Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tính lý

Bài tổng quan

Một ngôi Trời Đất Người và nhân quả Tài Thọ mỗi đời

Tử Vi Nam Phái - Tính lý26/09/202611 phút đọc5 lượt đọc
Một ngôi Trời Đất Người và nhân quả Tài Thọ mỗi đời

Giữa muôn loài, chỉ con người mới được thánh nhân xếp ngang hàng Trời Đất trong một quẻ dịch, nhưng cái vinh dự ấy đi kèm một món nợ: Mệnh Thân mỗi người phải tự gánh lấy nhân quả của chính mình. Ngay cả Khổng Minh, tài trí gần bằng trời, cũng phải chịu thua một chữ Thái Tuế đã an bài từ trước…


Một ngôi: Trời đất người

Vũ trụ là thái cực. Thiên địa là lưỡng nghi, là âm dương của dịch lý điều khiển vạn vật từ cái hữu hình đến vô hình. Thánh Phục Hy lập thành bát quái làm đồ biểu cho vũ trụ vẽ bằng 2 đường kẻ ngang (vạch dài là dương vạch ngắn là âm). Một điều khiến người học dịch phải tự hỏi mỗi quẻ trong bát quái không phải là vạch lại là: Càn Khảm Cấn Chấn Tốn Ly Khôn Đoài, Thiên Địa Nhân. Có lẽ nào lại thừa?

Thưa rằng nét đó làm vinh dự cho loài người. Vạch trên là Thiên vạch, vạch dưới là Địa, vạch giữa là Nhân tức là con người. Đầu đội Trời, chân đạp Đất: đứng đầu vạn vật đem khối óc tinh vi của mình như thể chống chọi lại với cả thiên địa danh lấy sự sống còn.

Thảo mộc cũng là một sinh vật sinh lão bệnh tử nhưng không có óc. Súc vật có óc nhưng óc chỉ để báo hiệu cho con vật biết những gì là thói quen như đói ăn, khát thì uống, thấy đồng loại khác giống thì thèm sinh lý, đẻ con sơ sinh thì chăn dắt thế thôi.

Vậy Nhân phải là đề tài khá quan trọng của dịch lý nói chung, lý số nói riêng. Thánh nhân lập ra số đã dành ra một phần rất thiết yếu để cho người đời tự suy nghĩ.

Trong lá số ta thấy 2 chữ Mệnh Thân là cả một vấn đề khiến ta phải hiểu ý nghĩa.

Mệnh là sinh mạng của cá nhân do Thiên Địa hoá sinh thành kiếp người trong một khuôn khổ nào, tức là định mệnh của một kiếp nhân sinh, ví như tuổi Giáp Thìn thấy ngay Thiên Can Giáp (Mộc) khắc địa chi Thìn (Thổ). Ta có thể biết tạm thời vận mạng Giáp Thìn đời sống thường chật vật vì Can khắc Chi, thêm Giáp Thìn không phải là tam hợp của Lộc Tồn, và vị trí Lộc Tồn của Giáp Thìn lại còn bị Tuần thủ tiêu mất. Kể như là Thiên Can không đem lại hạnh phúc gì cả.

Còn địa chi Thìn thì phải tuỳ theo Mệnh đặt nằm ở vị trí nào của địa bàn trong vòng Thái Tuế. Nếu được trúng tam hợp Thân Tí Thìn biết ngay người này được tạo hoá nhồi nắn có tư cách, nhưng khiếm khuyết về hạnh phúc tiền tài.

Thân và thân thế hành động của dương nhân có chấp nhận định mệnh hay không. Biết rằng Mệnh và Thân luôn luôn ở cùng trong một thế lưỡng nghi, ở dương cung thì cùng dương hoặc âm cung thì cùng âm tuy 6 vị trí có khác: Mệnh Thân đồng, cung Thân ở Quan, thân ở Tài, ở Di, Phúc và Phối.

