Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Phi hóa

Bài tổng quan

Năm nguyên tắc giải mã mệnh bàn Đẩu Số của Bắc phái

Tử Vi Bắc Phái - Phi hóa20/09/202629 phút đọc3 lượt đọc
Năm nguyên tắc giải mã mệnh bàn Đẩu Số của Bắc phái

Năm người cùng có Thiên Đồng, Cự Môn thủ mệnh tại Sửu, vậy mà kẻ trầm mặc, người phóng túng, kẻ làm công, người làm chủ; chỗ khác nhau nằm ở tứ hóa chứ không ở chính tinh. Bắc phái Tứ Hóa đúc kết phép giải mã mệnh bàn thành năm nguyên tắc: nhìn linh hoạt từng góc độ, phân tích toàn diện, lấy quân bình làm chuẩn, định vị cung lục thân và nhận ra lúc nào tứ hóa thật sự khơi động mệnh bàn. Vì sao một người Lộc Quyền trùng điệp ở cung quan lộc lại lo mất việc đúng năm đẹp nhất?


LÚC LUẬN MỆNH, CHÍNH TINH LÀ CĂN CỨ QUAN TRỌNG, NHƯNG KHÔNG PHẢI LÀ DUY NHẤT. Tứ hóa và các sao phân bố ở mười hai cung mới là những then chốt làm cho mệnh bàn trở nên tinh vi. Bắc phái Tứ Hóa đúc kết việc giải mã mệnh bàn thành năm nguyên tắc: xem xét từng góc độ cho linh hoạt, phân tích toàn diện, lấy tính quân bình làm chuẩn, định vị cung lục thân, và nắm cho được lúc nào tứ hóa thật sự khơi động mệnh bàn.

Xem Xét Từng Góc Độ Một Cách Linh Hoạt

Năm người cùng "Thiên Đồng, Cự Môn" thủ mệnh tại Sửu

Tính chất nhân cách, diện mạo, hình dáng cao thấp mập ốm của năm người này đều khác nhau; điểm tương đồng duy nhất là họ cùng có Thiên Đồng, Cự Môn thủ mệnh. Có người đi làm hưởng lương, có người lại làm ông chủ lớn, đủ các loại nghề nghiệp. Cá tính quyết định mệnh vận, cá tính cũng quyết định hướng chọn nghề. Tác dụng của Thiên Đồng, Cự Môn tuy cùng đẳng cấp, nhưng do tứ hóa ảnh hưởng khác nhau nên mệnh cách của họ khác nhau.

Không có tứ hóa năm sinh: Bình thường trầm mặc, ít nói, lúc không cần thiết sẽ không mở miệng.

Thiên Đồng Hóa Lộc (sinh năm Bính): Thường để cảm tính nâng cao tính đa tình của mình, lạc quan hơn trường hợp trên. Có Thiên Đồng Hóa Lộc nên tính chất Thiên Đồng chiếm ưu thế hơn Cự Môn; người này dù sinh trong nhà giàu cũng có khuynh hướng tự lập, tay trắng làm nên. Thiên Đồng thủ mệnh chủ về giàu cảm tính, nên bất kể sự nghiệp hay tình cảm cũng đều phản ứng theo lối cảm tính ấy. Cự Môn ở cung Sửu sẽ vì can cung mà tự Hóa Lộc, nhưng Cự Môn tự Hóa Lộc và Thiên Đồng Hóa Lộc là hai chuyện khác nhau, không trộn làm một được, nên nó không làm tiêu hao tác dụng của Thiên Đồng Hóa Lộc. Người như vậy rất nhiệt tình, phóng túng và cực kì hướng ngoại.

Thiên Đồng Hóa Kị (sinh năm Canh): Thiên Đồng và Cự Môn đều thuộc thủy; Thiên Đồng Hóa Kị khiến khí thủy của Thiên Đồng vượng hơn Cự Môn, nên mệnh cách này lấy Thiên Đồng Hóa Kị làm trục chính. Thiên Đồng tuy được gọi là "phúc tinh", nhưng người Thiên Đồng Hóa Kị thủ mệnh lại là "có phúc mà không biết hưởng". Lúc trẻ, hay lúc còn bé, có thể đã phải xa quê hương, ít được hưởng không khí ấm áp của gia đình; thậm chí còn trầm lặng hơn trường hợp thứ nhất. Nếu không phải vì đi học ở nơi khác thì cũng có thể lập nghiệp ở tha hương. Mẫu người này thường sống khép kín, ít nhiều có mặc cảm tự ti và nặng tâm lí phòng vệ; hay nghi kị, rất nặng tính hoài nghi, khá hướng nội.

Thiên Đồng Hóa Quyền, Cự Môn Hóa Kị (sinh năm Đinh): Hai sao hành hóa có ngũ hành khác nhau, nhưng hỏa của Hóa Quyền và thủy của Hóa Kị không thể trực tiếp đánh nhau; trong tổ hợp này chúng thường thắt lại rất chặt, vì hai chính tinh ở vào một thế quân bình rất đáng sợ. Người như vậy tự đánh giá mình quá cao, đồng thời lại có mặc cảm tự ti; họ luôn đề cao bản thân, khiến người khác cảm thấy họ có bụng dạ hẹp hòi. Tính cách song trùng rất rõ rệt: mặc cảm tự ti kích thích khiến họ hay có những hành động mạnh mẽ làm người khác phải chấn động. Trong cuộc sống họ vẫn có thể sống "bình an" với mọi người, nhưng một khi đã mở miệng tranh luận thì tranh cho đến khi "ông" bại, "tôi" thắng mới thôi. Do lối nghĩ "lưỡng cực hóa", dù bạn có lí cũng không cách nào làm họ tâm phục khẩu phục; lúc nổi giận cũng rất kịch liệt. Khó đoán được người này hướng nội hay hướng ngoại, vì họ chẳng giống loại nào.

Cự Môn Hóa Quyền (sinh năm Quý): Cự Môn Hóa Quyền là trục chính, vì tác động của Cự Môn mạnh hơn Thiên Đồng, nên hình tượng bản thân cũng thiên về tính chất của Cự Môn. Đương nhiên không được phủ định sự tồn tại của Thiên Đồng: nó làm cho cá tính linh hoạt, bất định của Cự Môn trở nên trầm tĩnh hơn, bình tâm tịnh khí hơn, có tính "thu vào" hơn. Người này có khá nhiều cơ hội biểu đạt bản thân: họ có thể mang những nghiên cứu tâm đắc, những phân tích, cảm tưởng lúc quan sát ra trình bày hay thực hiện một cách có kế hoạch, có hệ thống, có tính quyền uy; có tài hùng biện, biết nắm bắt cơ hội để trình bày thành quả sau khi đã nhẫn nại nghiên cứu, lại có năng lực cạnh tranh. Họ không cam chịu cô đơn tịch mịch, mà sẽ biểu hiện tính lãng mạn và đùa giỡn của Thiên Đồng, bộc lộ ưu điểm của mình. Đây là người có dụng tâm nâng thân phận và địa vị của mình lên.

Đó mới chỉ là phân tích sơ lược. Trong năm tình huống ấy, nếu cung Sửu và cung Tí chia ra có Tả Phụ và Hữu Bật, sẽ có trường hợp nhờ bối cảnh gia thế mà có nhiều cơ hội nâng cao địa vị xã hội; nhưng ở trên cao mà thái độ khiêm tốn, trầm mặc, hành sự cẩn trọng đến đâu thì mỗi người lại không giống nhau. Giả thiết cả năm trường hợp đều có Kình Dương đồng cung, thêm Hỏa Tinh, Linh Tinh và Thiên Hình, nếu là nữ mệnh thì sẽ có khuynh hướng nam tính hóa. Thêm bất cứ một phụ tinh, cát tinh hay hung tinh nào, cả năm trường hợp đều phải điều chỉnh cách luận giải.

Thế giới không thể chỉ có mười bốn loại người

Thiên hạ có hàng vạn vạn cá tính, tính khí khác nhau. Người có cùng chính tinh tọa thủ cung mệnh, mệnh vận của họ vẫn vì ảnh hưởng của phụ tinh, hung tinh và tứ hóa mà khác nhau rất nhiều; huống hồ có rất nhiều trường hợp cung mệnh là tổ hợp hai chính tinh. Cho nên chính tinh là căn cứ quan trọng, nhưng không được lấy chúng để giải đoán một cách không có giới hạn.

Phá Quân ở cung mệnh: Phá Quân độc tọa là người hiếu động, không thích yên tĩnh, bình thường không thích mở miệng nói bất cứ điều gì, thái độ nghiêm túc, điềm tĩnh, có phong thái của đại tướng, dám nói dám làm. Nếu có Văn Khúc đồng cung: Phá Quân thủy khí thế mạnh mà gấp, tụ với Văn Khúc thủy có tính âm nhu, kín đáo, thanh nhã, thì tính cương liệt quả đoán của Phá Quân giảm bớt xung động, thậm chí biến thành do dự, thiếu quyết đoán, tính cách mâu thuẫn. Văn Khúc là Quý thủy, âm thủy, nên người "Phá Quân, Văn Khúc" thủ mệnh có khí chất thâm trầm, kín đáo. Còn tổ hợp "Phá Quân, Văn Xương" thì làm Phá Quân tăng thêm phần lí tính, trí thức và tính "thu vào"; nói cách khác, hình thành một Phá Quân có trí tuệ. Văn Xương thuộc Canh kim, Phá Quân là Quý thủy; dương kim sinh âm thủy, âm dương điều hòa. Tính cách người này vì thế khác rất nhiều so với Phá Quân độc tọa hay "Phá Quân, Văn Khúc".

