Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Phi hóa

Bài tổng quan

Phi cung hóa tượng của cung phu thê: luận đoán hôn nhân

Tử Vi Bắc Phái - Phi hóa20/09/202622 phút đọc2 lượt đọc
Phi cung hóa tượng của cung phu thê: luận đoán hôn nhân

Cung phu thê phi hóa đi đâu thì cho biết người phối ngẫu đối đãi với mệnh tạo ra sao; cung ấy tự hóa thế nào thì cho biết mệnh tạo đòi hỏi ở bạn đời điều gì vượt quá giới hạn. Mười sáu thế kết hợp giữa tứ hóa năm sinh và tự hóa chỉ là thùy tượng, phải chờ đại vận và lưu niên khơi động mới ứng thành chuyện. Vì sao cùng là li hôn mà người chia tay trong vui vẻ, kẻ chỉ mong dứt cho sớm?


LUẬN ĐOÁN HÔN NHÂN TÌNH CẢM, THÔNG THƯỜNG LẤY CUNG PHU THÊ LÀM CHỦ. Nhưng cung phu thê có ba loại: của nguyên cục, của đại vận, của lưu niên; lấy loại nào làm chuẩn? Trả lời xong câu hỏi ấy mới bàn đến chuyện cung phu thê phi hóa đi đâu, tự hóa ra sao, và mỗi hóa tượng nói gì về người bạn đời.

Ba Cung Phu Thê, Ba Cấp Thiên Địa Nhân

Cung phu thê của nguyên cục là thiên bàn, của đại vận là địa bàn, của lưu niên là nhân bàn; đó là "thiên địa nhân". Thiên bàn thuộc tượng không gian, địa bàn thuộc tượng thời gian, nhân bàn thuộc tượng ứng số. Bắc phái Tử Vi Đẩu Số nói chung, Khâm Thiên môn nói riêng, đều theo nguyên tắc thiên nhân hợp nhất, dùng địa làm trung gian: đại vận phải quy về nguyên cục để lấy tượng mà ứng số ở lưu niên; lưu niên phải quy về nguyên cục nhưng lấy đại vận để phân biệt; lưu nguyệt phải quy về đại vận nhưng lấy lưu niên để phân biệt. Như vậy mới có thể nói "có tượng ắt phải có vật", không rơi vào chỗ mơ hồ.

Mỗi cung đều phân ba cấp, một cấp quản một cấp; đó là thứ tự lớn nhỏ. Tứ hóa của nguyên cục quy về mệnh bàn nguyên cục, là tượng thuộc cách cục; lúc gặp tứ hóa của hành hạn đại vận hoặc lưu niên mới ứng cát hung. Tứ hóa của đại vận gặp tứ hóa của lưu niên hoặc lưu nguyệt mới ứng cát hung; tứ hóa của lưu niên gặp tứ hóa của lưu nguyệt hoặc lưu nhật mới ứng cát hung. Rồi xem người hỏi đứng ở góc độ nào: hỏi về cách cục của người phối ngẫu, hỏi về tình cảm vợ chồng trong đại vận này, hay trong lưu niên này; lúc đó mới có căn cứ để chọn cấp nào làm chuẩn.

Theo Khâm Thiên môn, "cách" chỉ là "tượng", không có cát hung; có tượng rồi ắt sẽ có sự vật của nó, nhưng cát hung họa phúc phải đợi đến hành hạn mới hiển hiện.

Cung Phu Thê Phi Hóa: Mối Đối Đãi Giữa Người Phối Ngẫu Và Mệnh Tạo

Phi cung hóa tượng ở cung phu thê sẽ vì mệnh bàn khác nhau mà dẫn phát hiện tượng khác nhau. Cung phu thê phi hóa nhập các cung khác, cũng như cung mệnh phi hóa nhập các cung khác, đều thuộc tứ hóa hậu thiên. Ngoài việc dùng để giải thích về người phối ngẫu, chúng còn hiển thị mối quan hệ đối đãi giữa người phối ngẫu với mệnh tạo.

