam phương không có cát tinh phù trợ mà có các sao Không như Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Không, phần nhiều có khuynh hướng tôn giáo, triết lí, có ý vị của cuộc sống đơn độc.

Tử Vi cũng không ưa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, là thiên la địa võng; nếu không có cát tinh phù trợ thì cô độc, bất mãn, cảm khái than thở, đại chí khó thành. Lúc này cần phải có cát tinh phù trợ, và có một sát tinh đồng cung, để giúp đế tinh có xung lực thoát khỏi thiên la địa võng, nhưng ít có khí thuần hậu, mà lại nhiều khí gian xảo. Cho nên Tử Vi và Kình Dương đồng cung có lợi về kinh doanh buôn bán.

Tử Vi tuy không sợ sát tinh, nhưng nếu không có cát tinh phụ trợ, mà lại có Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh xung hội, không bị kiềm chế, thì gọi là "tớ hiếp đáp chủ"; đây là trung thần và kẻ hiền tài đều xa lánh, tiểu nhân nắm quyền, gọi là "vua vô đạo", gian tà xảo trá, giả nhân giả nghĩa.

Đế tinh thuộc về tầng lớp lãnh đạo

Đế tinh Tử Vi, thông thường đều thuộc về tầng lớp lãnh đạo; cách cục lớn thì làm chủ một phương, cách cục nhỏ thì cũng làm chủ một đơn vị nhỏ.

Cao quý tôn nghiêm, trọng sĩ diện, rất ưa được người khác khen ngợi, mà không ưa bị phê bình, có lòng tự tôn, khí thế to lớn, uy nghiêm, dễ khiến người khác kính trọng, có lòng trắc ẩn, bao dung, là người đôn hậu, ôn hòa nhưng tính tình quật cường.

Rất chú trọng việc người khác đồng tình với cách nhìn của bản thân, cũng rất để ý việc được người khác tôn trọng, không ưa bị người ta khống chế, chỉ huy hay ước thúc.

Tử Vi là sao phúc thọ, nên phần nhiều không phát lúc tuổi trẻ, phải sau trung niên mới hưng thịnh; khí độ trầm ổn mà uy nghiêm, già dặn trung hậu nhưng định kiến bất nhất; chí cao khí ngạo, tính tình quật cường, lời nói có trọng lượng, xem trọng lời hứa, ưa ra lệnh, cá tính cương nhu không quân bình, không có chủ kiến, dễ bị ngoại giới gây ảnh hưởng.

Tử Vi tâm địa thiện lương, có lòng che chở người khác của bậc đế vương, nhưng không cầu báo đáp, về tinh thần, vì không được người khác hiểu, nên có cảm giác cô độc; đây là vì ở vị trí cao nên có cảm giác cô độc, vì cảm thấy người khác không hiểu mình; hành sự thụ động, hay thay đổi, đa nghi, chủ quan, tự đại.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn