Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bói Dịch

Bài tổng quan

Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế: chưa xong nhưng vẫn còn hi vọng

Bói Dịch27/09/20266 phút đọc1 lượt đọc
Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế: chưa xong nhưng vẫn còn hi vọng

Lửa ở trên, nước ở dưới, không giao nhau được — đó là hình ảnh quẻ cuối cùng trong Kinh Dịch, quẻ Vị Tế: chưa xong, chưa qua sông. Nhưng chưa xong không phải là không xong, con chồn ướt đuôi vẫn còn cơ hội thử lại, và Nguyễn Hiến Lê nhắc một câu: đạo Dịch không bao giờ hết, cho ta niềm hi vọng ở tương lai…

Mục lục · 1 phần

Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế

Trên là Li (lửa), dưới là Khảm (nước).

Kí tế là qua sông rồi, xong rồi, cùng rồi, nhưng theo luật thiên nhiên, không có lẽ nào hết hẳn được, hết mùa này đến mùa khác, hết thời này đến thời khác, hết lớp này đến lớp khác, sinh sinh hóa hóa hoài, cứ biến dịch vô cùng, cho nên tuy xong rồi nhưng vẫn là chưa hết, chưa cùng; do đó sau quẻ Kí tế tới quẻ Vị tế: chưa qua sông, chưa xong, chưa hết.

Thoán Từ

未濟:亨。小狐汔濟,濡其尾,无攸利。
Vị tế: hanh. Tiểu hồ ngật tế, nhu kì vĩ, vô du lợi.

Dịch: Chưa xong, chưa cùng: được hanh thông. Con chồn nhỏ sửa soạn vượt qua sông mà đã ướt cái đuôi, không qua được, không có gì lợi cả.

Giảng: Quẻ này trái hẳn quẻ trên: lửa ở trên nước, nước và lửa không giao nhau, không giúp được nhau; cả 6 hào đều ở trái ngôi cả: dương ở vị âm, mà âm ở vị dương, cho nên gọi là Vị tế: chưa xong.

Vị tế chứ không phải là bất tế, chưa qua sông được chứ không phải là không qua được, sẽ có thời qua được, lúc đó sẽ hanh thông. Thời đó là thời của hào 5, có đức nhu trung, biết thận trọng mà ở giữa quẻ Li (thời văn minh). Vả lại tuy 6 hào đều trái ngôi, nhưng ứng viện nhau cương nhu giúp nhau mà nên việc: thêm một lẽ hanh thông nữa.

Thoán từ khuyên đừng nên như con chồn con, nóng nảy hấp tấp, mới sửa soạn qua sông mà đã làm ướt cái đuôi, không qua được nữa, không làm được việc gì lợi cả, không tiếp tục được đến cùng.

Đại Tượng truyện khuyên phải xem xét kĩ càng mà đặt người, vật vào chỗ thích đáng, thì mới nên việc, đừng đặt lửa ở trên nước chẳng hạn như quẻ này.

Hào Từ

Hào 1

初六:濡其尾,吝。
Sơ lục: Nhu kì vĩ, lận.

Dịch: Hào 1, âm: để ướt cái đuôi, đáng ân hận.

Giảng: Âm nhu, tài kém, ở vào đầu thời Vị tế, mà lại bước chân vào chỗ hiểm (khảm), như con chồn sắp sửa qua sông mà đã làm ướt cái đuôi, không biết tính trước, phải ân hận.

Hào 2

九二:曳其輪,貞吉。
Cửu nhị: Duệ kì luân, trinh, cát.

Dịch: Hào 2, dương: Kéo lết bánh xe, giữ đạo trung chính thì tốt.

Giảng: Dương cương là có tài, ở vị âm là bất chính, thấy hào 5 ở ngôi tôn, ứng với mình mà âm nhu, có ý muốn lấn lướt 5, như vậy sẽ hỏng việc, cho nên hào từ khuyên nên giảm tính cương của mình đi (như kéo lết bánh xe, hãm bớt lại) và giữ đạo trung của mình (hào 2 đắc trung) thì tốt, vì hễ trung thì có thể chính được.

Hào 3

六三:未濟,征凶,利涉大川。
Lục tam: Vị tế, chinh hung, lợi thiệp đại xuyên.

Dịch: Hào 3, âm: Chưa thành đâu, nếu cứ tiến hành thì bị họa; vượt qua sông lớn thì lợi.

