Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bói Dịch

Bài tổng quan

Dịch là bất dịch: luật mãn chiêu tổn, phản phục

Bói Dịch26/09/20269 phút đọc4 lượt đọc
Dịch là bất dịch: luật mãn chiêu tổn, phản phục

Quẻ Ích vốn tốt nhưng hào cuối lại xấu; quẻ Tổn vốn xấu nhưng hào cuối lại tốt - Nguyễn Hiến Lê chỉ ra nghịch lý ấy không phải ngẫu nhiên, mà nằm trong một luật duy nhất chi phối cả vũ trụ: đầy rồi sẽ vơi, vơi rồi sẽ đầy. Từ quẻ Càn thịnh cực đến quẻ Khôn suy tận, rồi lại từ quẻ Khôn quay về quẻ Càn, tất cả chỉ là một vòng quay không dứt mà người xưa gọi là phản phục. Vòng quay ấy, hóa ra, còn xưa hơn cả chính Kinh Dịch...

Mục lục · 1 phần

Dịch là bất dịch

Luật mãn chiêu tổn, khiêm thụ ích

Sự biến hóa trong vũ trụ diễn tiến theo một qui luật bất di bất dịch. Qui luật đó, Trung Hoa gọi là thường.

Triết gia đầu tiên dùng chữ thường theo nghĩa đó có lẽ là Lão Tử. Đầu Đạo Đức Kinh ông bảo: "Đạo khả đạo phi thường đạo": Cái Đạo mà có thể diễn tả được thì không phải là Đạo vĩnh cửu bất biến.

Ông lại nói: "Biết rõ qui luật 'thường' là sáng suốt; không biết qui luật 'thường' mà làm bừa làm bậy thì gặp điều không lành" (Chương 16).

Hệ Từ Thượng truyện (Chương 1) cũng nói đến qui luật "thường": "Động tĩnh hữu thường" và quan niệm rằng: Thiên hạ rất động nhưng vì có qui luật thường nên động đấy mà không thể rối loạn được (Hệ Từ thượng - Ch.8), và chính là theo qui luật thường đó mà vũ trụ vạn vật chuyển động biến hóa (Hệ từ hạ - Ch.1).

Qui luật thường đó là gì? Là âm dương thay lẫn nhau, cứ một cái tiến thì một cái lùi, một cái lùi thì một cái tiến. Biến hóa chỉ là sự tiến lui của âm dương thôi.

"Biến hóa là hình tượng của sự tiến thoái; cương (tức dương) nhu (tức âm) là hình tượng của ngày đêm, nghĩa là của sự thay phiên nhau" (Hệ từ thượng - Chương 2).

Hệ từ hạ Chương 1 cũng diễn ý đó: "Cát và hung luôn luôn thắng lẫn nhau theo một luật nhất định". Việc đời không cát thời hung, hết cát lại hung, hết hung lại cát. Cát hung đó nên hiểu là dương và âm, là trời và đất, là mặt trời mặt trăng, là ngày đêm v.v... cho nên tiếp theo câu trên là câu: "Đạo trời đất chỉ bảo cho ta luật đó, đạo mặt trời mặt trăng sáng tỏ theo luật đó."

Coi lại quẻ của 12 tháng ở trên ta thấy từ quẻ Cấu hào âm lần lần thay thế hào dương, âm tiến tới đâu dương lui tới đó, cuối cùng cả 6 hào dương nhường chỗ cho 6 hào âm, thành quẻ Khôn; rồi lại tới phiên hào dương lần lần thay thế hào âm, dương tiến tới đâu, âm lui tới đó, cuối cùng cả 6 hào âm nhường chỗ cho 6 hào dương mà thành quẻ Càn. Nhờ vậy mới biến hóa vô cùng được; nếu không thì sẽ chỉ có "cô dương" hay "độc âm" mà không có năm tháng, không có bốn mùa, không có vũ trụ.