"Tử Vi, Thất Sát" ở cung tài bạch (cung mệnh là "Liêm Trinh, Phá Quân"): Thông thường sẽ phát huy được tài năng ở các cơ cấu lớn, là nhân viên hưởng lương, quân nhân, cảnh sát, nhân viên y tế, hoặc chuyên viên kĩ thuật của cơ quan công. Đồng cung với Văn Xương là chủ về giấy tờ chứng nhận, sẽ khiến "Tử Vi, Thất Sát" được thăng cấp trong nghề. Đồng cung với Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh thì trình độ bị phá, đẳng cấp nghề nghiệp cũng hạ xuống. Nếu thêm Thiên Hình — sao y dược, có tính khép kín, cô tịch — dung hợp với "Tử Vi, Thất Sát" thì thành mệnh cách có tố chất rất chuyên nghiệp; luận về khuynh hướng nghề nghiệp, mệnh chủ có thể là bác sĩ hay chuyên viên kĩ thuật y tế.

Đừng khư khư sợ một sao Hóa Kị

Tả Phụ và Hữu Bật tính chất tương tự mà công dụng khác nhau. Liêm Trinh không thích đồng cung với Tả Phụ, đó là tượng gần với thị phi, có thể là "quan phi"; nhưng Liêm Trinh đồng cung với Hữu Bật lại là tượng cát tường. Lúc Liêm Trinh không Hóa Kị thì không xảy ra sự cố. Vậy người sinh năm Bính, Liêm Trinh Hóa Kị, lại có Tả Phụ đồng cung thì sao? Có phải cứ sinh năm Bính là chịu chuyện không may? Thực ra nỗi lo ấy chẳng có nghĩa lí gì mấy. Người sinh năm Giáp thì Thái Dương Hóa Kị; người sinh năm Ất thì Thái Âm Hóa Kị; người sinh năm Nhâm thì Vũ Khúc Hóa Kị — đều là các sao khá nặng kí. Nếu cứ khư khư nghĩ đến chuyện không may, vậy lúc các sao này Hóa Kị bị xung kích thì làm sao chịu nổi?

Thực ra Hóa Kị ở "ngã cung" là chủ về "thu vào", gây tổn hại không lớn lắm; huống hồ nếu Hóa Lộc cũng ở "ngã cung" thì Hóa Kị là kết cục của chuyện thị phi, thường là tốt đẹp. Dù Hóa Kị ở "tha cung", nếu can cung ấy khiến sao Hóa Kị lại tự Hóa Khoa, thì kết cục tuy không vừa ý nhưng vẫn tiếp nhận được; có điều trong quá trình xảy ra sự cố, mệnh chủ sẽ thấy đáng tiếc, đau khổ, mất mát, rồi cuối cùng vẫn có cách giải quyết hợp lí. Giải đoán một mệnh bàn phải xem xét mọi góc độ. Luận về thất nghiệp chẳng hạn, không thể chỉ đứng ở cung mệnh hay cung tài bạch, mà còn phải đứng ở cung quan lộc, cung thiên di và các cung khác nữa — vì một bệnh nhân sau khi mắc bệnh nặng hoặc bị trọng thương cũng có thể "thất nghiệp".

Phân Tích Một Cách Toàn Diện

Một cung rất đẹp trên thiên bàn, sang đại vận có thể đổi vai; không đọc hết các cung liên can thì không hiểu vì sao người ta lo mất việc đúng lúc lẽ ra phải thăng quan.

Sau khi hoạt bàn chuyển động, cung quan lộc của nguyên cục có thể biến thành cung tài bạch hay cung mệnh của đại vận. Mệnh bàn của ông X: âm nam, kim tứ cục, năm nay 51 tuổi. Cung mệnh tại Quý Dậu có Phá Quân, Liêm Trinh, Địa Kiếp. Cung quan lộc tại Đinh Sửu có Vũ Khúc Hóa Lộc năm sinh, Tham Lang Hóa Quyền năm sinh và Địa Không. Cung tài bạch tại Kỉ Tị có Tử Vi, Thất Sát. Cung điền trạch tại Bính Tí có Thiên Đồng, Thái Âm, Văn Xương. Cung nô bộc tại Bính Dần có Thái Dương, Cự Môn, Văn Khúc Hóa Kị năm sinh và Thiên Hình. Cung thiên di tại Đinh Mão có Thiên Tướng; cung tật ách tại Mậu Thìn có Thiên Cơ, Thiên Lương; cung phúc đức tại Ất Hợi có Thiên Phủ.

Đến đại vận thứ năm (44–53 tuổi), cung mệnh của đại vận là Kỉ Tị, tức cung tài bạch của thiên bàn; cung quan lộc của nguyên cục thành cung tài bạch của đại vận. Can Kỉ khiến Vũ Khúc lại Hóa Lộc, Tham Lang lại Hóa Quyền ở cung Sửu. Lưu niên đến cung này, theo lí sẽ được thăng quan tiến tước hoặc tài lợi song thu; nhất là lưu niên Kỉ Sửu, Vũ Khúc và Tham Lang Hóa Lộc, Hóa Quyền lần thứ ba. Vậy mà mệnh chủ lại lo năm nay không giữ được công việc. Vì sao?

