Bài tổng quan
Sao vợ, sao chồng trong Tứ trụ và những dấu hiệu duyên lành
Mệnh nam lấy vượng làm phúc, mệnh nữ lấy nhu làm phúc; nữ cương nam nhu là âm dương sai lệch, ngược lẽ trời nên khó tránh hại. Chồng sang thì vợ cũng sang, chồng nghèo thì vợ cũng nghèo, đến mức xem số người nữ phải soi sao chồng trước mọi sao khác. Vậy bóng dáng người bạn đời nằm ở ngôi nào trong tám chữ...
Hôn nhân của một người tốt hay xấu đều bắt nguồn từ chuyện âm dương ngũ hành sinh khắc với nhau. Dù xem bằng Bát quái, Tứ trụ hay Kỳ môn độn giáp, dù đoán trời đoán đất hay đoán người, nguyên lý vẫn là sự biến hóa của âm dương, còn quy tắc là sinh, khắc, chế, hóa của ngũ hành. Có người chồng có lợi cho vợ, có người vợ có lợi cho chồng; ngược lại cũng có người chồng khắc vợ, vợ khắc chồng.
Nam nên vượng, nữ nên nhu: lẽ cương nhu trong hôn nhân
Lời xưa bàn về mệnh nam nữ có câu rất rõ:
Mệnh nam nên vượng, vượng thì phúc, suy thì tai hại. Mệnh nữ nên suy, suy thì phúc, vượng thì tai hại. Nhu là gốc là phúc, cương là hình phạt là tai hại.
Điều ấy hợp với đạo cương nhu của âm dương. Nếu nữ cương và vượng, nam nhu và suy thì gọi là âm dương sai lệch, ngược với quy luật, tất nhiên có hại.
Mệnh nữ theo chồng: chồng quý thì vợ cũng quý, chồng nghèo thì vợ cũng nghèo. Chồng phát tài thì vợ con giàu, chồng thăng quan thì vợ con vinh hiển, chồng rủi ro thì vợ con cũng khó sống qua ngày. Thực tế rất khớp. Cho nên xem số người nữ, việc đầu tiên là xem sao chồng ra sao để biết sang hay hèn; chồng là quý mệnh thì vợ cũng là quý mệnh, nếu không thì làm sao lấy được chồng cao sang.
Mệnh nam: tài là vợ, chi ngày là sao vợ
Người đàn ông đứng trước tám chữ của mình, điều đầu tiên nên hỏi là bóng dáng người vợ đang nằm ở đâu.
Với mệnh nam, tài tinh là vợ, chi ngày là sao vợ; trụ tháng là cung hôn nhân, trụ ngày là cung phối hôn. Tài tinh đóng ở ngày thì vợ nội trợ tốt, hoặc nhờ vợ mà phát tài. Chính tài hay thiên tài đóng ở ngày mà không bị khắc phá thì nhờ vợ mà được của. Can ngày vượng, chính tài và thiên tài cũng vượng thì người ấy giàu và nhiều vợ.
Chi ngày là tí, ngọ, mão, dậu thì vợ đẹp; là dần, thân, tị, hợi thì vợ đôn hậu; là thìn, tuất, sửu, mùi thì vợ bình thường. Ấn địa đóng ở ngày thì vợ rất đảm đang việc nhà. Ngày gặp lộc thần, giờ gặp quý thần thì vợ được kính trọng, ngưỡng mộ. Lộc của năm cùng quý thần đóng ở trụ ngày thì vợ được phong hiệu. Quý nhân và lộc đều có ở trụ giờ thì người con rể vinh hiển, làm rạng rỡ tổ tông.
Thiên tài đều vượng mà được ngôi thì vợ lẽ át vợ cả; chính tài vượng thì vợ cả không dung vợ lẽ. Tài mệnh có khí thì vợ cả, vợ lẽ hòa thuận, và mình được nhờ vợ. Mã nhập cung thê thì được người vợ đảm đang. Lộc nhập cung thê thì được ăn lộc của vợ. Ngày và giờ đều có lộc mã thì vợ hiền, con quý. Vận nam hợp với tài thì lấy vợ sớm; đại vận hay lưu niên tam hợp tài thì có tin mừng cưới hỏi. Nam gặp tài nhiều mà thân nhược thì chồng hay nghe lời vợ.
Hàm trì lâm nhật thì nhờ vợ mà giàu. Tài tàng trong chi thì thiên vị vợ lẽ. Sao vợ lộ rõ thì vợ chồng hỗ trợ nhau. Tài tinh được ngôi thì nhờ vợ mà giàu. Tài vượng, thân cường thì phú quý nhưng nhiều vợ. Tài làm dụng thần thì vợ hiền đẹp, nội trợ giỏi. Trong Tứ trụ có thiên tài thì yêu vợ lẽ hơn vợ cả. Tài vợ gặp vượng, trụ năm lại có quý nhân lộc mã thì vợ lấy được chồng chức cao. Có quý nhân lộc mã thì vợ hiền, nội trợ tốt. Tài lộ rõ mà thân vượng thì vợ đẹp. Nam gặp tài nhiều, thân yếu thì rời quê lấy vợ. Tài tinh với dụng thần không xung khắc nhau thì vợ đẹp.