Dương thịnh cực thì suy lần, để cho âm thịnh lên; khi âm thịnh cực thì cũng suy lần để cho dương thịnh lên. Khắp vũ trụ, không đâu và không thời nào không có luật đó. Từ sự vận hành của mặt trời mặt trăng, sự qua lại của bốn mùa, sự lên xuống của thủy triều, sự thịnh suy của một dân tộc, một quốc gia, một họ, sức lực, trí tuệ của cá nhân v.v... không cái gì không theo luật thịnh suy: "mãn chiêu tổn, khiêm thụ ích" (đầy thì sẽ vơi, thiếu thì sẽ được thêm).

Hào 3 quẻ Tốn bảo: "Ba người cùng đi thì bớt đi một người, một người đi (một mình) thì được thêm bạn" là nghĩa đó.

Cho nên quẻ Ích (Tăng lên) vốn là tốt mà hào cuối lại xấu: tràn thì cuối cùng phải đổ; mà quẻ Tổn (Giảm đi) vốn xấu mà cuối cùng lại tốt: vơi thì được thêm. Xấu như quẻ Cổ (Đổ nát) mà Thoán Từ khen là tốt chỉ vì đổ nát thì phải làm lại, canh tân; mà canh tân là điều rất tốt. Không có gì suy cực mà không thịnh lên, tới lúc cùng mà không bắt đầu trở lại.

Quẻ Khốn (Khốn đốn) là thời khó khăn đến cực điểm, năm hào dưới đều xấu, mà hào trên cùng, hào Từ cho là sẽ tốt nếu biết thận trọng, ăn năn.

Vậy thì trong họa vẫn nấp phúc, như quẻ Khuê (Chia lìa) hào 6; mà trong phúc vẫn nấp họa như quẻ Phong (Thịnh lớn) hào 6; hoặc như quẻ Dự (Vui) vốn tốt mà chỉ có hai hào (2 và 4) là tốt, còn 4 hào kia đều xấu nhiều hay ít cả.

Câu "Họa hề phúc chi sở ỷ, phúc hề họa chi sở phục" (Họa là chỗ dựa của phúc, phúc là chỗ núp của họa), và câu "sinh ư ưu hoạn, nhi tử ư an lạc" của Mạnh Tử đều diễn cái luật thịnh suy đó cả.

Tác giả Tự Quái truyện đã có ý muốn ta chú ý tới luật đó nên sau mỗi quẻ thường đặt một quẻ ý nghĩa ngược lại, như sau quẻ Thái tới quẻ Bĩ, sau quẻ Bác tới quẻ Phục, sau quẻ Tổn tới quẻ Ích, sau quẻ Kí Tế tới quẻ Vị Tế v.v...

Luật phản phục, tuần hoàn

Âm dương thay thế nhau được do một luật bất biến, một luật "thường" là thịnh cực tắc suy, vật cùng tắc biến, mà biến là phản phục.

Quẻ Càn (dương) khi suy tới cùng, 6 hào dương bị hào âm chiếm ngôi hết thì thành quẻ Khôn; nhưng tiếp theo quẻ Khôn là quẻ Phục, một hào dương lại sinh. Khôn là âm thịnh cực, từ đó lại suy lần, khi suy tới cùng, 6 hào âm bị 6 hào dương chiếm ngôi hết thì lại trở thành quẻ Càn, rồi tiếp theo quẻ Càn là quẻ Cấu, một hào âm lại sinh.

Luật phản phục là luật diễn biến trong vũ trụ mà dân tộc Trung Hoa đã nhận thấy từ khi chưa có Kinh Dịch. Xem sự vận hành của mặt trời mặt trăng, của bốn mùa v.v... họ thấy sự vật diễn biến theo một phương hướng nào đó, khi tới mức cùng tột không thể tiến triển được nữa thì chuyển biến mà quay trở lại theo chiều nghịch với phương hướng cũ, cứ như thế mãi, không bao giờ thôi. Từ cực thịnh qua suy vi tới diệt vong - như từ quẻ Càn tới quẻ Cấu, quẻ Độn, quẻ Bĩ... tới quẻ Khôn - gọi là phản. Từ diệt vong lại phát sinh để tiến triển đến chỗ cực thịnh - như từ quẻ Khôn tới quẻ Phục, quẻ Lâm, quẻ Thái... tới quẻ Càn - gọi là phục. Sự phản phục đó là phản phục của khí dương. Sự phản phục của khí âm ngược lại: thời phản của dương là thời phục của âm, thời phục của dương là thời phản của âm. Cứ một lần phản, một lần phục, phục rồi lại phản, như vậy thành luật tuần hoàn.