Nhận thấy ngoài Mệnh Thân đồng, ở cung Quan hay Tài, Thân như hoàn toàn chấp nhận định mệnh. Còn ở Di Phúc và Phối cho thấy thân như không chấp nhận định mệnh vì khác tam hợp của Mệnh. Trường hợp này sẽ thấy muôn hình vạn trạng khác nhau tuỳ theo 12 vị trí Thái Tuế. Phải chăng thấy cảnh thảm kịch của Thế nhân, vị Thánh làm ra lý số phải thêm 1 vòng Tràng Sinh để cùng với vòng Lộc Tồn (Thiên) Thái Tuế (Địa) nêu lên triết lý xử thế nhắn nhủ người đời lẽ thiệt hơn và hướng dẫn cuộc sống.

Tràng Sinh là bước đường dài từ lúc thụ thai trong bụng mẹ cho đến ngày thành nấm mồ trong mộ địa tuyệt tích, lấy trung bình là 60 năm hoa giáp, dầu làm vương tướng gì cũng gặp cảnh thịnh suy luôn phiên diễn bày.

Tràng Sinh chia ra 2 lẽ sống mà cùng ý nghĩ: Sinh Vượng Mộ Đới Bệnh Thai là đường hoàng cư xử được người quý mến, lẽ thịnh suy chỉ là luân chuyển. Dục, Suy Tuyệt Quan Tử Dưỡng là ăn xổi ở thời không ai tưởng nhớ, giấy rách phải cố xếp lấy lề.

Chia xuống thành tứ tượng tức là 4 tam hợp:

  • Sinh Vượng Mộ là đường hoàng mồ yên.
  • Dục Suy Tuyệt là vội ham tàn tích.
  • Đới Bệnh Thai là thịnh suy hoàn lương.
  • Quan Tử Dưỡng là giấy rách giữ lấy lề.

Toàn thể cả vòng là một triết lý khuyên đời xử thế: đường hoàng cư xử được người quý mến lẽ thịnh suy chỉ là luân chuyển, ăn xổi ở thì không ai tưởng nhớ, giấy rách phải cố xếp giữ lấy lề.

Khối óc suy tư của đệ tam tài (nhân) thật đáng sợ. Từ một thân mình trần đầy xác thịt, ra đời lăn lộn lang thang kiếm ăn cùng các sinh vật khác, nay nghiễm nhiên vượt khí quyển trái đất du lịch một hành tinh khác. Rồi đây không biết còn làm được bao nhiêu việc khiến cho Thiên Địa phải nể mặt. Ta lại càng phải sợ cái đầu óc hàng muôn vạn năm xưa đã vẽ ra dịch lý âm dương áp dụng hàng triệu năm nay vẫn không sai lệch ra ngoài lập luận.

Sau đây xin trình một lá số gọi là giá trị đệ tam tài "Nhân" giám kình chống lại cái mà liệt danh bất khả xâm phạm: Thiên Địa.

Tuổi Tân Dậu ngày 10 tháng 4 giờ Tuất (Khổng Minh).

Mệnh và Thân đều bị xếp vào tam hợp Tuế Phá Tang Môn Điếu Khách tức là Thân cũng phải chịu luỵ với Mệnh ở hoàn cảnh trái ý muốn. Mệnh thấy cả một ông trời nhỏ đủ cả ba hột ngọc quý giá nhất của Tử Vi: Nhật Nguyệt, Tả Hữu, Thiên Mã.

Biết rằng Mộc Mệnh mà vô chính diệu thì không thể có một sát tinh nào hành Mộc để làm nòng cốt cho cứng rắn được, chỉ còn thế hư không được Nhật Nguyệt tam hợp chiếu lên là sáng giá bộ Tả Hữu, phụ thêm Thiên Mã ở Hợi vô cùng giá trị cho người mạng Mộc. Đây là một kiếp lai sinh kỳ nhân quái kiệt (Thai, Thanh Long) âm Nam được Thái Âm ở Hợi là một cách phù hợp đáng quý. Thiên Mã càng đẹp với tuổi Tân Dậu bao nhiêu lại càng thấy rõ tư cách phò suy chứ không phò thịnh của Mã (vị trí Tuế Tang Điếu) đứng với Tả Hữu càng nổi bật (nghị lực vạn năng).