Giảng: Âm nhu, vô tài, lại bất trung, bất chính, không làm nên việc đâu, nếu cứ tiến hành thì xấu. Nhưng đã cảnh cáo: tiến hành thì xấu mà sao lại bảo qua sông lớn thì lợi? Mâu thuẫn chăng? Vì vậy mà có người ngờ trước chữ lợi, thiếu chữ bất vượt qua sông lớn thì không lợi, mới phải.

Có thể giảng như vầy: xét về tài đức của 3 thì không nên tiến hành, nhưng xét về thời của 3: Ở cuối quẻ Khảm, là sắp có cơ thoát hiểm, hơn nữa trên có hào 6 dương cương giúp cho, thì sắp có cơ hội vượt qua sông lớn được. Lúc đó sẽ có lợi.

Hào 4

九四:貞吉悔亡。震用伐鬼方,三年,有賞于大國。
Cửu tứ: Trinh, cát, hối vong. Chấn dụng phạt Qui Phương, tam niên, hữu thưởng vu đại quốc.

Dịch: Hào 4, dương: Giữ đạo chính thì tốt, hối hận mất đi. Phấn phát (Chấn) tinh thần, cổ vũ dũng khí mà đánh nước Qui Phương, lâu ba năm, nhưng rồi được nước lớn thưởng cho.

Giảng: Có tài dương cương, mà ở vào thời thoát khỏi hiểm (nội quái Khảm), tiến lên cõi sáng của văn minh (ngoại quái Li), trên có hào 5, âm, là ông vua tin cậy mình, thì đáng lẽ tốt. Chỉ vì hào 4 này bất chính (dương ở vị âm) nên khuyên phải giữ đạo chính. Lại khuyên phải phấn phát tinh thần và kiên nhẫn mới làm được việc lớn cho xã hội, như việc đánh nước Qui Phương thời vua Cao Tôn (coi hào 3, quẻ Kí tế), ba năm mới thành công.

Hào 5

六五:貞,吉,无悔。君子之光有孚,吉。
Lục ngũ: Trinh, cát, vô hối. Quân tử chi quang hữu phu, cát.

Dịch: Hào 5, âm: Có đức trung chính, tốt, không có lỗi. Đức văn minh của người quân tử do chí thành mà rực rỡ, tốt.

Giảng: Hào này âm ở vị dương là bất chính, nhưng vì âm nhu, đắc trung (trung còn tốt hơn chính) ở vào giữa ngoại quái Li, là có đức văn minh rực rỡ, lại ứng với hào 2 đắc trung, dương cương ở dưới, nên hai lần được khen là tốt: lần đầu vì có đức trung, văn minh; lần sau vì có lòng chí thành, hết lòng tin ở hào 2.

Hào 6

上九:有孚于飲酒,无咎。濡其首,有孚失是。
Thượng cửu: Hữu phu vu ẩm tửu, vô cữu. Nhu kì thủ, hữu phu thất thị.

Dịch: Hào trên cùng, dương: Tin tưởng chờ đợi như thong thả uống rượu chơi thì không lỗi; nếu quá tự tín mà chìm đắm trong rượu chè (ướt cái đầu) thì là bậy.

Giảng: Dương cương ở trên cùng quẻ là cương tới cùng cực, cũng ở cuối ngoại quái Li là sáng đến cùng cực, đều là quá cả. Sắp hết thời Vị tế rồi, mà hào 4 và 5 đã làm được nhiều việc rồi, hào 6 này chỉ nên tự tín, lạc thiên an mệnh, vui thì uống rượu chơi mà chờ thời, như vậy không có lỗi. Nếu quá tự tín đến mức chìm đắm trong rượu chè (như con chồn ướt cái đầu), không biết tiết độ thì mất cái nghĩa, hóa bậy.

Kinh Dịch bắt đầu bằng hai quẻ Càn, Khôn, gốc của vạn vật; ở giữa là hai quẻ Hàm và Hằng, đạo vợ chồng, gốc của xã hội, tận cùng bằng hai quẻ Kí tế và Vị tế đã xong rồi lại chưa xong, như vậy là hàm cái nghĩa việc trời đất cũng như việc của loài người, không bao giờ xong, cái gì tới chung rồi lại tiếp ngay tới thủy. Mà đạo Dịch cũng vậy không bao giờ hết. Dịch cho ta niềm hi vọng ở tương lai. Thật là một triết lí lạc quan.

Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Phần II - Kinh Hạ, quẻ 64.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bói Dịch