Bất kể nam hay nữ, ai cũng mong có một tình duyên hôn nhân tốt đẹp. Nhưng cũng có người bất mãn với cuộc sống hôn nhân của mình, thậm chí về sau phải li hôn; những trường hợp ấy thường khiến người ta than rằng nếu biết sớm như vậy thì ban đầu cần gì phải thế. Đời người vốn yêu nhau thì dễ, sống với nhau mới khó. Nghiên cứu mệnh lí chính là mong biết tình duyên hôn nhân của mình có "định số" thế nào; nắm được điềm tượng, rồi theo những điều kiện trong điềm tượng mà cải thiện, làm cho cuộc hôn nhân đi theo hướng tốt, đạt đến chỗ tôn trọng lẫn nhau, sống với nhau đến bạc đầu.

Mười một điều của Khuyến Học Trai Chủ về tình duyên tốt xấu

Khuyến Học Trai Chủ, một cao thủ Bắc phái, có để lại một đoạn bàn về "tình duyên hôn nhân tốt hay xấu" rất có giá trị tham khảo. Đại ý như sau.

Cung phu thê ưa có chính diệu, không ưa vô chính diệu.

Cung phu thê ưa sao tĩnh, không ưa sao động và sao chủ về tư tưởng; cũng không ưa Vũ Khúc, là sao hóa quả tú.

Tuyến "phu quan" không ưa có quá nhiều tứ hóa năm sinh, tự hóa và phi hóa; nhiều thì dễ biến động thay đổi.

Cung phu thê, cung quan lộc, cung phúc đức có Hóa Kị năm sinh thì hôn nhân dễ có vấn đề. Hôn nhân có vấn đề không ngoài hai loại: một là kết hôn sớm rồi li hôn sớm, hoặc kết hôn sớm rồi li hôn muộn; hai là không kết hôn hoặc kết hôn muộn.

Cung phu thê, cung quan lộc có Thái Âm hoặc Thái Dương tọa thủ thì không ưa cung mệnh mang can Giáp hay can Ất.

Cung mệnh của đại vận, cung phu thê của đại vận không ưa can Giáp và can Ất, mà ưa can Đinh hoặc can Canh; tuy vậy vẫn có chỗ không được hay.

Ưa cung phu thê phi Hóa Lộc nhập "ngã cung" và cung tật ách; không ưa cung phu thê phi Hóa Kị xung cung mệnh hay cung tật ách.

Cung mệnh của đại vận phi Hóa Kị xung cung phu thê của nguyên cục hay của đại vận; cung phu thê của đại vận phi Hóa Kị xung cung mệnh của nguyên cục hay của đại vận; đều là ý tượng có mất mát trong tình duyên hôn nhân.

Cung mệnh của nguyên cục có Thái Dương tọa thủ thì không ưa cung phu thê mang can Giáp; cung mệnh của nguyên cục có Thái Âm tọa thủ thì không ưa cung phu thê mang can Ất.

Người sinh năm Mậu, năm Quý, can của các cung Tí, Sửu, Dần, Mão lần lượt là Giáp, Ất, Giáp, Ất. Cung mệnh của đại vận hoặc cung phu thê của đại vận đi đến các cung vị này là ý tượng vợ chồng không thường gặp mặt nhau lại tốt hơn. Cung phu thê cũng không ưa "Sách Mã Kị".

Cung phu thê phi Hóa Lộc, Hóa Quyền hay Hóa Khoa đến cung mệnh, cung tài bạch, cung quan lộc hay cung tật ách, còn phi Hóa Kị đến cung điền trạch: mẫu người phối ngẫu như vậy thật sự khó gặp.

Ba ví dụ về phi cung hóa tượng của cung phu thê

Ví dụ thứ nhất: cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung thiên di, phi Hóa Kị nhập cung tài bạch và xung cung phúc đức. Cung thiên di là cung vị tài bạch của cung phu thê, tức Lộc nhập tam phương của cung phu thê, lại chiếu cung vị phúc đức của cung phu thê. Cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung tài bạch, tức Kị nhập cung vị phu thê của cung phu thê. Ý tượng là người phối ngẫu ỷ lại vào mệnh tạo, muốn dựa vào sự thành tựu của mệnh tạo; người có hóa tượng này đều có hiện tượng kết hôn sớm.

