Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Dấu hiệu xuất gia, tám lá số tăng ni và nền móng tài lộc

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202615 phút đọc3 lượt đọc
Dấu hiệu xuất gia, tám lá số tăng ni và nền móng tài lộc

Một thầy tăng ở Cáp Nhĩ Tân đã tám mươi tuổi, tám chữ kim thủy dày đặc mà không thấy bóng dáng chữ tài nào. Người đi tu suốt đời và người đi rồi lại về khác nhau ngay trong giờ sinh tháng đẻ, và cũng từ tám chữ ấy người ta đọc ra ai giàu, giàu bằng đường nào, tài đến vào vận nào...


Trong cửa chùa, có người mới vào được ít năm đã xin hoàn tục, có người ở trọn đời rồi thành cao tăng, thành danh đạo, được người đời gọi là Phật sống. Chuyện đó không do ý chí nhất thời mà ra: trong Tứ trụ có những dấu hiệu rất rõ báo trước người nào đi tu bền, người nào đi rồi lại về. Cùng một tấm bản đồ ấy cũng chỉ ra chỗ nào của cải tụ, chỗ nào của cải tan.

Vì sao có người đi tu bền, có người rồi cũng hoàn tục

Phật giáo và Đạo giáo càng hưng vượng thì càng có nhiều người muốn xuất gia, nhưng không ít người đi không nổi. Có người tu được vài năm lại hoàn tục. Có người ở lại suốt đời, trở thành bậc cao tăng, danh đạo, thành lãnh tụ của một tôn giáo. Tất cả những điều ấy đều có tiêu chí trong Tứ trụ, không phải ai muốn đi là đi được, ai muốn về là về được.

Người luận số kể rằng những điều dưới đây vừa là kinh nghiệm của người xưa, vừa là những trường hợp ông đã tự kiểm nghiệm ngoài đời thực, đem ra để giúp các tôn giáo bồi dưỡng người tài.

Nền tảng của mệnh tu hành: khí thanh tịnh, người thân thưa thớt

Mệnh người đi tu thường có ngũ hành thiếu hẳn khí sinh, can ngày rơi vào đất tử, mộ. Trụ năm, trụ tháng gặp cô thần, quả tú, còn trụ ngày lại là nguyên thần. Trong Tứ trụ gặp nhiều không vong, lại thêm hoa cái. Vợ con đều ở thế suy tuyệt, bản thân thì vượng nhưng không có nơi nương tựa. Đó là những người trời đã thu hẹp sợi dây buộc họ với cuộc đời.

Về khí chất, hỏa thịnh thì thân tâm dễ vào thiền định, thủy nhiều thì tự tại phiêu diêu. Mệnh hợp quý cách mà lại ở thế tử tuyệt thì lòng vui với sự thanh tịnh. Mệnh không có quý khí mà sinh vượng thì tính thích nơi đền chùa. Phúc thần ở trụ tháng được trợ giúp thì người hiền lành, dễ gần cửa Phật. Kim và thủy cùng trong là người theo đạo; hỏa, thổ có đục thì cũng làm tăng ni.

Những tổ hợp báo hiệu xuất gia khó hoàn tục

Có những dấu hiệu cho thấy người ấy vào cửa đạo thì khó quay ra. Trụ ngày vừa bị hình xung vừa lẫn sát thì đi tu rồi khó hoàn tục. Hoa cái gặp tử, mộ là nhất định tu hành. Tài, lộc, quan tinh đều không có là người xuất gia. Trụ ngày vượng quá mà không có tài, quan thì theo tăng đạo. Quan lộc rơi vào không vong lại gặp quý nhân là nhà đi tu. Ngũ hành không có khí lại gặp cô, quả cũng là nhà tu hành. Không vong, hình, hại hội lại, thêm hưu tù, thì nhất định là người tu hành.

Thiên ấn, kiếp tài, kình dương hội nhau cũng là tượng người xuất gia. Mộc mùa xuân vượng mà thủy cạn, hay hỏa mùa hạ nóng mà kim suy, là người tu hành đắc đạo. Hoa cái gặp tuần không, nếu không phải nhà tu thì cũng là người theo đạo. Thương quan nhiều mà không có chỗ nương tựa thì là người tu hành, hoặc đi theo nghề nghệ thuật. Hoa cái gặp quan là người có liên quan đến nếp sống tu hành. Can ngày hợp, chi bị hình cũng là người đi theo nghiệp tu. Đức trùm lên thất sát là bậc kẻ sĩ tu hành. Sát vượng, thân nhược có thể là người đứng đầu tăng đạo.