Sáu điểm phân tích

Một. Mệnh tài quan là "nhất thể tam diện", nên phải tìm hiểu tình huống can của cả ba cung này phi hóa. Nhất là tứ hóa ở cung quan lộc của đại vận đối với cung quan lộc của thiên bàn — hai cung đồng chất — sinh ra sức ảnh hưởng rất lớn. Cung mệnh đại vận ở Kỉ Tị thì cung quan lộc của đại vận là Quý Dậu; Tham Lang Hóa Quyền năm sinh gặp Tham Lang Hóa Kị của đại vận, tạo thành cục diện Tham Lang "Quyền Kị giao chiến", phương hại đến khả năng thăng chức của Tham Lang và làm yếu lực hộ trì đối với Vũ Khúc Hóa Lộc — bởi Hóa Quyền vốn có thể bảo vệ, duy trì và thực hiện dục vọng của Hóa Lộc. Hiện tượng này cũng giống như trong đời thực: nhiều lúc tưởng thuận buồm xuôi gió, nhưng vì cách suy nghĩ và hành vi tạo tác nhất thời không thỏa đáng, phán đoán sai tình thế, mà cơ hội tốt biến mất, sự tình xấu đi.

Hai. Xét tứ hóa của đại vận Kỉ Tị bay vào các cung sẽ đoán được Vũ Khúc Hóa Lộc năm sinh có thất thủ. Văn Khúc Hóa Kị năm sinh ở cung tử nữ của đại vận, tức cung nô bộc của thiên bàn: Hóa Lộc năm sinh nhập "ngã cung", còn Hóa Kị năm sinh nhập "tha cung".

Ba. Can cung tài bạch của đại vận là Đinh Sửu, phi Hóa Lộc nhập Thái Âm và phi Hóa Quyền nhập Thiên Đồng ở cung tật ách của đại vận, tức cung điền trạch của thiên bàn. Xét ở góc độ đại vận, cung tật ách của đại vận là cái "nghĩa địa", nên Lộc Quyền do cung tài bạch đại vận phi ra tạm thời mất tác dụng tốt trong đại vận này. Ngoài ra, can Đinh còn phi Hóa Kị nhập Cự Môn ở cung tử nữ của đại vận.

Bốn. Văn Khúc Hóa Kị năm sinh và Cự Môn Hóa Kị can cung làm đầy rẫy "khí Hóa Kị" ở cung tử nữ của đại vận, khiến Thiên Tướng ở cung phu thê của đại vận yếu thế; thường là biểu thị tình cảm vợ chồng sắp đổ vỡ.

Năm. Bất kể tuyến "tử điền" của nguyên cục hay của đại vận đều liên quan đến chuyện đào hoa ngoại tình. Can cung tài bạch đại vận Đinh Sửu phi tứ hóa nhập cung điền trạch của thiên bàn, mà can cung điền trạch là Bính Tí tự Hóa Lộc và tự Hóa Khoa để hưởng ứng; đồng thời Hóa Kị can cung nhập cung tử nữ của đại vận gặp Văn Khúc Hóa Kị năm sinh hưởng ứng. Cho nên nguyên nhân mất việc do sự kiện đào hoa là khá rõ rệt.

Sáu. Cung tài bạch đại vận phi Hóa Lộc và Hóa Quyền nhập cung tật ách của đại vận, có thể nói là mang lí tưởng của Quyền Lộc đem "chôn", quên mất việc phấn đấu vì tiền đồ tương lai. Lộc Quyền ấy còn nhập cung điền trạch của thiên bàn, là "dụng tác động vào thể", thổi bùng ngọn lửa đào hoa; nói cách khác, mặt tốt và tính lí tưởng của Lộc Quyền can cung bị đào hoa thay thế.

Hai lưu ý từ mệnh bàn này

Hóa Quyền và Hóa Lộc năm sinh đều ở cung quan lộc; theo một số nhà Đẩu Số Tứ Hóa phái, Lộc Quyền đồng cung là cách "Lộc Quyền giao nhau", chủ về làm ăn sáng lập cơ nghiệp. Nhưng thực tế, từ lúc bước vào xã hội đến nay mệnh chủ làm suốt trong một công ti, không cách nào tự kinh doanh hay sáng lập sự nghiệp. Nguyên nhân là Địa Kiếp và Địa Không chia ra ở cung mệnh và cung quan lộc. Lúc phân tích mệnh bàn, đừng xem thường sức ảnh hưởng của Địa Kiếp, Địa Không.

Lưu niên Kỉ Sửu, cung phụ mẫu của lưu niên lại thấy nhiều sao Hóa Kị, còn có Thiên Hình đồng cung. Cung phụ mẫu còn đại biểu cho cấp trên, và cũng là cung vị luận đoán về "quan phi" kiện tụng.