Ví dụ thứ hai: cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung phúc đức, phi Hóa Kị nhập cung tài bạch và xung cung phúc đức. Cung phúc đức là cung vị phúc khí, cũng là cung vị tạo hóa của mệnh tạo. Cung tài bạch là cung vị phu thê của cung phu thê, tức cũng chủ về mệnh tạo. Lộc Kị của người phối ngẫu nhập tuyến "tài phúc" là thế "chiến khắc"; ý tượng là người phối ngẫu mạng cứng cỏi, sẽ khắc mệnh tạo. Nếu cung phu thê phi Hóa Lộc và Hóa Kị song song nhập cung tài bạch hoặc cung phúc đức, vì Lộc và Kị đồng thời phi nhập cùng một cung nên thành hiện tượng "Song Kị", cũng là tượng người phối ngẫu mạng cứng cỏi khắc mệnh tạo.

Ví dụ thứ ba: cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung phúc đức, cung tài bạch cũng phi Hóa Kị nhập cung phúc đức, biến cung tài bạch và cung phúc đức thành tuyến đối cung; đó là tượng "nhờ người phối ngẫu mà đắc tài lộc". Hiện tượng Hóa Kị này được xem là cùng trợ giúp, thuộc về cát tượng. Nên chú ý: lúc hai cung phát xạ đến hai cung khác nhau thì ý nghĩa là "vì cung này mà cung kia bị"; vì cung bên này như vậy nên cung bên kia như vậy, do cung bên này khơi động hóa tượng.

Cung Phu Thê Tự Hóa

Thông thường bất luận cung nào có tự hóa đều chủ về tổn thất, chỉ khác nhau ở mức độ và trạng thái tâm lí. Tự Hóa Lộc là mất đi mà bản thân cam tâm tình nguyện, không oán trách. Tự Hóa Quyền là tranh đến cùng mà vẫn bị mất, uổng phí tâm cơ. Tự Hóa Khoa là theo cái khác mà đi, thấy phá rồi lại thấy tình hình mở ra. Tự Hóa Kị là sau khi tổn thất còn gặp phiền phức.

Bốn loại tự hóa ở cung phu thê

Cung phu thê tự Hóa Lộc là Lộc xuất: tuy duyên với người khác giới rất sâu, nhưng tình duyên hôn nhân lại bạc, dù kết hôn cũng rất dễ li hôn. Nhìn từ góc độ khác, sau khi kết hôn người phối ngẫu sẽ trợ giúp mệnh tạo trong sự nghiệp kinh doanh; sự trợ giúp ấy chẳng liên quan gì đến việc li hôn hay không. Cung phu thê là cung vị thiên di của cung quan lộc; lúc tự Hóa Lộc chủ về đi xa, sáng lập cơ nghiệp hoặc công việc đều thuận lợi. Nhưng là cát hay hung vẫn phải xem kèm cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung nào.

Cung phu thê tự Hóa Quyền: người phối ngẫu sẽ tranh quyền, cho nên vợ chồng nhiều tranh chấp. Giả thiết cung phu thê của nguyên cục có sao Hóa Khoa năm sinh, vốn chủ về người phối ngẫu có phong độ tốt, là quý nhân của mệnh tạo; nếu lại tự Hóa Quyền thì người phối ngẫu tuy đối xử tốt nhưng lại muốn quản thúc mệnh tạo. Nếu cung phu thê của nguyên cục có sao Hóa Kị năm sinh mà còn tự Hóa Quyền, thì giữa vợ chồng tranh chấp không ngừng, giải thích không được, dùng lí lẽ cũng không xong; mức độ nghiêm trọng đến đâu phải xem sao nào Hóa Kị và sao nào Hóa Quyền mà định.

Cung phu thê tự Hóa Khoa: vợ chồng hạnh phúc, đối xử hòa hợp, "tương kính như tân"; cũng chủ về người phối ngẫu gia thế thanh bạch, bản thân quý hiển và có danh tiếng. Tuyến "phu quan" là tuyến chủ về danh lợi: cung quan lộc là lợi ích thực chất, cung phu thê là tiếng tăm sự nghiệp ở bên ngoài, mà danh tiếng chỉ là giả tượng. Hai cung có quan hệ mật thiết: lấy tình cảm vợ chồng mà nói là một chuyện, lấy sự nghiệp mà nói thì cũng là vấn đề đối đãi giữa vợ chồng. Cung phu thê tự Hóa Khoa là bất luận làm gì cũng bình ổn mà thôi; còn nếu tự Hóa Quyền thì người phối ngẫu được một tấc sẽ lấn một thước.