Thân mới quan trọng, Thái Dương Thiếu Dương Quyền Phá Hư một văn nhân quyết đem trí óc cải số trời, kình chống hẳn với Cao xanh là Thái Tuế, nhưng lại không được vì vị trí Mão vẫn bị Dậu khắc chế mặc dầu Thái Tuế vị vương Địa Kiếp (thâm tâm ông hẳn nghĩ Trời đương bị rối bời, biết đâu là ông khiêu khích).

Với tất cả Mệnh Thân này của người Điếu Khách (quyết tâm quyết phục) Phá Hư (quật ngược) dầu khả năng như trên chỉ kém Thượng đế có chiếc ngai vàng, cũng không sao hài lòng đắc ý.

Ngẫm hay muôn sự tại Trời
Trời kia đã bắt làm người có Thân
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao

Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ Tài

Xin bái phục Nguyễn Du hẳn đã nhiều phen cay cú với lý học định mệnh. Tiên Điền tiên sinh khéo nhắc nhở người đời cái thế sơ khai của một là lòng nhân, là chữ Tâm có giá trị bằng 3 chữ Tài.

Chữ Tâm đã quý hơn chữ Tài như vậy — nhưng cụ thể mỗi người sinh vào năm nào thì gánh nặng nhân quả rơi đúng vào cung nào trên lá số?

Mỗi đời người mỗi nhân quả

Vòng Tràng Sinh đã kín đáo giảng giải đời người không phải là một đường thẳng đi từ sinh đến tuyệt là hết. Còn hai giai đoạn Thai và Dưỡng nối liền Tuyệt với Sinh thành một vòng kín quay vòng luân lưu vô hạn. Thời gian biến dịch hết thịnh phải suy, suy tàn lại kéo màn hưng thịnh. Kiếp nhân sinh do 2 vòng Thiên Can (Lộc Tồn) và Địa Chi (Thái Tuế) đúc nắn nhưng không thể không có bản ngã là mình gây nghiệp quả. Một chén cơm ngon không thể không có công bằng người nấu chín. Người vô học không thể cứ ngồi chơi rồi đương nhiên thành Bác Học.

Vòng Tràng Sinh do cục diện đời đương số phát xuất, từ kẻ thất phu đến bậc tuyệt luân cùng chung hưởng sự khác biệt tuỳ theo hành động của cá nhân.

Hai chữ Tài Thọ do Mệnh và Thân điều động là tất cả sự hoán cải bù trừ nhân quả. Lý đương nhiên Thân có làm ra Thọ (nhân hậu) thì định mệnh mới có đủ khả năng quyền biến (Thiên tài có nghĩa là năng lực tuyệt vời) tạo những gì tốt đẹp đền đáp. Đó là trường hợp Thái Tuế. Trái lại khi Không Kiếp hãm địa xuất phát chữ Thọ thì Tài kia cũng sẵn sàng đem lại kết quả hình thức tranh vẽ mà thôi, tuỳ theo cá tính thành tâm tín thực hay thủ đoạn gian manh.

Thế cuộc luân lưu bằng 12 địa chi từ Tí đến Hợi, người đời nhập thể ở khoảng thời gian nào thì thấy cái căn bản của mình phải mang nặng ngay ở phần việc nào như:

