Bài tổng quan
Tử Vi, đích tôn của Dịch Lý và đạo lý nhân sinh
Người đời vẫn nghĩ tử vi chỉ là chuyện bói toán vận số, nhưng gốc rễ của nó lại nằm ngay trong Kinh Dịch, 12 cung trên lá số vận hành không khác gì 6 hào của một quẻ dịch, đúng vị thì hanh thông, sai vị thì bế tắc. Và đằng sau những con số Nguyên Hạnh Lợi Trinh của Khổng Tử, Văn Vương, hoá ra vẫn chỉ là một điều giản dị: dạy người ta sống cho đúng thời…
Tử Vi chính thị đích tôn của Dịch lý
Dịch lý là môn triết học thâm căn của Á Đông quán triệt vũ trụ của hai thế cách tượng hình là thời gian, với cơ bản rất đơn giản là âm dương ngũ hành. Nhất là sau ngày hai nhà bác học Á Đông đem dịch lý âm dương bác công thức song hành điện lực nguyên tử được phần danh dự lãnh thưởng giải Nobel năm 1957, sau hai lần thí nghiệm quốc tế nguyên tử lực cuộc.
Âm dương trên bình diện văn từ coi như cân phân ngang bằng, nhưng thực trạng theo luật cơ (lẻ) ngẫu (chẵn) vẽ nên hình tượng thì dương bao giờ cũng lấn âm quá bán (3 đối 2) như tất cả mọi mặt chia loại âm dương trong dịch học: dương là một vạch liền, nét cơ, số lẻ; âm là hai vạch đứt, nét ngẫu, số chẵn.
Dương là Nam, cương, thiện, đại, chính, thực, quân tử, phú quý, mạnh. Âm là Nữ, ác, tiểu, tà, hư, tiểu nhân, bần tiện, yếu.
Giữa Thiên Can và Địa Chi cũng vậy. Can phải là gốc Chi chỉ là ngọn. Nguồn thực lực quan trọng vẫn là Can nên Can được đặt đứng trước Chi cho biết đâu là căn bản.
Mỗi khi nói đến Thiên (Trời) nhận ngay thuộc dương với hình tượng trong sáng, mà Địa (đất) phải u minh thuộc âm. Cũng như nghĩ đến Nam tướng thấy mày râu dũng mãnh (dương) còn nữ thì thanh mai uyển chuyển (âm).
Thời gian chữ dịch chia làm 3 giai đoạn: Bất dịch là Mệnh lập, Giao dịch là Thân hành, Biến dịch là vận chuyển.
Mỗi cá thể sinh vật được âm dương phối hiệp sanh ra chứa đựng ngũ hành đầy đủ hợp chất là bất dịch. Vì lẽ sống còn phải lần hồi tiếp xúc ngoại giới là giao dịch, tất nhiên đời sẽ biến dịch, tùy theo hoàn cảnh, người không hiểu tùy thời quyết định (ăn xổi, ở theo thời).
Phần cương lãnh dịch học phải biết chia loại về nghĩa âm dương. Dương hào phải ở dương vị, âm hào nằm ở vị trí âm vị mới đắc cách, trái lại là bất chính thường đem lại khó khăn, kết quả không lành.
Mỗi quẻ dịch có 6 hào bắt đầu từ dưới chồng lên. Theo luật cơ ngẫu, hào sơ, hào tam, hào ngũ là hào dương vị. Hào nhị, hào tứ, hào thượng là hào âm vị. Vị trí của dương vị nên được dương hào chiếm đóng, âm vị phải để cho âm hào trú ngụ, mọi việc sẽ được hanh thông, trái lại tất sở cầu bị bế tắc.
Như hai quẻ: quẻ Thủy Hỏa Ký Tế cho thấy sơ hào ở dưới cùng, hào 3, hào 5 đều một vạch là dương hào đắc dương vị. Hào 2, 4 và thượng (6) đều 2 vạch là trúng âm vị có âm hào. 3 nét ở trên là Khảm (thủy), 3 nét dưới là Ly (hỏa). Theo tượng quẻ, thủy ở trên, hỏa ở dưới có nghĩa là hỏa bốc lên, thủy thấm xuống, tức thủy hỏa tương giao để đem lại thành công, hợp cách 6 hào âm ở âm vị, dương ở dương vị rất hoàn toàn đâu vào đó, ý nghĩa mọi sự đắc cách.
Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế cho thấy Ly (hỏa) trên, Khảm (thủy) dưới, các vị trí âm dương hào đều đứng nghịch vị, nghĩa là lửa không nấu được nước và nước thấm xuống không đi tới lửa, việc sở cầu như trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, hợp cách 6 hào âm dương không đắc vị.
Trong bản đồ Tử Vi thấy 12 cung âm dương xen kẽ không khác gì vị trí 6 hào quẻ dịch. Lý đương nhiên người dương Mệnh đóng ở dương cung, người Âm phải ngồi ở âm vị mới đắc cách, dẫu là tam hợp Tuế Phá vẫn có nghị lực (thiên mã) phụ giúp hùng khí như ai tam hợp Thái Tuế, đành rằng kém phần chính nghĩa.
14 chính tinh trên địa bàn, điển hình có bộ Nhật Nguyệt luôn luôn sao cho âm dương thuận vị.
Người âm đóng cung dương đã là nghịch vị, nếu lại Thái Dương thủ Mệnh, chưa vội nói đến hành Mệnh có hợp sao hay không, thấy ngay có phần kém sút (Thiếu Dương hay Thiếu Âm). Chẳng may cung đó lại là cung lạc hãm của Thái Dương, báo hiệu người đó bị lôi cuốn vào vòng đen tối ngay buổi ban sơ, nhưng rồi một ngày sẽ sáng tỏ với tư cách Nhật Cư dương vị. Trái lại vị trí đó lại tịnh minh cho Thái Dương, sự sáng tỏ đó sẽ là dù che thân.
Người âm đóng cung âm, Mão hay Tỵ, Thái Dương đó chỉ nhất thời không chánh nghĩa.
Tử vi cũng như dịch lý lấy chữ thời làm quan trọng. Người đắc thiên thời hẳn đắc ý. Thánh Phục Hy vạch nên 8 quẻ ghi làm bát quái có ý để thiên thời trên hết, xuống đến nhân hòa ở giữa, cuối cùng phần địa lợi, xếp thành ba tầng tam tài Thiên trên, Nhân giữa, Địa dưới.
Thiên thời gặp vận hội tốt (nhập hạn tam hợp Thái Tuế) dầu đụng đầu Không Kiếp vẫn có dịp may. Tiếp đến nhân hòa được lòng người trợ giúp (bộ tinh đẩu hòa hợp, với sao thủ mệnh) rồi mới đến cung hạn tốt hay xấu là sinh khắc hành bản Mệnh.
Các hành tinh trong Tử Vi chỉ là những hình tượng lý tưởng: Thiên Phủ Thiên Lương làm đại diện cho nhân hậu. Sát Phá Tham thủ vai sốt sắng ngang tàng.
Trong mỗi quẻ dịch để ra 2 hào làm tượng hình cho nghĩa trung chính: hào nhị phải là âm hào đóng, hào ngũ dành cho dương hào là đắc trung đắc chính. Tượng hình trong Tử Vi như Tử Phủ Dần Thân hay Phá Quân Thìn Tuất, chắc đâu là xứng đáng mến trọng và đâu là đáng khinh khi. Căn bản chính không ngoài lý âm dương của cung và ngũ hành của Mệnh có đắc cách với vị trí trung chánh đã được nêu ra hay không.
Tóm lại tất cả những quy luật của dịch lý đã áp dụng, thời Tử Vi không thể không thực thi sao cho hòa hợp âm dương, ngũ hành một căn bản nói chung cho cả lý số dịch học.
Tử Vi đã mượn khung của Dịch lý như vậy — còn khoa toán số dịch học tự nó, xưa nay vốn nhắm dạy đời điều gì?
Toán số dịch học, một phương tiện giáo huấn đạo lý nhân sinh
Khoảng gần 3.000 năm trước dương lịch, một vị đại thánh đã biết ngưỡng, chiêm trời mà định thiên văn, cúi dòm đất để xét địa lý, nhìn thẳng không gian khảo sát vạn vật, nghĩ cách mở mang dân trí để diệt bớt dục vọng thế nhân, mới vạch ra tượng hình vũ trụ nên hình bát quái với những ý định kín đáo. Đó là Đại Thánh Phục Hy.
Phải chờ đến 3 vị thánh sau này là Văn Vương, Chu Công và Khổng Khâu, nhất là Khổng Khâu e sợ người đời lầm đường lạc lối soạn thêm những lời giảng giải (soán từ).