Hoa cái ở trụ giờ lại gặp cô, quả là người thích tu để được yên tĩnh. Trong Tứ trụ không có tài là mệnh đi tu. Thương quan mà không có tài tinh cũng thế. Tam kỳ quý nhân không gặp quý địa mà lại rơi vào không vong là người như tiên khách chốn bồng lai, đi khắp bốn phương. Chi năm xung lộc là người xuất gia từ nhỏ. Trụ giờ là tuất hợi, nếu không đi tu thì cũng là tín đồ thuần thành. Cách cục thanh quý mà lại giàu là bậc thiện sư. Kiêu nhiều mà không có thực là người xuất gia tu hành. Ngày yếu, thực thần nhiều, lại gặp thương là người xuất gia niệm Phật. Thân vượng không có tài là người đã tu thì khó hoàn tục.

Mệnh nữ: dấu hiệu của ni cô

Với mệnh nữ, thực thần nhiều là người có tín ngưỡng niệm Phật. Quý nhân nhiều, hợp nhiều thì nhất định là ni cô. Thiên ất quý nhân nhiều là nhà tu hay ni cô. Quan tinh ở thế hưu tù cũng làm ni cô. Thân ở thế tuyệt, hưu, tù là người xuất gia theo đạo. Thủy nhiều mà tài tuyệt thì suốt đời đi tu. Mệnh nữ có quan, sát mà không bị chế ngự cũng là ni cô.

Tám lá số của người đi tu

Những dấu hiệu nghe có vẻ khô khan sẽ hiện hình khi đặt vào tám lá số thật dưới đây.

Lá số thứ nhất là của một thầy tăng ở Cáp Nhĩ Tân, năm nay đã tám mươi tuổi, đệ tử của pháp sư Hải Đăng: năm Mậu thân, tháng Giáp tý, ngày Quý hợi, giờ Tân dậu. Trong Tứ trụ có tượng thân vượng, không tài, nên đi tu khó hoàn tục.

Lá số thứ hai là của một ni cô ở Tây An: năm Giáp tý, tháng Đinh mão, ngày Mậu thân, giờ Tân dậu. Thương quan bị chế phục quá nặng, nên phải tu hành để giữ được sự an nhàn.

Lá số thứ ba là của một nhà tu ở Phúc Kiến: năm Bính dần, tháng Kỷ hợi, ngày Nhâm tuất, giờ Nhâm dần. Thủy nhiều, tài tuyệt, nhật nguyên không có chỗ nương tựa, vì thế phải xuất gia.

Lá số thứ tư là của một vị tu hành ở Tây An: năm Mậu dần, tháng Canh thân, ngày Canh thân, giờ Nhâm ngọ. Chi năm xung vào lộc, lại thêm kiêu đoạt thực, nên chắc chắn phải xuất gia đi tu.

Lá số thứ năm là của một tăng ni ở Tây An: năm Giáp tý, tháng Đinh mão, ngày Nhâm tý, giờ Kỷ dậu. Thân ở thế tuyệt, hưu, tù, quan tinh ở đất bệnh lại bị hợp, nên nhất định là người tu.

Lá số thứ sáu là của một thầy tăng ở Vô Hồ: năm Ất mùi, tháng Đinh hợi, ngày Quý mão, giờ Quý sửu. Thân vượng mà không có chỗ nương tựa, là mệnh xuất gia đi tu.

Lá số thứ bảy là của một người tu hành ở Nam Kinh: năm Giáp thìn, tháng Canh ngọ, ngày Giáp ngọ, giờ Canh ngọ. Hỏa mùa hạ nóng như thế được ví như vị tăng đội mũ vàng, thân lại ở thế tuyệt, hưu, tù, nên là người xuất gia niệm Phật.

Lá số thứ tám là của một đạo sư ở Hồ Bắc: năm Giáp ngọ, tháng Mậu thìn, ngày Bính ngọ, giờ mão. Mệnh không có tài, quan ở thế tù, nên nếu không hẳn tu hành thì cũng là tín đồ.

Tài vận: vì sao biết sớm lại quan trọng

Người đi tu buông hẳn chuyện của cải, còn người ở lại giữa đời thì bước nào cũng dính đến tiền: ai có tài, tài nằm ở đâu, khi nào nó đến, đều đã ghi trong tám chữ.

Tài là nguồn nuôi sống mệnh của con người, cũng là cơ sở kinh tế của một đất nước, là tiêu chí của dân giàu nước mạnh. Người không có của thì khó khăn, nhà nước không có của thì khó yên dân lạc nghiệp. Một người có của hay không, nhiều hay ít, bao giờ gặp vận có của, tìm của ở phương nào, nguồn của ra sao, lúc nào đi cầu tài hay đầu tư thì có lợi, tất cả những điều đó đều nằm trong giờ sinh tháng đẻ của mỗi người. Vì thế dù là doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân, nếu không nắm được thông tin về tài vận mà cứ mở cửa làm ăn một cách mù quáng thì khó tránh được hao tài tốn của.