Cung phu thê tự Hóa Kị: vợ chồng hay cãi cọ, nhiều nghi kị, không quan tâm lẫn nhau, gần nhau ít mà xa nhau nhiều. Do nguyên nhân gì thì phải xem cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung nào.

Cung phu thê đã có Hóa Lộc năm sinh mà còn tự hóa

Lại tự Hóa Lộc: mệnh tạo đối xử tốt với người phối ngẫu, nhưng người ấy cho đó là chuyện đương nhiên, không cảm ơn mà cũng không trân quý.

Lại tự Hóa Quyền: mệnh tạo đối xử tốt với người phối ngẫu, người phối ngẫu cũng đối xử tốt với mệnh tạo, lại rất giỏi giang, trợ giúp mệnh tạo về sự nghiệp.

Lại tự Hóa Khoa: mệnh tạo đối xử tốt với người phối ngẫu; người phối ngẫu có gia thế và sự tu dưỡng không tệ, rất quan tâm mệnh tạo, có thể cùng chia sẻ cay đắng ngọt bùi.

Lại tự Hóa Kị: mệnh tạo vẫn đối xử tốt như lâu nay, nhưng người phối ngẫu không thấy được điều đó. Vì Lộc Kị tương xung, mệnh tạo cần hạn chế tối đa việc qua lại với bạn khác giới; người phối ngẫu rất ghen.

Cung phu thê đã có Hóa Quyền năm sinh mà còn tự hóa

Lại tự Hóa Lộc: bản thân mệnh tạo có đủ năng lực, còn được người phối ngẫu trợ giúp, cơ hội thăng tiến, thành công càng lớn. Giữa hai người cũng có lúc tranh cãi, nhưng không ảnh hưởng đến tình cảm.

Lại tự Hóa Quyền: mệnh tạo muốn quản thúc người phối ngẫu, người phối ngẫu cũng muốn quản thúc mệnh tạo; bên này có năng lực, bên kia cũng giỏi giang; cá tính bên này mạnh, bên kia cũng không kém; có thể nói là kẻ tám lạng người nửa cân.

Lại tự Hóa Khoa: lúc mệnh tạo nổi giận thì người phối ngẫu nhường, không để bụng, không tính toán so bì. Do có Khoa tự hóa nên người phối ngẫu có công phu tu dưỡng tốt.

Lại tự Hóa Kị: mệnh tạo muốn quản thúc người phối ngẫu; lúc người ấy nổi giận, cãi vã thì không nhượng bộ, không nể mặt mệnh tạo. Tình hình này kéo dài thì đúng là cuộc đời gặp "oan gia".

Cung phu thê đã có Hóa Khoa năm sinh mà còn tự hóa

Lại tự Hóa Lộc: vợ chồng có thể sống với nhau đến bạc đầu, ân ái hết kiếp người.

Lại tự Hóa Quyền: mệnh tạo đối xử rất dịu dàng, quan tâm chăm sóc, nhưng người phối ngẫu không những không biết trân quý mà còn trói buộc, chẳng lo gì cho mệnh tạo.

Lại tự Hóa Khoa: người phối ngẫu không biết trân quý tình cảm, trơ trơ ra, không phân biệt tốt xấu, không xem trọng mệnh tạo; mệnh tạo đối xử tốt thì họ lại cho là phải như vậy.

Lại tự Hóa Kị: người phối ngẫu thường hay nổi giận với mệnh tạo; mệnh tạo đối xử tốt nhưng họ chẳng động lòng, còn tranh cãi không ngừng.

Cung phu thê đã có Hóa Kị năm sinh mà còn tự hóa

Lại tự Hóa Lộc: mệnh tạo đối xử không tốt với người phối ngẫu, thường kiếm cớ gây sự; người ấy chẳng những không giận mà còn đối xử tốt, khiến mệnh tạo cảm thấy có lỗi.

