Bài tổng quan
Tính cách, phúc khí và tượng Kỵ xuất nhìn từ xuyến liên
Có người thấy chuyện bất bình là lên tiếng ngay, có người bốn Lộc tụ về một cung mà đi theo con đường tu hành. Cùng một phép xâu ba cung, vì sao hai bản tính lại khác nhau xa, và Kỵ xuất làm chiếc bình thủng ở chỗ nào…
Mục lục · 6 phần
- 01Ba cung tính cách: Mệnh, Tật, Phúc đi chung một phe
- 02Một lá số hội bốn Lộc về cung Tật: dáng người tu hành
- 03Một lá số khác: Lộc dồn về trục Mệnh Di, Kỵ dồn về Mệnh
- 04Bất bình tắc minh: vì sao có người thấy chuyện trái tai là lên tiếng
- 05Cung căn khí: Phúc, Thiên Di, Tử Tức đo phúc dày hay mỏng
- 06Tượng Kỵ xuất: chiếc bình thủng
Ba cung tính cách: Mệnh, Tật, Phúc đi chung một phe
Tính cách của một người được đọc từ ba cung Mệnh, Tật và Phúc, giữa chúng có quan hệ nhất lục cộng tông: Mệnh là 1 thì Tật là 6, Tật là 1 thì Phúc là 6. Cung Tật và cung Phúc làm rõ nét hơn điều đọc được từ cung Mệnh.
Xâu ba cung này mà thấy nhiều Lộc thì người lạc quan, vui vẻ; nhưng thiếu Quyền thì dễ thành người phù phiếm, mơ mộng, thiếu nghị lực. Xâu ra nhiều Kỵ thì người thực dụng, thực tế, nhưng đa nghi và hay có ý nghĩ ích kỷ, tiêu cực. Chuỗi đi qua các sao đào hoa như Liêm, Tham, Âm, Cự thì mang tính đào hoa; tốt hay xấu tùy số Lộc Kỵ hợp thành. Chuỗi mang tượng Lộc xuất thì cái hay, cái đẹp được phô ra ngoài; mang tượng Kỵ xuất thì cái xấu, cái dở bị phô ra. Nếu chuỗi đi qua các sao mạnh mẽ, kiêu dũng mà lại có Lộc xuất, Quyền xuất thì đó là người anh hùng trượng nghĩa, bậc hào kiệt trên đời. Các trường hợp khác luận theo cùng cách.
Hai lá số của hai nhân vật nổi tiếng cho thấy cùng một phép xâu có thể dẫn tới hai bản tính trái ngược.
Một lá số hội bốn Lộc về cung Tật: dáng người tu hành
Xét lá số của Dalai Lama. Lưu ý rằng độ tin cậy của mọi lá số chỉ là tương đối; học để cảm được phương pháp, rồi thoát ra mà suy nghĩ độc lập mới là điều quan trọng.
Trước hết xâu Lộc của Mệnh, Phúc, Tật và Lộc năm sinh. Khi xâu Lộc luôn nhớ Truy Lộc phải cùng sao.
- Mệnh ở cung Tân Tỵ hóa Lộc Cự Môn ở Mậu Dần, rồi chuyển Kỵ tới Thiên Cơ ở Canh Thìn. Tại Canh Thìn có Lộc năm sinh, đương nhiên chuyển Kỵ tới Thái Âm ở Mậu Tý, tức cung Tật Ách. Vậy 2 Lộc đã về Tật Ách.
- Phúc ở Quý Mùi hóa Lộc Phá Quân ở Ất Dậu, chuyển Kỵ tới Thái Âm ở Mậu Tý. Thêm 1 Lộc về Tật Ách, nên Tật Ách có 3 Lộc.
- Tật Ách ở Mậu Tý hóa Lộc Tham Lang ở Kỷ Sửu, chuyển Kỵ tới Văn Khúc ở Phụ Mẫu, đối xung với Tật Ách. Vậy cả trục Tật Ách có 4 Lộc.
Các cung tính cách của vị này xâu thành 4 Lộc hội tụ ở Tật Ách, nên người này chịu ảnh hưởng lớn của cung Tật Ách, tức cung duyên nghiệp, ở đây ứng với con đường tu hành. 4 Lộc tụ trên sao Thái Âm nên là người tu theo huyền môn; Lộc chủ lành, chủ thiện, nên tính cách thiện.