Lấy Tính Quân Bình Làm Tiêu Chuẩn Đánh Giá

Lão Tử có câu:

Thiên chi đạo, tổn hữu dư nhi bổ bất túc.

Đạo trời bớt chỗ thừa mà bù chỗ thiếu; luận đoán mệnh bàn cũng phải tuân theo quy tắc ấy. Lấy tính của sao làm ví dụ: Thiên Đồng tọa thủ cung mệnh ở Mão hoặc Dậu. Thiên Đồng thuộc thủy, là sao ảnh hưởng đến tâm trạng; mệnh tạo thường xử sự bằng cảm tính, năng lực thích ứng với hoàn cảnh không tệ, nên một khi đã quen hoàn cảnh mới họ sẽ thích sống an nhàn mà không nghĩ đến tiến thủ hay tiếp nhận cuộc khiêu chiến mới. Lúc này nếu Thiên Đồng được Hóa Quyền bổ túc, hoặc tam phương có Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La đến kích thích, thì trái lại sẽ kích phát lực hành động, khiến tính ưa an nhàn cố hữu phải thay đổi; trải qua khiêu chiến rồi sẽ có thu hoạch. Ngược lại, tinh hệ "Sát Phá Tham" tọa thủ cung mệnh, bản thân đã có tính biến động khá lớn, nên ưa có Lộc Tồn, Tả Phụ, Hữu Bật đến hội họp, giúp phát huy tính ổn định, giảm bớt biến động.

Không chỉ tổ hợp sao và các cung mới cần tuân thủ nguyên tắc quân bình; lúc vận dụng tứ hóa cũng không rời nguyên tắc lớn này được. Có điều, tình huống nào là quân bình, tình huống nào là bất túc? Làm thế nào để khống chế sự quá thừa, thế nào là bổ bất túc? Thậm chí tình huống nào tệ đến nỗi "tổn bất túc mà bổ hữu dư"?

Lộc là đoạn đê vỡ, Kị là vùng hạ lưu

Ngoại trừ tình huống tự hóa, mối quan hệ của cung mệnh phi Lộc và phi Kị rất mật thiết, nên rất dễ phân tích xem có quân bình hay không. Thử lấy cung mệnh của thiên bàn phi Hóa Lộc nhập cung huynh đệ, khoan xét đến tứ hóa năm sinh. Đây là biểu thị mệnh tạo có tình cảm tốt với anh em, thường tính toán lo toan thay cho anh em; xét ở phương diện khác, đó là tâm trạng kì vọng vào anh em. Bản thân mệnh chủ ở bên ngoài quan hệ giao tế cũng không tệ, bạn bè đều vui vẻ giao du; rất hứng thú với việc gửi tiền ngân hàng, tích lũy của cải, quản lí tiền bạc, nhưng cũng dễ vì quá lạc quan mà tổn thất; tự tin về sức khỏe, thậm chí hơi xem thường những dấu hiệu cảnh báo phát ra từ cơ thể; thích trang hoàng nhà cửa, mong duy trì sự hòa hợp trong nhà; đối với cha mẹ vợ, nhà vợ cũng có kì vọng; trong một số tình huống, mệnh chủ sẽ gặp sự kiện đào hoa rồi tiến đến hôn nhân.

Nhưng vì cung mệnh phi Hóa Lộc ra ngoài, không làm chủ ở "ngã cung", nên bất luận Hóa Kị nhập cung nào, tất cả đều là những kì vọng theo kiểu lấy đằng đông đắp cho đằng tây. Đối với mệnh chủ, đây chính là "bất túc". Tình hình ấy cũng giống như Lộc ở phía trước là đoạn đê vỡ; một khi nước tràn qua điểm vỡ, Kị ở phía sau giống như vùng hạ lưu lâm vào cảnh bị tàn phá.

Vì vậy, theo nguyên tắc luận thông thường, những kì vọng hay mong muốn kể trên tất nhiên chỉ là ảo mộng, thậm chí còn gây tổn hại cho "ngã cung" của mệnh chủ. Muốn biết đê vỡ gây tổn hại lớn hay nhỏ, phải xem Hóa Kị ở cung nào, sao bị xung kích lớn hay nhỏ, tình hình mất quân bình chênh lệch nhiều hay ít, để tổng hợp luận đoán. Thậm chí còn có thể vận dụng Hóa Khoa năm sinh để thay đổi sức tác động của cung mệnh phi Hóa Kị, dựa vào sự chuyển biến của tứ hóa mà bù đắp chỗ bất túc — song phép ứng dụng này rất phức tạp.

Định Vị Cung Lục Thân

Trong mỗi mệnh bàn đều tồn tại hình ảnh của những nhân vật khác; vấn đề là hình ảnh ấy được nhìn từ mắt ai.