Thực thần gặp ấn thì tiền tài ngày một nhiều. Thương quan bị chế khắc thì vợ là người có nghĩa khí. Thương quan trùm lên ấn thì trước là tì thiếp, sau thành vợ. Tỉ kiếp vượng mà có thực thương sinh tài thì gặp vợ hiền. Tài tinh đóng trường sinh, không bị xung khắc thì vợ thọ. Trụ ngày đóng chính quan thì vợ đoan trang, hiền dịu.
Mệnh nữ: chính quan hay thất sát là chồng
Người nữ đi theo ngọn đèn của chồng, nên bao giờ cũng phải soi sao chồng trước khi soi bất cứ sao nào.
Chính quan hoặc thất sát là chồng, chi ngày là sao chồng. Sao chồng đóng ở ngày làm dụng thần thì chồng đại quý, vợ chồng hòa thuận. Trụ ngày có quý nhân trạch mã thì lấy được chồng thông minh, hiền, đẹp. Tài đắc địa thì lợi chồng; thực thần đắc địa thì lợi con. Lợi chồng thì cả đời hưởng phúc; lợi con thì về sau mới hạnh phúc. Đạo chồng minh vượng, đạo con trường sinh thì có ích cho cả chồng lẫn con.
Mệnh nữ có một quan hay một sát lộ rõ là tốt; có cả quan lẫn sát là kém. Mệnh nữ không có sát mà chỉ có một quý thì vợ lấn át chồng. Quan gặp tài thì chồng vinh hoa nhưng khắc con. Mệnh nữ không có sát mà có thiên đức, nguyệt đức, tài quan đắc địa thì được hai nước phong sắc. Mệnh nữ lấy nhu làm phúc, cương làm hại, trong là kỳ diệu, đục là thấp hèn. Quan cùng đào hoa thì chắc chắn chồng tốt, làm trong triều đình. Tài nhập tài thì chồng sang nhưng khắc con. Thương quan không gặp quan thì người phụ nữ trinh tiết. Quan lộ rõ thì chồng vinh hoa, vàng bạc đầy nhà. Tài mệnh có khí thì sống với chồng đến già. Phú quý hay bần tiện của người nữ toàn dựa vào chồng con.
Nữ có phu tinh vượng thịnh thì con tuấn tú thông minh, chồng vinh hiển. Nữ phạm thương thì khắc hôn nhân, vận ngày gặp tài thì tốt. Chuyên lộc thực thần tất được phong hiệu. Ngôi chồng bị tạp khí thì rất cần người vợ tốt. Thương quan đoạt phu tinh, hoặc hóa sát, thì có lợi cho chồng về của cải. Cô loan nhập phu tinh thì nhiều con. Can chi dương mà vượng thì người nữ thay chồng trong kinh doanh. Tài vượng sinh quan, thực thần không bị thương thì chồng vinh hiển, con phú quý. Quan, thực, lộc vượng lại được ấn thụ giúp thì hậu vận mở rộng.
Ấn thụ không bị tài làm tổn thương, lại có thiên đức nguyệt đức trên trụ ngày thì người nữ hưởng của cha mẹ, chủ động tìm được chồng, sinh con hiển quý, phúc đức tăng dần, người đôn hậu, gặp điều xấu cũng dễ qua. Thiên quan có chế thì không dâm loạn, tuy lấn quyền chồng nhưng để xây dựng gia đình thịnh vượng. Mệnh nữ sinh vào tí, ngọ, mão, dậu thì lấy chồng cũng tí, ngọ, mão, dậu là tốt. Với nhà chồng, năm là bố chồng, thai là mẹ chồng, tháng là chị em dâu, ngày là chồng và mình, giờ là con cái.
Gặp vong kiếp, kình dương, hoặc thiên ấn gặp lộc mã thì sắc đẹp hơn người. Người có học hợp thì hiền đức, dung mạo đẹp đẽ. Nữ có quý nhân trạch mã phần nhiều sinh con hiền hiếu, thai sản dễ dàng. Tài vượng sinh quan là cách rất hiếm; người có cả tài lẫn quan thì vô cùng kỳ diệu: chồng vinh hiển, bản thân quý nhờ tài vượng, trinh khiết hiền lương, đủ năm phúc. Có tài lại hành vận tài thì nhà chồng giàu, con phú quý. Quan vượng, tài cũng vượng thì lấy được chồng hiền. Thất sát gặp trường sinh thì lấy chồng phú quý. Đủ tài, quan, ấn thụ thì lấy chồng thịnh vượng.