Giờ xâu Kỵ của Mệnh, Phúc, Tật và Kỵ năm sinh.
- Mệnh Tân Tỵ hóa Kỵ Văn Xương ở Giáp Thân, chuyển Kỵ tới Thái Dương ở Mậu Dần.
- Phúc Quý Mùi hóa Kỵ Tham Lang ở Kỷ Sửu, chuyển Kỵ tới Văn Khúc ở Nhâm Ngọ.
- Tật Ách Mậu Tý hóa Kỵ Thiên Cơ ở Canh Thìn, chuyển Kỵ tới Thái Âm tại Tật Ách.
- Kỵ năm sinh cũng ngồi ở Tật Ách.
Trục Tật Ách có 3 Kỵ. Cung Mệnh đứng ngoài chuỗi Kỵ này, nên Mệnh tránh được những liên lụy xấu của tổ hợp. Cung Tật vừa có Kỵ năm sinh ngồi sẵn, vừa có 3 Kỵ hội về, nên là cung quan trọng bậc nhất đời người này. Duyên nghiệp và việc tu hành để trả nghiệp là chuyện trọng yếu của đời ông.
Một lá số khác: Lộc dồn về trục Mệnh Di, Kỵ dồn về Mệnh
Lá số thứ hai mang tên MTĐ. Xâu Lộc của Mệnh, Phúc, Tật và Lộc năm sinh.
- Mệnh ở Canh Thân hóa Lộc Thái Dương ở Kỷ Mùi, chuyển Kỵ tới Văn Khúc ngay tại Mệnh.
- Phúc ở Nhâm Tuất hóa Lộc Thiên Lương ở Quý Hợi, chuyển Kỵ tới Tham Lang ngay tại Mệnh.
- Lộc năm sinh ngồi ở Bính Thìn, chuyển Kỵ tới Liêm Trinh ở Thiên Di.
- Tật Ách ở Ất Mão hóa Lộc Thiên Cơ ở Tân Dậu, chuyển Kỵ tới Văn Xương ở Mậu Ngọ, cung Phu Thê.
Như vậy Mệnh, Phúc và Lộc năm sinh xâu thành 3 Lộc tại trục Mệnh Di. Đây là mệnh cách nắm quyền. Chuỗi nhiều Lộc đi qua Liêm Trinh, Tham Lang nên là người tài hoa, mang tính của Liêm Tham. Cung Tật Ách phi Lộc không nối vào Mệnh, Phúc và Lộc năm sinh, nên Tật Ách tách riêng khỏi tổ hợp tính cách. Với mệnh cách này thì không phải người tu hành.
Xâu Kỵ thì như sau. Phúc Nhâm Tuất hóa Kỵ Vũ Khúc ở Mậu Ngọ, chuyển Kỵ tới Thiên Cơ ở Tân Dậu, cung Phụ Mẫu: trục Phụ Tật có 1 Kỵ. Tật Ách Ất Mão hóa Kỵ Thái Âm, chuyển Kỵ tới Văn Khúc tại Mệnh. Kỵ năm sinh cũng ngồi tại Mệnh. Vậy tại Mệnh có 3 Kỵ, tại Phụ Mẫu có 1 Kỵ. Mệnh, Tật và Kỵ năm sinh xâu thành 3 Kỵ ngồi Mệnh: người có tính cơ mưu, quyết đoán. Mệnh lại nắm nguồn Kỵ của cả lá số, tức Kỵ năm sinh, nên ảnh hưởng của Kỵ rất mạnh.
Trong các cung tính cách, riêng Phúc Đức hóa Kỵ và chuyển Kỵ đi lẻ, tách khỏi chuỗi, cho thấy cung Phúc không có vai trò trong tính cách Kỵ. Điều này khớp với cá tính quyết liệt của người này.
Lá số cuối cho thấy một nét tính cách mà người đời gọi là bộc trực, và Phi tinh có hẳn một cách giải thích riêng cho nó.