Lấy cung phu thê làm ví dụ. Người phối ngẫu cũng có mệnh bàn của riêng mình; nếu lấy mệnh tạo làm bản vị để luận đoán, thì các sao ở cung phu thê là để so sánh hay quy chiếu với cung mệnh, tức là "sản phẩm" sau khi tương giao với cung mệnh. Nếu cung phu thê là Tử Vi, cung mệnh là Phá Quân, lúc luận nhất định phải luận cả tác dụng và ảnh hưởng của tứ hóa cùng các phụ tinh, hung tinh. Còn ý nghĩa của cuộc tương giao giữa Tử Vi với Phá Quân là chỉ ra: do những nhân tố nào mà Tử Vi trở thành người phối ngẫu của Phá Quân? Vì biểu hiện bề ngoài, hình tượng, cá tính, hay phong cách làm việc? Thực ra những nhân tố này đều đúng.

Nếu mang ý tượng "hình phú" của Tử Vi gán cho người phối ngẫu thì sẽ không đúng với thực tế, vì rốt cuộc những miêu tả ấy là đứng từ góc độ của mệnh tạo mà nhận định, chỉ có ý nghĩa so sánh và tương đối. Dù cung phu thê có Hóa Quyền, Văn Xương — là tượng tác phong rất quả quyết, có nghề chuyên môn, có khí chất, tình cảm của hai người phát triển rất nhanh — nhưng nếu không xét đến hiện tượng tứ hóa can cung, như can cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung mệnh, hoặc cung phu thê tự Hóa Kị hay tự Hóa Quyền, thì không cách nào luận giải sâu hơn, chỉ có thể phán đoán sơ lược bề ngoài.

Tử Vi ở cung phu thê chỉ là "trông giống như vậy"

"Tiêu chuẩn" đoán mệnh có thể dừng lại ở "thùy tượng hình phú" mang tính khái quát của mười bốn chính tinh; cũng có thể tinh tế hơn sau khi phối hợp với tứ hóa can cung. Chỉ căn cứ cung phu thê có Tử Vi thì đoán ra được mệnh chủ tôn trọng và đối xử tốt với người phối ngẫu, chuyện gì cũng tôn vinh "người ấy". Nhưng không thể chỉ căn cứ Tử Vi mà suy rằng "người ấy" xem mệnh chủ là nô bộc, là người phục dịch của mình; ấy là mệnh chủ cho "người ấy" địa vị giống như đế tinh Tử Vi. "Người ấy" cũng có mệnh bàn riêng — cá tính, mục đích nhân sinh, nghề nghiệp, sở trường — nên không nhất định sẽ tiếp nhận địa vị mà mệnh chủ đã trao. Cần phải xem xét phối hợp với cung phúc đức để luận đoán cuối cùng về tình hình hai người sống với nhau. Còn mọi thứ mà "người ấy" đối xử với mệnh chủ, bao gồm thái độ gây ảnh hưởng đến cuộc đời, gia đình, sự nghiệp, sức khỏe của mệnh chủ, tất cả đều phải tìm hiểu từ hiện tượng can cung phu thê dẫn phát tứ hóa.

Chỉ căn cứ cung phu thê có Tử Vi cũng không cách nào định luận người phối ngẫu có thành tựu, có năng lực hơn mệnh chủ; dù thêm các sao khác trong cung, cũng không kết luận được người phối ngẫu là trợ lực hay trở lực. Ai cũng biết có tứ hóa năm sinh ở ba cung mệnh, tài, quan là người có cách cục cao và cũng có thể vất vả nhiều. Nhưng có một điều ít người biết: can cung phu thê phi tứ hóa nhập ba cung mệnh, tài, quan của thiên bàn là người phối ngẫu có bản lãnh, cách cục khá ưu tú và cao hơn mệnh chủ. Tử Vi có thể chỉ là "thùy tượng", tức chỉ là "trông giống như vậy" mà thôi. Cùng là cung phu thê có Tử Vi, nhưng cách vợ chồng xử sự với nhau, cá tính và bản lãnh của người phối ngẫu, hòa hợp hay thường tranh cãi, đều khác nhau tùy theo mệnh bàn. Đối với các cung lục thân khác, phương thức luận đoán cũng tương tự: nhất định phải xem hiện tượng tứ hóa can cung nhập các cung mệnh, tài, quan của thiên bàn mới đưa ra định luận được.

Khi Nào Tứ Hóa Mới Khơi Động Mệnh Bàn

Các cung tam phương tứ chính của cung mệnh — mệnh, tài bạch, quan lộc, thiên di — ứng trong cuộc sống thực tế là những sự tình mà mỗi cá nhân phải đối diện, có tính quy luật của chúng; nhưng nếu không có tứ hóa khơi động thì không nhất thiết thu hút sự chú ý đặc biệt, cũng không nhất thiết sinh ra ảnh hưởng gì lớn.