Mỗi quẻ bát quái có 3 nét làm đại diện cho tam tài (thiên nhân địa). Phải dùng đến hai quái chồng lên nhau mới thành quẻ, vì mỗi Tài phải có 2 hào thay mặt cho âm dương. Nếu chỉ một âm hay một dương không thể sinh thành biến hóa được.
Hạ quái được gọi là nội quái (D), thượng quái là ngoại quái (A). Mỗi quái có 3 hào: hào sơ là dương vị, hào nhị là âm vị, hào tam hào ngũ là dương vị, hào thượng (6) là âm vị. Giữa hai quái phải có tương ứng với nhau là hào nhị được gọi là hào lục nhị hay nhị sách (A) tương đắc với hào ngũ liệt danh là đơn hay cửu ngũ (D) là đắc trung đắc chính.
Ngoài những quy luật ấn định, những soán từ là những lời vàng tiếng ngọc để cho đời làm khuôn mẫu hành sự. Hai chữ chính trung sao cho hoàn hảo. Biết việc nên làm thì làm là chính. Chính sao cho trúng lúc không thái quá cũng không bất cập là đắc trung.
Hai quẻ Thủy Hỏa Ký Tế và Hỏa Thủy Vị Tế, nhận xét vị trí âm dương thuận lý và giao hợp tương ứng là đắc thành (Ký Tế), mà nghịch lý lại âm dương bất giao là dở dang (Vị Tế).
Đến như hai quẻ Địa Thiên Thái và Thiên Địa Bĩ, thấy rằng vị trí âm dương phần nhiều bị xáo trộn, lại soán từ thấy giáo huấn rất nhiều.
Địa Thiên Thái vị nội quái là cả một đoàn quân tử (càn) thiểu nhận (khôn) đứng ở ngoài (thượng quái). Hào nhị (âm vị) đáng lẽ phải là hào sách, đây lại là cửu nhị (D) ứng hợp với hào lục ngũ ở quái thượng. Sự cương (D) nghịch (A) phải tùy thời gian áp dụng sao cho chúng phải đắc thái.
Thiên Địa Bĩ thấy nội quái là Khôn (A, tiểu nhân). Thượng quái là toàn dương (Càn). Khí âm thấm xuống, khí dương bốc lên không tương giao, tất nhiên vạn vật khó sinh thành. Một đoàn tiểu và cửu ngũ vẫn là dương nên chữ Bĩ chỉ là thời gian.
Toán số Tử Vi cũng vậy, không cứ gì bộ tinh đẩu nào là làm được việc, còn phải tùy chữ thời cũng như bên dịch lý. Đắc vị là tư cách, còn bản Thân đào tạo chữ Thọ đến mức độ nào khiến chữ Tài hoán cải đủ sức mạnh can thiệp Quan Phúc, Thiên Ất nhúng tay chặn bớt trở lực ngăn cản bước đường đưa đến chữ Thời.
Ngắm nhìn vào hào cửu ngũ của dịch lý không khác gì thời Thái Tuế của Tử Vi. Người Thái Tuế phải trải qua 4 vận đến vận thứ 5 mới đến thời. Hào cửu ngũ cũng là hào thứ năm nên mới có câu Đế Vương lên ngôi Cửu Ngũ.
Những soán từ của dịch lý thường nhắc nhở tư cách những bậc Thánh nhân cùng một nhịp điệu âm nhạc chữ Tài chữ Thọ của Thái Tuế.
Tiếc rằng lâu nay người đời vẫn nhìn khoa toán số dịch lý trong một thành kiến hạn hẹp. Thời buổi khoa học tin sao được sự ứng nghiệm, đòi hỏi phải có minh chứng cụ thể. Nhưng tại sao hiện nay có những người được mang danh bác học triết gia ở phương trời xa xăm lại ham mê tìm kiếm cố bới móc những cái gọi là của quý dịch lý Á Đông. Có phải là tùy cách thọ hưởng.
Mỗi lần đọc Chu dịch là một lần như được nghe Phục Hy, Khổng Khâu nêu cao danh nghĩa quân tử, chỉ đường đối xử tùy thời cương nhu, một thâm ý dùng toán số dịch học để giao huấn đạo lý đức hạnh nhân sinh.
Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư - Thiên Lương