Lại tự Hóa Quyền: mệnh tạo làm mặt lạnh với người phối ngẫu, mà vợ hay chồng lại muốn quản thúc mệnh tạo; do đó không nhường nhịn nhau, cãi vã không ngừng, thậm chí động tay động chân.

Lại tự Hóa Khoa: sức mạnh của Khoa không bằng sức mạnh của Kị, nên vẫn xảy ra tranh cãi; hoặc người phối ngẫu có ý giúp, nói ngon nói ngọt khuyên can, nhưng mệnh tạo không tin, không ngó đến.

Lại tự Hóa Kị: thành hiện tượng "Song Kị", cả hai bên đều không tốt; mệnh tạo hung hãn với người phối ngẫu, người phối ngẫu cũng không chịu kém; thường khó sống với nhau đến bạc đầu.

Thùy tượng chờ hành hạn khơi động

Những điều trên đều thuộc về thùy tượng, phải đợi tứ hóa của cung hạn, tức đại vận và lưu niên, khơi động thì mới thành cục diện ứng nghiệm trong thực tế.

Ví dụ thứ nhất: lúc cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung mệnh, cung phu thê không được có tự Hóa Lộc; nếu lại tự Hóa Lộc thì hôn nhân ắt dễ sinh biến. Ngược lại, lúc cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung mệnh, cung phu thê không được tự Hóa Kị; nếu lại tự Hóa Kị thì hôn nhân cũng sinh biến.

Ví dụ thứ hai: cung phu thê có Hóa Lộc năm sinh tọa thủ, lại tự Hóa Lộc; đây là Lộc xuất, có tượng không biết trân quý, vợ chồng cũng sẽ li hôn. Có điều, tỉ lệ li hôn ít hơn trường hợp cung phu thê có Hóa Kị năm sinh lại tự Hóa Kị. Li hôn của Hóa Lộc năm sinh gặp tự Hóa Lộc là: "Đã không thể đối xử tốt với nhau, thà chia tay trong vui vẻ còn hơn". Còn Hóa Kị năm sinh gặp tự Hóa Kị thì: "Không thể đối xử tốt với nhau, thà chia tay sớm còn hơn". Về thời điểm li hôn, lúc lưu niên trong đại vận đến cung phu thê của nguyên cục mà có phi Hóa Lộc nhập hoặc phi Hóa Kị xung, đó là năm ứng số.

Bản Chất Của Tự Hóa: Yêu Cầu Vượt Quá Giới Hạn

Cung vị định sức mạnh của sao và của tứ hóa

Trong lí thuyết Đẩu Số, lưu niên có thiên can khác nhau thì tứ hóa nhập vào những sao nhất định khác nhau. Nhưng tứ hóa sẽ tùy theo cung các sao tọa lạc mà bố trí. Tinh bàn có 12 cung vị địa chi mang thuộc tính ngũ hành; các cung vị ấy là đại hoàn cảnh dung chứa các sao, thuộc tính ngũ hành của chúng có thể kiềm chế, làm tăng hay giảm tác dụng của sao. Trên nền tảng ấy, 12 cung chức lại được kết cấu trong khung 12 cung vị; cho nên ở mỗi cá nhân, tứ hóa sẽ tùy cung vị mà có tác dụng mạnh hay yếu, và các sao cũng do nhân tố cung vị mà mạnh yếu khác nhau.

Lấy Hóa Lộc mà nói: công dụng của nó có thể là dục tình, ham muốn hư vinh, ham hiểu biết, cảm xúc tình thân, ham muốn tiền bạc vật chất, ý thức, sức bao dung; tức là ở cung khác nhau, tùy theo nó nhập vào sao nào mà xuất hiện tính chất hoạt động riêng, và sao mà nó nhập vào cũng nổi bật tính tích cực. Vì vậy Hóa Lộc có thể là khởi đầu của niệm thiện, mà cũng có thể là nguồn cơn của niệm ác; đối với mệnh tạo nó có thể giúp ích, mà cũng có thể dẫn đến họa hoạn. Hóa Lộc không nhất định cát lợi; Hóa Kị cũng không nhất định hung hiểm. Hóa Quyền có thể làm tăng độ tích cực của hành động, mà cũng có thể làm cho hành động mất ổn định, thiên lệch; lúc nó nhập cung mệnh, cung phu thê hay cung nô bộc, thậm chí có thể xảy ra hiện tượng có mới nới cũ, hay thay đổi.