Phần nổi và phần chìm của Tử Vi Đẩu Số

Mệnh bàn theo thời gian mà lưu chuyển: mười năm của đại vận thứ nhất kết thúc thì bước vào đại vận thứ hai, lưu niên cũng hết năm này đến năm khác, chuyển động theo sự vận hành của trời đất. Lấy năm, tháng, ngày, giờ sinh để định mệnh bàn là thuộc về "hiển tượng" cố định, không thay đổi, cổ nhân gọi là "thùy tượng". Các nhà Đẩu Số Tam Hợp phái khi luận giải mệnh vận phần nhiều tập trung vào phần thùy tượng này, điều tâm đắc cũng khá nhiều, và đó cũng là cơ sở rất quan trọng; nhưng đó chỉ là phần nổi của Tử Vi Đẩu Số. Phép tứ hóa là phần chìm, là những lí thuyết cực kì quan trọng để bước vào cảnh giới sâu kín của môn học này; theo các tiền bối cao thủ Bắc phái, đây là phần lí thuyết bí mật lưu truyền cả ngàn năm trong Đạo giáo, chỉ mới được công bố vào thập niên 80 của thế kỉ 20.

Hóa Lộc năm sinh rơi vào cung tật ách của đại vận

Giả thiết Hóa Lộc năm sinh ở cung tài bạch của nguyên cục. Giải thích đơn giản, thùy tượng này là đối nhân xử thế rất có tình người, tiêu xài rộng rãi, có khá nhiều cơ hội kiếm tiền và cũng rất biết tiêu tiền; đó là bản năng thiên phú. Nhưng bước vào đại vận thứ hai (lấy trường hợp đi thuận), cung tài bạch biến thành cung tật ách của đại vận. Hóa Lộc năm sinh tồn tại trong cung tật ách của đại vận thì không thể phát huy tác dụng trong cuộc sống thường ngày. Thùy tượng của nó ở đại vận là: trong mười năm này, trong tiềm thức của mệnh tạo có nhiều dục vọng, khá đa tình; lúc có cơ hội thì muốn thể hiện những dục vọng ấy — nhưng không nhất thiết sẽ thể hiện, cũng không nhất định có cơ hội — còn điểm then chốt của nó là vận sức khỏe.

Nếu can cung đại vận thứ hai lại khiến chính sao Hóa Lộc năm sinh ấy biến thành Hóa Kị, thì tiêu điểm cuộc sống trong đại vận này sẽ ở cung tật ách của đại vận. Nếu không có Hóa Lộc năm sinh, thì dù có Hóa Kị đại vận ở cung tật ách cũng không phải chuyện xấu; vì Hóa Kị là lực "thu vào", tốt hay xấu đều được tiếp nhận ở "ngã cung", không đến nỗi nào. Nhưng từ Hóa Lộc biến thành Hóa Kị là sao đã thay đổi tính chất rất lớn; trong cuộc sống thực tế sẽ xảy ra biến động. Có thể luận đoán trong mười năm này sức khỏe sẽ có vấn đề; không phải sự cố văn thư "quan phi", mà vấn đề nằm ở tâm lí hoặc sinh lí. Cung tật ách của đại vận đồng thời là cung vị thiên di của cung phụ mẫu đại vận: đây là tượng song thân của mệnh tạo sẽ tạo áp lực khá lớn. Muốn biết lúc nào xảy ra vấn đề về cơ thể hay tâm lí thì phải tra các cung hạn lưu niên.

Mệnh bàn phải có "động cơ"

Vận dụng tứ hóa đúng phép mới phát huy thật sự công dụng của Tử Vi Đẩu Số; nắm vững cơ chế tứ hóa ở nguyên cục, đại vận và lưu niên mới gọi là "thần toán". Thường thì tứ hóa nhập các cung tam phương tứ chính của nguyên cục, đại vận, lưu niên, mệnh bàn mới có "động cơ". Nếu tứ hóa không ở trong tam phương tứ chính thì phải có sự va chạm: tứ hóa năm sinh gặp tứ hóa đại vận hoặc tứ hóa lưu niên trong cùng một cung, hoặc ở đối cung hay giáp cung, mới có ứng nghiệm trong cuộc sống thực tế.

Ví dụ Liêm Trinh Hóa Lộc năm sinh của nguyên cục gặp Tham Lang Hóa Kị đại vận ở cung Tị hoặc Hợi; hoặc Liêm Trinh Hóa Kị năm sinh gặp lưu niên khiến Liêm Trinh lại Hóa Lộc; những hiện tượng này sẽ ứng nghiệm. Lại ví dụ phi Hóa Kị nhập cung phụ mẫu và xung cung tật ách: tìm xem phi Hóa Khoa nhập cung nào thì đoán được có gặp lương y quý nhân hay không; nhưng nếu sao Hóa Kị lớn hơn sao Hóa Khoa thì vấn đề sẽ xấu đi. Hung tinh cũng tương tự: không có kích thích từ bên ngoài thì hung tinh không thể sinh ra lực phá hoại, giống như mìn đặt dưới đất, không đụng phải thì không phát nổ.