Bất bình tắc minh: vì sao có người thấy chuyện trái tai là lên tiếng
Người bộc trực, cá tính, trong Phi tinh có một thuyết gọi là bất bình tắc minh: thấy chuyện bất bình thì phải lên tiếng. Chuyện này có hai mấu chốt. Một là tính thiếu kiên nhẫn: gặp việc không như ý thì không giấu được lửa giận, bộc lộ ngay ra ngoài, đó là Kỵ xuất. Hai là lòng háo thắng, rất nhanh biểu hiện ra ngoài, đó là Quyền xuất. Hai thứ hợp lại thì gặp chuyện bất bình sẽ không nhịn nổi: hoặc phát giận, hoặc kích động, hoặc rút dao tương trợ.
Cung Phúc hóa Quyền vào Thiên Di hoặc Phụ Mẫu, gặp Kỵ, là kiểu thấy chuyện bất bình thì lên tiếng, cũng là biểu hiện nóng nảy, bộc trực. Còn muốn lời lên tiếng ấy được người xung quanh ủng hộ, thì khi Phúc hóa Quyền vào Phụ Mẫu hoặc Thiên Di, cần Giao Hữu hóa Lộc tới cùng một sao, khi ấy người ta sẽ vỗ tay tán thưởng.
Cung căn khí: Phúc, Thiên Di, Tử Tức đo phúc dày hay mỏng
Tuổi thọ dài ngắn cần xem phúc khí. Xâu các cung Phúc, Thiên Di và Tử Tức là xem phúc thọ. Phúc dày thì dù gặp nhiều kiếp nạn cũng vượt qua được. Ba cung căn khí xây quanh cung Phúc: Phúc là 1 thì Tử là 6, vì Tử là Tật của Phúc; Thiên Di là 9, vì Di là Quan của Phúc, cũng là khí số vị của Phúc. Bởi vậy ba cung này cho biết phúc khí dày hay mỏng, tức may mắn hay xui xẻo. Chúng cũng dùng để xem tài hoa của đời người. Qua đó thấy người xưa coi tài hoa là thứ gắn với bẩm sinh, với may mắn trời cho; có tài hoa chính là có phúc.
Nếu ba cung Tật Ách xoay quanh Mệnh, thì ba cung căn khí xoay quanh Phúc. Chuỗi căn khí nhiều Lộc là nhiều may mắn, nhiều Kỵ là nhiều xui xẻo. Gặp thêm tượng Lộc xuất, Kỵ xuất thì may mắn hay xui xẻo không chỉ nằm ở dạng tiềm năng mà hiện thành sự việc.
Một cách tính phúc dày mỏng như sau. Thứ nhất, Lộc năm sinh nằm ở Thái Âm cung Phụ Mẫu, chuyển sang Văn Xương rồi hiệp Lộc vào Thiên Di, được 1 Lộc. Thứ hai, Thiên Di giáp Liêm Trinh hóa Lộc vào Mệnh, được thêm 1 Lộc. Thứ ba, Mệnh hóa Lộc Thái Dương ở Giao Hữu, Phúc hóa Lộc Thiên Lương ở Giao Hữu, hội Quyền của Tật Ách, chuyển tới Tham Lang Kỵ, hiệp hai Lộc về Phúc Đức, được thêm hai Lộc và một Quyền. Tổng cộng Phúc có 4 Lộc và 1 Quyền, chắc chắn không phải đoản mệnh, có thể thọ tới 70. Nhưng cung Phúc cũng bị phá hoại, nên cần tích đức và duy trì tập luyện dưỡng sinh, nếu không về già sức khỏe sẽ rất kém.
Phúc khí nhiều hay ít là chuyện tiềm năng. Còn điều quyết định tiềm năng ấy rỉ ra hay giữ lại, là tượng Kỵ xuất.
Tượng Kỵ xuất: chiếc bình thủng
Kỵ xuất mang ý thẳng, trực tiếp, phát tiết, tiêu tán. Vì bộc lộ tâm tình trần trụi nên còn có nghĩa là suy nghĩ cạn, dễ xung động, ấu trĩ, nông nổi. Từ đó dễ sinh túng quẫn, vô trí, hay quên, đần độn, mờ mịt, hoảng loạn, uể oải, tự ti, rối cấu trúc, suy nghĩ trống rỗng, làm việc không có mục đích.