"Cần phải", "đòi hỏi" và "trả giá" vượt quá giới hạn

Can cung khiến cung ấy xảy ra hiện tượng tự hóa, có thể xem là yêu cầu điều chỉnh. Lúc cung mệnh thấy tự hóa, có thể định nghĩa là "cần phải vượt quá giới hạn". Lúc ở tha cung thấy tự hóa, xét ở góc độ mệnh tạo là "đòi hỏi vượt quá giới hạn"; đứng ở lập trường của người kia thì thành "trả giá vượt quá giới hạn". Ví như cung mệnh tự Hóa Lộc: chưa tính đến ý tượng của sao tọa thủ, mệnh tạo sẽ theo đuổi dục tình nhiều hơn, làm cho hình tượng bản thân hoàn mĩ hơn, hoặc tìm cảm giác thỏa mãn về bản thân nhiều hơn.

Lúc cung phu thê tự Hóa Lộc, đứng ở lập trường của mệnh tạo, đó là yêu cầu người phối ngẫu phải có tác dụng "Lộc" vượt quá giới hạn. "Lộc" ở đây có thể là tiền bạc, tình cảm, dục tình, vui vẻ, hạnh phúc, hài hòa, hoặc tình thân ấm áp hơn đối với người nhà của mệnh tạo; được vậy mới thành người phối ngẫu của mệnh tạo. Các sao ở cung phu thê đại biểu cho một sinh mệnh thể khác của mệnh tạo; nếu có Hóa Quyền, người ấy có sự tự chủ trong cách biểu đạt tình cảm, tự chủ trong việc chi phối tiền bạc và ý thích sử dụng. Nhưng nếu phải thỏa mãn yêu cầu của mệnh tạo thì họ hơi bị "mất mát"; cho nên sau khi hôn nhân thành lập, người phối ngẫu có cảm giác như "thiên đường đã mất". Nếu người phối ngẫu không chịu thỏa hiệp, mệnh tạo rất có thể sẽ tìm người khác; nhất là lúc nhu cầu tâm sinh lí bị biến tướng, hôn nhân có thể rơi vào nguy cơ.

Nhưng không phải hễ thấy cung phu thê tự Hóa Lộc là li dị. Phải truy cứu can cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung nào, và tính toán kết cấu của các bộ phận liên quan trong mệnh bàn, mới đưa ra định luận được. Còn muốn biết mệnh tạo đòi hỏi điều gì vượt quá giới hạn thì phải xem sao nào tự Hóa Lộc; từ đó mới phân biệt được là đòi hỏi tình thân, tình dục, tiền bạc, hay đòi hỏi sự quan tâm, tình người, kinh nghiệm sống, sự thấu hiểu nhân tình thế thái.

Cung phu thê tự Hóa Kị: gánh nặng không lường được

Lại lấy cung phu thê tự Hóa Kị làm ví dụ. Đứng ở lập trường của mệnh tạo, đây là lấy việc "giao gánh vác trách nhiệm quá giới hạn" làm điều kiện để thành người phối ngẫu của mình; đứng ở lập trường của người phối ngẫu, đây là nhận chịu một gánh nặng không lường được. Mệnh tạo có thể nghĩ rằng đã thành vợ chồng thì người kia phải giúp mình gánh trách nhiệm hoặc áp lực. Với tính cách nặng chủ nghĩa cá nhân, mệnh tạo càng có thể chủ quan cho rằng người phối ngẫu không đồng tâm hiệp lực, không đủ điều kiện làm vợ hay chồng của mình; còn cho rằng sau khi kết hôn là những ngày tháng quá khổ sở, làm tăng thêm gánh nặng cho mình.