  • Sinh năm Tí thì chính bản thân mình là điều can hệ nhất (Tài ở Mệnh).
  • Sinh năm Sửu thì phải làm sao với đấng sinh thành (Tài ở Phụ).
  • Sinh năm Dần thì căn quả chịu ảnh hưởng nơi dòng họ (Tài ở Phúc).
  • Sinh năm Mão thì căn quả chịu ảnh hưởng nơi sự nghiệp (Tài ở Điền).
  • Sinh năm Thìn thì căn quả chịu ảnh hưởng với công việc làm (Tài ở Quan).
  • Sinh năm Tỵ thì căn quả chịu ảnh hưởng với người lui tới cửa sau (Tài ở Nô).
  • Sinh năm Ngọ thì căn quả chịu ảnh hưởng ngoại nhân (Tài ở Di).
  • Sinh năm Mùi thì căn quả chịu ảnh hưởng những hoạn nạn (Tài ở Ách).
  • Sinh năm Thân thì căn quả chịu ảnh hưởng tiền của thâu hoạch (Tài ở Tài).
  • Sinh năm Dậu thì căn quả chịu ảnh hưởng con cháu (Tài ở Tử).
  • Sinh năm Tuất thì căn quả chịu ảnh hưởng vợ chồng (Tài ở Phối).
  • Sinh năm Hợi thì căn quả chịu ảnh hưởng anh em (Tài ở Bào).

Chữ Thọ tuỳ theo Thân sống ở 6 nơi: Mệnh, Phúc, Quan, Di, Tài và Phối hướng mà đi. Người nào tuổi dương thì luôn luôn Thọ phải ở những cung được coi là cương cung, vì cùng thế dương hay âm với cung Mệnh, tức là 6 cung Mệnh, Phúc, Quan, Di, Tài và Phối. Còn người âm Thọ thường xuyên ở cung nhược, tức là cung khác biệt âm dương với cung mệnh, nghĩa là 6 cung: Phụ, Điền, Nô, Ách, Tử, Bào. Tất cả trên đây cho thấy luật âm dương rất thận trọng rành mạch phân minh.

Hai người cùng tuổi Mão, một Ất Mão sanh ngày 23 tháng 10 giờ Thân, một Tân Mão sanh ngày 14 tháng 10 giờ Hợi.

Biết rằng cả hai người đều nặng căn quả ở cung Điền (sự nghiệp gồm vật chất và tinh thần). Hai người cùng bị Không Kiếp nhập Mệnh và Thân. Sự khác biệt nhau là một người Mệnh Thân Thái Tuế, người kia Mệnh Thiếu Dương, Thân Thiếu Âm. Sự khác biệt này cho biết đâu là thành thực tín nghĩa của Thái Tuế. Không Kiếp chỉ hành hạ người không được đắc ý mà thôi. Còn người Thiếu Dương Không Kiếp được bồi đắp thêm Tả Hữu ở Phụ Mẫu nhị hợp dồn sang, diễn tả một kiếp nhân sinh sáng láng hơn người mà thủ đoạn cũng không chịu nhường ai cả (Tả Hữu Không Kiếp).

Người Thái Tuế mang chữ Thọ từ Quan đến Ách, đương nhiên là Ách sẽ chẳng đến nỗi nào đáng ngại. Người Thiếu Dương mang chữ Thọ từ Phối đến Phụ. Hỏi rằng có thực bụng tâm thành hay không? Hay chỉ là một thủ đoạn trá hình. Tất nhiên cung Điền của hai người do chữ Tài hoán cải khác biệt muôn vạn dặm đường.

Bánh xe Tràng sinh xoay chuyển đồng nhịp điệu với Tài Thọ luân lưu làm cho lý số học ngoài cái ưu điểm sở trường là thấu rõ tư thế cá nhân trong xã hội, còn bao gồm một triết lý cao sâu cho hết thảy mọi người phân biệt được đâu là đường đi quang minh êm đẹp, đâu là bước ngõ tối chông gai, tự mình nên sáng suốt mà rong ruổi.

12 cung số không thể coi cung nào là cường hay nhược. Mỗi cung đều có những quan hệ thiết thực với Mệnh trên khía cạnh riêng biệt, như Phụ Tử Điền Ách đâu có thể coi nhẹ đồng cân. Từ lúc mới ra đời phải có cha, khi về già có con, sự nghiệp tài sản với tai nạn đâu có phải là vấn đề bỏ qua ít ảnh hưởng đến cuộc sống bản thân.

Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư - Thiên Lương

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tính lý