Chuỗi xuyến liên Kỵ giống các bình thông nhau; gặp Kỵ xuất là bình thủng, nước tất phải chảy ra ngoài. Hay giống một nhóm bạn tán chuyện với nhau, chỉ cần một người bép xép là thông tin của cả nhóm bị lộ. Kỵ xuất đơn giản là cái dở lộ ra, cái dở thành hiện thực, chuyện lộ ra không được người đời ủng hộ nên thành dở. Ngược lại, Lộc xuất là cái tốt lộ ra, cái hay được người đời đón nhận.
Kỵ xuất có ba loại:
- Hóa Kỵ vào Phụ Mẫu là Kỵ xuất tại Thiên Di của Tật Ách; Hóa Kỵ vào Thiên Di là Kỵ xuất tại Thiên Di của Mệnh.
- Bản cung tự hóa Kỵ xuất.
- Bản cung hóa Kỵ vào đối cung, tức trực tiếp Kỵ xuất.
Kỵ xuất sợ nhất là gặp đa Kỵ rồi lại có Kỵ xuất: đó là tượng rối loạn nghiêm trọng.
Chẳng hạn cung Mệnh, thuộc nhóm tính cách, tọa Kỵ năm sinh lại gặp bản cung tự hóa Kỵ xuất; hoặc Mệnh tọa Kỵ năm sinh mà can cung ấy lại hóa Kỵ vào Phụ Mẫu hay Thiên Di, đó là tượng Kỵ xuất. Người như vậy nhiều phiền não, không an định, ít suy nghĩ, vui giận lộ ngay trên mặt.
Nếu cách ấy lại gặp Phúc Đức và Tật Ách, cũng là các cung tính cách, cùng hóa Kỵ vào Mệnh, hợp với Kỵ năm sinh thành Tam Kỵ phá, rồi Mệnh có tự hóa Kỵ xuất hoặc hóa Kỵ vào Phụ Mẫu, Thiên Di, thì người này thô lỗ, vội vàng, ít tu dưỡng, làm việc không suy nghĩ. Sớm muộn cũng gặp vấn đề sức khỏe, vì Mệnh, Phúc, Tật xâu nhiều Kỵ phá hoại, sao có thể không gặp chuyện gì.
Lại như cung Sự Nghiệp cùng Huynh Đệ (nhất lục cộng tông), hay Tật Ách là cung tâm tình, cùng các cung liên quan công tác, mà xâu thành đa Kỵ phá bại ở một cung nào đó, cung ấy lại có tự hóa Kỵ xuất hoặc Kỵ xuất sang đối cung, thì người này trong công việc hay gặp trở ngại, không như ý, bất đắc chí mà bỏ việc. Nếu chỉ có song Kỵ gặp Kỵ xuất thì sức phá không quá nặng, vẫn nhẫn nại chịu khó mà qua được. Kỵ xuất vốn là tiêu tán, cửa ải khó rồi cũng trời quang mây tạnh. Nhưng tụ từ tam Kỵ trở lên, gặp tự hóa Kỵ xuất hoặc lưu xuất Kỵ, tức Kỵ xuất tới đối cung, thì sự phá hoại nghiêm trọng, thất bại không dứt, phải đóng cửa doanh nghiệp: đa Kỵ phá lại gặp Kỵ xuất tiêu tán, mọi việc tan thành mây khói.
Với Phu Thê cũng vậy. Bản cung Phu Thê tự hóa Kỵ xuất thì người phối ngẫu tính thẳng, không để bụng. Nếu Phu Thê tọa Mệnh Kỵ, rồi cùng Kỵ năm sinh hợp thành song Kỵ, lại gặp tự hóa Kỵ xuất, thì người phối ngẫu ít suy nghĩ, bộc trực, tâm tư lộ hết trên mặt, ít tình cảm. Lâu dần hôn nhân thành bằng mặt không bằng lòng. Nếu hai cung Phụ Mẫu hoặc Điền Trạch cũng xấu thì nguy cơ ly dị cao.
Nguồn: Alex Alpha, Giáo trình Phi Tinh Lương phái.