Tôi sở dĩ đoán rằng quan niệm phản phục xuất hiện trước khi có Kinh Dịch, vì Kinh Dịch là sách đầu tiên nói tới luật đó.

Hào Từ quẻ Thái nói: "Không có gì bằng mãi mà không nghiêng, đi mãi mà không trở lại" (Hào 3).

Thoán Từ quẻ Phục nói rõ hơn: "Đạo (Vận) trời tráo đi trở lại, cứ bảy ngày thì trở lại".

Chữ ngày (nhật) ở đây thay cho chữ hào, mỗi ngày là một hào, một lần biến; cứ bảy ngày thì trở lại, vì từ quẻ Cấu một hào âm sinh ở dưới cùng, tới quẻ Độn, quẻ Bĩ, quẻ Quán, quẻ Bác, quẻ Khôn, quẻ Phục, như vậy là bảy quẻ (tính cả quẻ Cấu theo lối Trung Hoa). Có lẽ do câu đó mà Y học Trung Hoa cho rằng khí huyết người ta bảy ngày thì thay đổi.

Về khí tiết trong một năm thì là bảy tháng, từ tháng năm (quẻ Cấu) tới tháng mười một (quẻ Phục).

Sau, Dịch Kinh (Thoán Từ của Văn Vương, Hào Từ của Chu Công) sách nói nhiều nhất đến phản phục là Đạo Đức Kinh của Lão Tử: "Vật cực tắc phản" - Ch.36; "Phản giả đạo chi động" - Ch.40 - nhất là:

"Phù vật vân vân, các qui kì căn": Vạn vật phồn thịnh đều trở về căn nguyên của chúng (Ch.16); và "Đại viết thệ, thệ viết viễn, viễn viết phản": Đạo lớn là đi, đi là đi xa, đi xa là quay trở lại (Ch.25).

Sau Đạo Đức kinh là Dịch truyện:

- Quẻ Thái: "Vô vãng bất phục": Không có cái gì đi mà không trở lại.

- Quẻ Cổ: "Chung tắc hữu thủy, thiên hành dã": Hết rồi thì bắt đầu lại, đó là sự vận hành của trời.

- Quẻ Phong: "Nhật trung tắc trắc, nguyệt doanh tắc thực": Mặt trời tới đỉnh đầu rồi thì xế, mặt trăng đầy rồi thì khuyết.

Nhờ luật phản phục đó mà sự vật trong vũ trụ không bị tắc, bị cùng, mới thông được, mới sinh sinh hóa hóa hoài được; vì vậy "xét quẻ (hay đạo) Phục (trở lại) mà biết được lòng hiếu sinh của trời đất" (Quẻ Phục - Thoán truyện).

Tác giả Tự Quái truyện cũng muốn làm nổi bật cái luật "vật cực tắc phản" khi viết:

"Quẻ Lí thì an thích (hay thông thuận) mà sau được yên ổn, cho nên sau quẻ Lí tiếp tới quẻ Thái; Thái là thông, vật không thể thông thuận hoài, cho nên tiếp theo là quẻ Bĩ, vật không thể bĩ hoài, cho nên tiếp theo là quẻ Đồng nhân..."

Và để diễn cái ý vũ trụ biến dịch vô cùng, không lúc nào hết, không lúc nào cùng, sau quẻ Kí Tế (việc đã xong rồi) tiếp ngay quẻ Vị Tế (chưa xong), như vậy đúng với câu "chung tắc hữu thủy" trong Thoán truyện quẻ Cổ.

Tóm lại luật âm dương (vũ trụ) lúc nào cũng động, mà động sinh ra biến, biến tới cùng thì quay trở lại (phản phục) để cho được thông, có thông thì mới vĩnh cửu, tồn tại hoài được. Luật "Dịch cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu" (Hệ từ hạ 2), Luật tuần hoàn đó là một luật "thường", bất dịch khiến cho Dịch có ý nghĩa thứ ba là bất dịch, sau hai ý nghĩa giao dịch, biến dịch.

Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Chương V.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bói Dịch