Hóa Lộc là động tâm khởi niệm

Trong Tử Vi Đẩu Số, các sao có động cơ mạnh mẽ là Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Kình Dương, Đà La. Còn Hóa Lộc là động cơ và dục vọng nảy sinh tự nhiên từ ý niệm trong lòng. Đứng từ quan điểm triết học về giá trị nhân sinh, không cách nào dùng Hóa Lộc để phán đoán cát hung; tình hình tốt xấu của nó toàn bộ quy kết ở cung có Hóa Kị bay vào.

Vì tiền nên ta phải làm việc; tiền là nguyên động lực của dục vọng, trong Đẩu Số đó chính là Hóa Lộc. Muốn có bạn khác giới để giao du nên ta nghĩ cách làm quen; động cơ ấy cũng là Hóa Lộc. Muốn có thành tích cao nên học hành nghiêm túc; đó cũng là Hóa Lộc. Phàm động tâm khởi niệm đều là tác dụng của Hóa Lộc. Về chủ quan, Hóa Lộc là tượng cát lợi; về khách quan thì không nhất thiết, vì nó cũng có thể là họa căn của những hành vi sai trái. Can năm sinh định hình mối ràng buộc của tứ hóa ở mệnh bàn; có mộng tưởng, lí tưởng, nguyện vọng, mục tiêu không phải là chuyện xấu, nhưng cũng không phải lúc nào cũng là chuyện tốt. Hóa Lộc phần nhiều có lợi cho bản thân, cho nên cổ nhân xếp nó vào loại tượng cát lợi.

Muốn cụ thể hóa, lấy Liêm Trinh Hóa Lộc thủ mệnh làm ví dụ. Người này động tâm khởi niệm chuyện phong nhã lãng mạn; vì muốn biểu hiện bản thân nên siêng năng học tập; xử sự khá cảm tính, lại hay quan tâm chăm sóc người khác, nên có sức thu hút người khác giới. Họ có tham vọng hoạt động trong chính giới, ham muốn lãnh đạo, có tinh thần không chịu đầu hàng, có sở trường kiếm lợi lộc trong cục diện rối loạn hoặc náo nhiệt, thích châu ngọc quý báu; ham muốn tình cảm rất mạnh mẽ, nhưng không nhất thiết theo đuổi sự thỏa mãn tính dục. Đó là Liêm Trinh Hóa Lộc ở cung mệnh; ở cung huynh đệ hay các cung khác sẽ có ý tượng khác.

Ở địa bàn và nhân bàn, không luận sao cường nhược

Các sao ứng ở các cung trong mệnh bàn tuy có độ cường nhược khác nhau, nhưng theo năm tháng, hoạt bàn chuyển động, đó là phạm vi nhiệm vụ và sức ảnh hưởng mà tứ hóa phú cho các sao hành hóa. Huống hồ lúc hoạt bàn chuyển động, các sao của nguyên cục đã chuyển hóa thành mệnh bàn biểu thị cuộc đời thực; về lí luận, không còn liên quan đến độ cường nhược của sao nữa. Tức là ở địa bàn và nhân bàn, không luận sao cường nhược, mà luận phi cung hóa tượng của các sao.

Cục ngũ hành định sân khấu cuộc đời lớn hay nhỏ

Cục ngũ hành là then chốt quyết định sân khấu cuộc đời lớn hay nhỏ. Lấy "Liêm Trinh, Tham Lang" thủ mệnh ở cung Hợi: nếu là thủy nhị cục thì theo nạp âm Lục thập Giáp Tí là Đại hải thủy; nếu là kim tứ cục thì là Thoa xuyến kim. Biển lớn bao la và món trang sức thoa xuyến — chỉ riêng ý nghĩa mặt chữ cũng đủ đoán ra hai người có sân khấu cuộc đời to nhỏ, cách cục cao thấp hoàn toàn khác nhau; ngay cả bụng dạ, chí hướng cũng khác, nên mệnh vận cũng khác hẳn.

Đại đa số người biết Tử Vi Đẩu Số lúc luận giải thường dừng lại ở thùy tượng của tứ hóa ở mười hai cung; ít người giải đoán tường tận được các tình huống tứ hóa của nguyên cục, của đại vận và của lưu niên gặp nhau. Bởi họ không biết phân biệt sức mạnh lớn nhỏ của các sao, cũng khó thuyết minh kết cục của hiện tượng tứ hóa va chạm nhau. Nhưng đây lại là những mấu chốt rất quan trọng, quyết định người luận có thể "đoán việc như thần" hay không.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số — Tứ Hóa Phái (Nguyễn Anh Vũ), Chương 8 "Nguyên tắc giải mã mệnh bàn Đẩu Số của Bắc phái", phần "Các nguyên tắc giải mã mệnh bàn".

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Phi hóa