Vì vậy người có cung phu thê tự Hóa Kị thông thường kết hôn muộn; có thể vì không gặp được đối tượng vừa ý, hoặc có bạn bè trai gái nhưng không có phúc để hưởng. Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân nhất định làm cho người phối ngẫu cảm thấy không thích hợp, hoặc có quá nhiều áp lực. Gặp người phối ngẫu tính tốt thì họ âm thầm nuốt nước mắt; người hơi mạnh mẽ một chút, không nhịn nổi, sẽ tìm cách ra đi. Những tình hình này phải xem phi Hóa Lộc nhập vào cung nào và kết cấu mệnh bàn ra sao mới luận định được. Xét ở góc độ khác, với kết cấu này mà sống được với nhau đến bạc đầu, thì trước đó nhất định đã có người không chịu đựng nổi "vở bi kịch tình yêu" ấy.

Khi Cung Phu Thê Trở Thành Cung Mệnh Của Đại Vận

Các sao ở cung phu thê biểu thị hình tượng của người phối ngẫu; nhưng đối với người suốt đời không kết hôn, các sao ấy đại biểu cho cái gì? Lúc cung phu thê xuất hiện Hóa Quyền năm sinh, có thể nói nhờ hôn nhân mà mệnh tạo có được địa vị xã hội; có thể xác định người phối ngẫu không chủ động gây ảnh hưởng hoặc can dự vào sự nghiệp của mệnh tạo. Còn cung phu thê tự Hóa Quyền thì người phối ngẫu sẽ ảnh hưởng đến sự nghiệp của mệnh tạo; tự Hóa Lộc hay tự Hóa Khoa cũng vậy; tự Hóa Kị thì là ảnh hưởng tiêu cực. Đừng quên rằng cung tự hóa sẽ chiếu đối cung, làm cho đối cung trực tiếp sinh biến động với mức độ tương ứng.

Giả thiết ông A có cung phu thê là Vũ Khúc tọa thủ, can cung là Nhâm, khiến Vũ Khúc tự Hóa Kị. Đây là kết cấu bất lợi về hôn nhân. Lúc hành hạn nhập cung phu thê, cung phu thê của nguyên cục biến thành cung mệnh của đại vận, đương nhiên sẽ khởi động Vũ Khúc tự Hóa Kị. Khi nói người phối ngẫu của ông A không tốt, liệu có bỏ qua "đức tính" của chính ông A không? Bối cảnh cung phu thê của nguyên cục tự Hóa Kị cũng có thể là bối cảnh cung mệnh của đại vận tự Hóa Kị; vậy là người phối ngẫu không tốt, hay bản tính của mệnh tạo vốn có thiếu sót? Đây là điều đáng suy nghĩ. Biết rõ tính của sao thì sẽ thấy Vũ Khúc ở cung phu thê tự Hóa Kị chủ về ông A có thể rất khó kết hôn.

Giả thiết cung mệnh của ông A ở cung Tí, vậy cung phu thê tất ở cung Tuất, mà cung Tuất là cung Thiên La Địa Võng; có thể nói ông A làm cho người phối ngẫu nhập "thiên la địa võng". Lại giả thiết cung phu thê của ông A có Tử Vi tọa thủ; vậy người phối ngẫu sẽ là quý nhân của ông, sẽ đối tốt với ông chăng? Nếu cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung mệnh, hoặc phi Hóa Lộc nhập cung mệnh, thì thái độ đối xử của người phối ngẫu với ông A sẽ khác nhau thế nào? Đó là những câu hỏi phải đặt ra trước khi hạ lời đoán.

Lại giả thiết cung phu thê vô chính diệu, còn cung phúc đức lại thấy Hóa Kị năm sinh; hôn nhân của họ chỉ có thể là cuộc tình lãng mạn, dù có kết hôn thì sau đó cũng khá khổ sở. Nhưng nếu cung phu thê vô chính diệu, còn cung phúc đức thấy Tả Phụ hoặc Hữu Bật, đó là ý tượng kết hôn lần thứ hai mới cát.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số — Tứ Hóa Phái (Nguyễn Anh Vũ), Chương 10 "Vận dụng phi cung hóa tượng trong luận đoán", mục "Luận đoán hôn nhân tình cảm", phần "Phi cung hóa tượng của cung phu thê".

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Phi hóa