Có xí nghiệp bề ngoài trông hưng vượng, vốn dày, tiền đồ sáng sủa, nhưng đến khi gặp bại vận thì tiền của đi dần, rồi một ngày tai vạ bất ngờ đổ xuống, tất yếu đóng cửa. Có người gia tư hàng ức vạn, nhưng khi rơi vào vận kiếp tài, bại tài thì thường vừa phát tài rất nhanh, rất lớn, rồi lại khuynh gia bại sản chóng vánh. Những ví dụ như thế xưa nay trong và ngoài nước đều có, nhất là trong xã hội buôn bán hiện đại, nơi mọi sự đổi thay rất nhanh. Cũng có người thấy người khác buôn bán nên nỗi, mình cũng muốn đi buôn, mà không biết vận tài của mình đã qua nên không thể phát được nữa.

Người xưa có câu: có của không bằng sắp phát tài, sắp phát tài không bằng biết giữ của. Muốn biết thông tin về tài vận thì phải hướng đến điều may, tránh xa điều bất lợi, phải dự đoán rồi mới hành động. Làm như vậy mới gọi là tự mình nắm vững vận mệnh của mình. Một người là thế, các xí nghiệp lại càng phải như thế.

Tài ẩn hay tài lộ, tài có kho hay không

Trong Tứ trụ có tài thì cái ăn, cái mặc không thiếu. Tài nên ẩn: ẩn thì phong phú, hùng hậu. Tài có kho thì khi phát còn giữ lại được. Tài lộ rõ là người hào phóng, khẳng khái. Tài còn là sao vợ, có tài thì có vợ, không có thì đường vợ con trắc trở. Tài cũng là nguyên thần của quan tinh: không có của thì khó mà quyền quý.

Thân vượng, tài vượng là phúc, nếu thêm quan tinh thì càng tuyệt diệu. Tài nhiều, thân nhược thì cần có ấn thụ đỡ thân. Thân vượng, tài nhiều là tiền của vừa ý. Mệnh nam có đủ thìn, tuất, sửu, mùi là bậc phú quý. Trong trụ tài nhiều, thân vượng thì cả đời phú quý. Trụ giờ có thiên tài, các cung khác đừng có thì mới quý. Chi tị đóng ở ngày Quý là tài quan trọn vẹn. Trong trụ tài, quan có kho là châu báu đầy nhà. Thiên tài nhập tạp khí thì phát tài rất lớn. Tài gặp trường sinh là ruộng vườn muôn mẫu. Gặp đất hợp tài thì cơ nghiệp bền vững.

Quan nhập mộ, tài nhập mộ thì sau khi xung khai sẽ phát tài. Tài tinh nhập mộ mà được xung phá thì tiền của đầy kho. Tứ trụ thuần tài, thân vượng thì vừa sang vừa giàu. Lệnh tháng kiến lộc, vận lại gặp tài quan thì tự nhiên giàu lên. Trụ giờ gặp lộc mà không có trạch mã thì chỉ giàu chứ không sang. Tài làm dụng thần là người giàu có. Thân vượng mà tài nhược thì phải nhờ thực, thương sinh tài mới giàu.

Trụ giờ có mã tinh mà không bị xung phá thì lấy được vợ đẹp, của từ bên ngoài đến, sinh con vinh hiển, tài sản hùng hậu. Đó không phải của cha mẹ để lại mà là của từ ngoài đưa tới, nên cần kiệm, không nên tiêu phí. Tài tinh ở ngôi chính nắm quyền, trụ ngày mạnh là người danh lợi song toàn; nếu gặp được ấn thụ thì được nâng đỡ mạnh mẽ, châu báu đầy nhà, phúc bền lâu.

Thân phải gánh nổi tài, ấn thụ đỡ lưng

Tài nhiều lại nhờ ấn thụ hộ thân là người có vợ hiền, con đẹp, cuối đời hạnh phúc. Tài kho ở đất vượng thì cả đời của cải hùng hậu. Thân nhược, tài nhiều, khi đi đến vận tỷ kiếp mới phát tài. Người tuổi Mậu lấy thủy làm tài, thân, tý, thìn đóng vào kho, khi mệnh vào quý cách mới giàu, không gặp cách thì giàu sang chỉ vừa phải.

Có tài mà gặp sát: người tuổi dần, ngọ, tuất gặp Tân sửu; người tị, dậu, sửu gặp Ất mùi; người thân, tý, thìn gặp Bính tuất; người hợi, mão, mùi gặp Mậu thìn thì gọi là thê tài tụ hội. Người ấy giàu, nhưng phải đề phòng vợ làm hại.