Thực thần thái quá mà không gặp phu tinh thì người vợ trinh khiết. Thiên đức, nguyệt đức gặp ấn thì làm vợ quan chức cao sang. Quan sát không lẫn lộn, lại có ấn phù thì chồng đăng khoa. Ấn vượng, quan yếu thì chồng tự tìm đến. Thương quan bị tổn nặng, hoặc không có quan mà có tài thì làm vợ lẽ. Sát gặp mộ thì lấy được chồng sang. Sát mạnh, quan yếu thì ly hôn rồi tái giá được chồng tốt. Tài tinh có khí lại gặp quan thì lợi chồng tột bậc. Quan mạnh, thương yếu thì giúp chồng gây dựng cơ đồ. Quan, sát vượng làm dụng thần thì chồng phú quý. Quan, sát yếu mà có tài sinh quan thì giúp chồng được nhiều. Quan, sát đóng trường sinh, không bị xung khắc thì chồng thọ. Người cô loan nhật phạm, chưa có con, gặp được quan tinh thì sinh một đứa con kỳ diệu. Bính hỏa bị chế ngự thì nhan sắc đẹp như ngọc; Giáp bị kim khắc thì đẹp như hoa.
Xem chung hai vợ chồng: mối tương sinh của bảy ngôi
Hai người ngồi chung một mái, chỉ cần nhìn nhau qua tám chữ cũng thấy ai nâng đỡ ai.
Nhật đóng ở đào hoa thì vợ chồng đều đẹp, phong lưu, tài nghệ. Thương quan bị thương tổn nặng mà có hợp thì lấy nhau chẳng cần lễ cưới. Thất sát bị chế, lại được tam tài thì cao sang tột bậc. Thực thần đơn độc thì cuộc sống yên hòa, có con, thọ. Trụ ngày tương sinh thì vợ chồng đằm thắm: can sinh chi thì chồng yêu vợ, chi sinh can thì vợ yêu chồng. Hợp quý hợp tài thì nhà đầy châu báu. Tỉ đứng trước tài thì nghèo trước giàu sau. Thiên đức, nguyệt đức không bị khắc làm nhiễu thì áo gấm mũ vàng. Trụ năm của vợ chồng tương sinh, hoặc thiên hợp địa hợp, thì bách niên giai lão. Thực thần sinh vượng mà muốn có con thì phải cầu tự. Nạp âm trên khắc dưới là có phúc, dưới khắc trên thì không nên.
Nhật đóng trường sinh thì lấy được người đẹp. Nhật nguyên Bính tí thì nam lấy vợ đẹp, nữ gặp chồng đẹp. Nhật nguyên Mậu ngọ thì nam được các cô thích, nữ được các chàng ưa. Nhật đóng tài kho thì giàu. Bảy ngôi trong Tứ trụ đều tương sinh thì vợ chồng bách niên giai lão. Tài vượng sinh quan thì vợ chồng quấn quýt, chồng xướng vợ tùy.
Sáu lá số vợ chồng được phúc
Một nữ mệnh: năm Giáp tuất, tháng Kỷ tị, ngày Canh tí, giờ Đinh hợi. Lá số có đủ tài, quan, ấn; người này là cán bộ nghiên cứu, chồng là cán bộ cao cấp, đúng câu tài quan ấn thụ ắt vượng chồng.
Một nam mệnh: năm Tân mão, tháng Kỷ hợi, ngày Tân mùi, giờ Kỷ sửu. Nhà người này vốn rất nghèo, về sau được điều đi công tác phía tây nam nên giàu lên và thăng chức. Ấy là nhật đóng tài kho, ắt giàu.
Một nam mệnh: năm Đinh sửu, tháng Nhâm tí, ngày Nhâm ngọ, giờ Canh tí. Người này nghèo xơ xác từ nhỏ, công tác lâu năm nhưng lương thấp, con đông nên vẫn nghèo. Mười năm sau khi đất nước cải cách mở cửa, người ấy trở nên giàu nhất vùng, nhà cửa đầy đủ. Đó là nhật đóng tài tinh, giàu lên nhờ vợ.
Một nữ mệnh: năm Bính tuất, tháng Tân sửu, ngày Đinh mùi, giờ dần. Chồng là cán bộ cao cấp dù bản thân chẳng phải con nhà nhàn hạ. Trong lá số có một sát lộ rõ, sát lại gặp mộ địa nên lấy chồng phú quý.
Một nam mệnh: năm Tân tị, tháng Bính thân, ngày Quý mão, giờ Giáp dần. Nhật đóng quý nhân, nên vợ hiền lại đẹp, có uy vọng.
Một nam mệnh: năm Đinh sửu, tháng Tân hợi, ngày Nhâm tuất, giờ Ất tị. Tháng 4 năm 1991, ở Xingapo, một thương gia Inđônêxia giàu có nhờ xem. Căn cứ câu thương quan trùm ấn thì vợ ban đầu là người giúp việc, sau thành vợ, người xem nói ông có hai vợ; người vợ thứ hai lúc đầu là người giúp việc, lại vừa trẻ vừa đẹp. Ông gật đầu lia lịa: không sai chút nào.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