Ấn thụ thông suốt, gặp tài thì phát, gặp quan thì vinh hiển. Tài, quan làm mộ kho mà không xung thì không phát. Tài kho gặp tam hợp thì chắc chắn phát tài mạnh. Thìn, tuất, sửu, mùi gặp hình xung thì không ai không giàu. Thân vượng có thể thành gia lập nghiệp; thân suy không thắng nổi tài thì vất vả. Tứ trụ đủ tài, quan, ấn thì không sang cũng giàu. Tài ẩn trong quan kho là điều quý hiếm. Có tài, quan cùng ấn thụ thì vàng bạc nhiều. Quan ở thế hưu tù mà ấn vượng thì được nhiều tiền của.

Thương quan, thực thần sinh tài và những cái giàu khác nhau

Thương quan hết thương thì có thể sinh ra tài, tài vượng thì sinh quan. Thương quan gặp kiếp thì gặp của. Thương quan sinh tài thì tự nhiên giàu có. Thiên tài là lộc trời, là của không lao động mà có, là phúc sẵn có. Thực thần gặp tài, nhưng tài nhiều thì không sang mà chỉ là trọc phú. Thực thần có cát thần phù giúp thì giàu có tiếng. Tài, quan tự vượng là mệnh phú ông.

Can ngày, can tháng, chi ngày, chi giờ cùng xung tài ở cung đối diện thì phát tài. Tài kho không bị thương tổn thì của cải nhiều. Thương quan ở ngày, giờ bị tổn thương hết thì sẽ phát tài một cách bất nghĩa. Tài đóng ở trụ ngày là tài ở đất vượng, vừa được vợ vừa được của; nếu không ở đất tử, mộ thì được của bên nhà vợ. Tài tinh chỉ một ngôi mà được thời là nhà phú quý, người tính nóng; hai ngôi thì tính nóng giảm một nửa; ba, bốn ngôi thì hao thân suy bại.

Trụ ngày, trụ giờ cùng gặp thiên đức, nguyệt đức mà có thêm tài quan thì là nhà phú hào. Bản thân khắc trạch mã thì phát của ở nước ngoài. Thân nhược, tài nhiều lại gặp tỷ kiếp làm dụng thần thì tiền bạc đầy lưng. Tài, quan đều có và lộ rõ thì rất vinh hiển. Thiên tài gặp quan kiêm thực thần thì chắc chắn vinh hoa. Tài nhiều lại lộ rõ thì thành bại thất thường. Tài nhiều gặp tỷ kiếp trợ giúp là nhà giàu thịnh vượng. Tài gặp đất phùng sinh thì tiền của muôn kho.

Chính tài là của ít, thiên tài là của nhiều; thiên tài làm dụng thần thì phú quý. Thân mạnh, tài vượng thì lợi cho thanh danh, trước tài sau ấn thì chuyển thành người có phúc. Kiêu thần mừng nhất gặp tài tinh: thân vượng gặp được là phát phúc, thân nhược gặp phải là tai họa. Nhâm, Quý gặp cục thân, tý, thìn thì phúc nhiều, tài nhiều. Thực thần gặp ấn thì tiền của ngày một nhiều. Thất sát có quan chế ngự là bậc đại phú quý. Trụ tháng gặp ấn thụ là người giàu sang vinh hiển. Trụ ngày vượng, tài yếu thì lấy thực thương xì hơi cho ngày mà sinh tài. Mệnh nữ có tài quan tàng kho mà bị hình xung phá mất thì không giàu được. Tài ở địa chi phục ám sinh thì nhờ đó dần dần giàu có.

Gặp vận nào thì tài phát

Tài đóng ở nhật nguyên, đi đến vận tài thì phát. Trong trụ vốn có tài tinh thì nên đi vào quan vận; vốn có quan tinh thì nên đi vào tài vận: đi tài vận thì sinh quan, đi quan vận thì phát tài. Trụ ngày xung kình dương lại gặp thất sát, đến vận tài sẽ giàu có. Tài, quan đều vượng, đi đến tài vận thì giàu. Trước tỷ, sau tài là trước nghèo sau giàu. Trụ giờ gặp tài kho, đi vào tài vận thì cuối đời phát giàu. Trụ năm, tháng có đủ quan, ấn, tài là tổ tiên phú quý ba đời.

Quan tinh là lộc, tài tinh là mã, đi đến tài vận sẽ phát tài. Thương quan dụng tài, gặp tài vận thì giàu. Tài, quan yếu mà trụ ngày vượng thì nên đi vận tài quan là tốt nhất. Tài mừng gặp sát, mười người thì chín người phú quý. Ấn nhiều, đi đến tài vận thì phát phúc. Năm, tháng, giờ đều sinh trợ cho ngày thì là ấn thụ sinh của, đi đến vận quan ấn thì giàu. Ấn sợ gặp tài, nhưng trong trụ có tỷ kiếp gặp tài thì lại tốt.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc