Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tình duyên

Bài tổng quan

Tra năm sinh và chọn vợ chồng theo can, chi, ngũ hành

Tử Vi Nam Phái - Tình duyên30/09/202612 phút đọc7 lượt đọc
Tra năm sinh và chọn vợ chồng theo can, chi, ngũ hành

Một người sinh năm 1940 mà không biết mình tuổi gì, chỉ cần lấy năm ấy chia cho sáu mươi rồi nhìn phần dư. Nhưng biết tuổi mình mới là bước đầu: còn phải xem người kia mang can nào, hành gì. Vậy con số dư ấy dẫn đi đâu?


Tra năm dương lịch ra can chi bằng phép chia sáu mươi

Sách lập một bảng để người muốn biết năm dương lịch của mình ứng với năm âm lịch nào có thể tự tra. Cơ sở của bảng là mười thiên can Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý ghép với mười hai địa chi Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi thành các năm Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần và cứ thế cho đến Quý Hợi, rồi lại trở về Giáp Tý. Sáu mươi năm thì quay lại một lần, nên lấy số sáu mươi làm chuẩn.

Cách làm: lấy năm sinh chia cho sáu mươi, chỉ chia chẵn, không chia lẻ. Con số còn dư sau phép chia là số dùng để dò bảng; số dư đứng ở hàng can nào, cột chi nào thì ghép can với chi ấy ra năm âm lịch. Sách đưa ba ví dụ. Người sinh năm 1940: chia cho sáu mươi được ba mươi hai, dư hai mươi, dò bảng ra hàng Canh cột Thìn, tức Canh Thìn. Người sinh năm 1926: dư sáu, dò ra Bính Dần. Con sinh năm 1974: dư năm mươi bốn, dò ra hàng Giáp cột Dần, tức Giáp Dần. Sách khẳng định làm như vậy là đúng trăm phần trăm.

CanTýSửuDầnMẹoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợi
Giáp4–54–44–34–24–14–
Ất–5–55–45–35–25–15
Bính16–6–56–46–36–26–
Đinh–17–7–57–47–37–27
Mậu28–18–8–58–48–38–
Kỷ–29–19–9–59–49–39
Canh40–30–20–10–60–50–
Tân–41–31–21–11–1–51
Nhâm52–42–32–22–12–2–
Quý–53–43–33–23–13–3

Sách dặn bảng công thức này dùng trọn đời không thay đổi, ai có thể thì nên cắt để dành và học thuộc lòng.

Thập thiên can: chọn vợ chọn chồng theo can

Biết năm sinh mang can gì rồi, còn phải biết can nào hợp và can nào kỵ với mình khi nên duyên.

Sách lập bảng cho con trai theo mười thiên can, chỉ ra can của người vợ nên chọn và can nên tránh. Nếu bạn là Giáp thì nên chọn vợ mang chữ Kỷ, chớ kết hôn với người mang chữ Canh vì không hợp.

Can của chồngCan của vợ nên chọnCan của vợ khắc kỵ
GiápKỷCanh
ẤtCanhTân
BínhTânNhâm
ĐinhNhâmQuý
MậuQuýGiáp
KỷGiápẤt
CanhẤtBính
TânBínhĐinh
NhâmĐinhMậu
QuýMậuKỷ

Sách nêu ví dụ người chồng tuổi Giáp Tý khắc với người vợ tuổi Canh Tuất, và Ất Sửu khắc với Tân Mẹo. Bên cạnh đó còn có bảng năm bất tường: gái không thể lấy chồng trong những năm ấy, trai cũng chớ nên kết hôn, vì đó là năm hung niên, tối kỵ cho việc kết hôn hay cưới gả.

Ngũ hành hợp khắc trong hôn nhân và sáu loại nạp âm của mỗi hành

Can đã chọn, giờ đến chuyện hành: người ta sinh ra có âm có dương, và đôi vợ chồng cũng cần hợp cái lý ấy.

Sách nhắc rằng con người do trời đất sinh ra, có âm có dương, nên trai phải có gái, lớn lên phối hợp thành vợ chồng. Người đàn ông thuộc dương, người đàn bà thuộc âm; vợ chồng ăn ở không hợp thì mỗi người một ngả, ăn ở hợp và bền thì sinh con đẻ cháu đông đúc, gọi là duyên tiền định. Vì thế trước khi cưới hỏi phải xem ngày lành tháng tốt, và điều cần nhất là xem mạng để lựa đôi bạn trăm năm.

Mỗi hành trong năm hành lại có sáu loại, nên cần phân biệt để khỏi lầm. Hành Kim có sáu loại: Sa trung Kim, Kiếm phong Kim, Bạch lạp Kim, Kim bạc Kim, Hải trung Kim, Thoa xuyến Kim; trong đó chỉ Sa trung Kim và Kiếm phong Kim hợp nhau, gọi là lưỡng Kim thành khí. Hành Mộc có sáu loại: Đại lâm Mộc, Bình địa Mộc, Dương liễu Mộc, Tòng bách Mộc, Tang đố Mộc, Thạch lựu Mộc; chỉ Bình địa Mộc và Đại lâm Mộc hợp nhau, gọi là lưỡng Mộc thành lâm. Hành Thủy có sáu loại: Thiên hà Thủy, Đại hải Thủy, Giản hạ Thủy, Trường lưu Thủy, Tuyền trung Thủy, Đại khê Thủy; chỉ Thiên hà Thủy và Đại hải Thủy hợp nhau, gọi là lưỡng Thủy thành giang. Hành Hỏa có sáu loại: Lư trung Hỏa, Phúc đăng Hỏa, Sơn đầu Hỏa, Thiên thượng Hỏa, Sơn hạ Hỏa, Tích lịch Hỏa; chỉ Lư trung Hỏa và Phúc đăng Hỏa hợp nhau, gọi là lưỡng Hỏa thành viêm. Hành Thổ có sáu loại: Bích thượng Thổ, Đại trạch Thổ, Sa trung Thổ, Lộ bàng Thổ, Thành đầu Thổ, Ốc thượng Thổ; chỉ Bích thượng Thổ và Đại trạch Thổ hợp nhau, gọi là lưỡng Thổ thành sơn, ngoài ra đều sát kỵ nhau.

Sách cũng ghi một thuyết ngược lại, cho rằng đồng mạng lại tương khắc: hai người cùng mạng Kim thì Kim khuyết, hai người mất hết một; hai người cùng mạng Mộc thì Mộc gãy, hai gãy một; hai người cùng mạng Thủy thì Thủy kiệt, cạn khô hết nửa; hai người cùng mạng Hỏa thì Hỏa diệt, lửa tắt hết; hai người cùng mạng Thổ thì Thổ diệt, đất cằn cỗi. Tuy vậy khoa chiêm tinh dựa trên căn bản lý số mà coi việc đồng mạng sinh hay khắc không quan trọng bằng chuyện giờ, ngày, tháng, năm sinh, để tìm can chi và cung rồi dùng hai tuổi mà đoán hay dở, tốt xấu.

Tứ tuyệt, lục hại, tứ hành xung và bát san

Có những cặp tuổi mà dù ngũ hành thế nào cũng nên tránh.

Sách nói hôn nhân nên tránh tứ tuyệt và lục hại, vì phạm vào thì mạng hệ không lường, đường con cái hiếm muộn bất thường, duyên nợ cũng như nghiệp danh dở dang giữa chừng. Tứ tuyệt là tuổi Tý kỵ tuổi Tỵ, Dậu kỵ Dần, Ngọ kỵ Hợi, Mẹo kỵ Thân. Phép cưới gả còn tránh bốn nhóm tuổi gọi là tứ hành xung: Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; Thân, Dần, Tỵ, Hợi. Phạm phải thì vợ chồng gian truân, gia đạo tắc biến, khổ buồn năm tháng biết thuở nào khuây.

Lục hại là hai người tuổi Tý hại tuổi Mùi, Sửu hại Ngọ, Dần hại Tỵ, Mẹo hại Thìn, Thân hại Hợi và Dậu hại Tuất. Vợ chồng bị lục hại không khác gì tự mang của nợ vào nhà; bệnh hoạn đau ốm làm hai người mất hết sinh lực, chán chê tình ái, phiền muộn, duyên đưa mỗi người một nẻo, nên khi mới quen nhau trai gái đã nên đề phòng.

Về thiên can, sách lặp lại cặp hợp và cặp khắc như bảng trên: Kỷ hợp Giáp, Ất hợp Canh, Bính hợp Tân, Đinh hợp Nhâm, Mậu hợp Quý, và các cặp khắc như Canh khắc Tân, Tân khắc Nhâm, Nhâm khắc Quý, Quý khắc Giáp.

Về hệ bát san gồm tám cung Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài: vợ chồng nên tránh tuyệt mạng, tức người cung Càn kỵ Ly, Khảm kỵ Khôn, Cấn kỵ Tốn, Đoài kỵ Chấn và ngược lại. Cũng nên tránh giao chiến, tức người cung Càn kỵ Tốn, Khôn kỵ Cấn, Ly kỵ Đoài, Chấn kỵ Tốn, Khảm kỵ Ly, Khôn kỵ Chấn, Càn kỵ Khôn. Nếu vì lẽ gì mà không tránh được thì sớm muộn cũng khó ở bền vững.

Tam hạp, đại hạp và bảng ngũ hành nam nữ tương sinh, tương khắc

Có kỵ thì có hạp, và đây là những nhóm tuổi mà người xưa tin sẽ đưa đôi vợ chồng đến chỗ sum vầy.

Sách nhắc lại bốn nhóm tuổi kỵ là tứ hành xung, nếu vì lý do gì mà nam nữ vẫn kết hợp thì sớm muộn cũng có gia đạo bất hòa, kinh doanh thất bại, khốn khổ gian lao và cuối cùng là sinh ly tử biệt. Tâm của hôn nhân là hòa hợp, nên phải tìm tuổi tương sinh gồm tam hạp: Thân, Tý, Thìn; Dần, Ngọ, Tuất; Dậu, Tỵ, Sửu; Mùi, Mẹo, Hợi. Ba tuổi trong mỗi nhóm được coi là định thức của số mạng sum vầy, thuận thảo, phát đạt, bền vững. Ngoài ra còn các cặp đại lợi đại hạp: Tý với Sửu, Mẹo với Tuất, Dần với Hợi, Thìn với Dậu, Ngọ với Mùi, Tỵ với Thân. Trái lại các cặp đại khắc đại kỵ là Dần với Tỵ, Sửu với Ngọ, Tý với Mùi, Mẹo với Thìn, Dậu với Tuất, Thân với Hợi; hai tuổi ấy gặp nhau chung sống thì phiền lụy, bệnh tật, tiêu hao, tù tội, có khi chết chóc.

Tiếp theo sách lập bảng ngũ hành theo mạng chồng lấy mạng vợ nào.

Chồng mạng Kim

Lấy vợ Kim thì bất lợi, hai Kim gây cấn, khống chế nhau, sinh chuyện thù nghịch; ngoại lệ nếu thiên can địa chi thuận thì hai Kim thành khí. Lấy vợ Mộc thì xung kỵ, hiềm khích vì Kim khắc Mộc, dẫn đến khốn khổ chật vật. Lấy vợ Hỏa thì hắc sát thâm căn, vợ chồng hục hặc rầy rà, cãi vã nhau luôn, bần cùng cơ cực. Lấy vợ Thổ thì đại lợi đại lộc, gia đình xung mãn, tâm đầu ý hợp, giàu sang sung sướng. Lấy vợ Thủy là lương duyên tiền định, căn kiếp trời an bài, phát đạt, sự nghiệp con cái đầy nhà.

Chồng mạng Mộc

Lấy vợ Mộc thì quan lộc quý số, trọn đời phong lưu, công danh sự nghiệp bền bỉ, vợ chồng sinh con đẻ cái trưởng thành, thi cử đỗ đạt. Lấy vợ Thủy là tương sinh phúc đức, không chỉ vợ chồng ăn ở đến tuổi già mà còn trưởng giả phú hộ. Lấy vợ Thổ, nếu là Đại lâm Mộc, thì đại phú tương hợp, giàu có bạc triệu, vợ chồng thuận thảo, giai lão ba niên. Lấy vợ Hỏa thì thịnh vượng sinh khí, của trời cho dư ăn dư để, ruộng vườn cò bay thẳng cánh. Lấy vợ Kim thì khắc kỵ bất tường, vợ chồng ăn ở không bền lâu, trước hợp sau lìa.

Chồng mạng Thủy

Lấy vợ Thủy, hai mạng đồng nhất, là song Thủy bình dị: tuy không mấy tốt nhưng cặp vợ chồng này tương đối yên ổn, đời sống tầm thường. Lấy vợ Mộc là nhân duyên tiền kiếp, gia đình trên thuận dưới hòa, con cái đông đủ, sống bên nhau tới già. Lấy vợ Kim, mạng tương thân, là sinh tài tự nhiên, sung sướng phát đạt yên vui trọn đời. Lấy vợ Hỏa là thiên định tác thành, oan khiên tiền kiếp nhưng vợ chồng tạm sống bình dị an vui. Lấy vợ Thổ là bất lợi dị đồng, khắc kỵ thâm căn, vợ chồng chung sống không mấy no cơm ấm áo nhưng được hào con.

Chồng mạng Hỏa

Lấy vợ Hỏa, tương sinh tương hợp, là hưng vượng tùy thời: nếu biết phất cờ tới tay được cơ hội làm nên sự nghiệp lớn, vợ chồng bền vững. Lấy vợ Kim, ngoại trừ Kiếm phong Kim, là khắc kỵ sinh họa, ở với nhau lâu e đưa đến kiện cáo, có thể ly dị. Lấy vợ Mộc là sở đắc tài lộc, vợ chồng được phúc đức và cả tài lộc thọ vượng; hai mạng hòa hợp nếu là Đại lâm Mộc. Lấy vợ Thổ, tương đồng tương sinh, là thiên định phần số, gia đình phú túc sung mãn, trường thọ, con cháu vinh hiển. Lấy vợ Thủy là đại khắc đại nạn, kỵ xung bất thường, cặp hôn nhân này gặp nhiều tai bay họa gửi hơn là may mắn.

Chồng mạng Thổ

Lấy vợ Thổ, song mạng đồng nhất, là tương sinh lưỡng Thổ: tiền duyên khó, hậu duyên dễ, vợ chồng ăn nên làm ra. Lấy vợ Kim, Thổ sinh Kim hạp, là sinh lộc đắc vận, vợ chồng tương đắc giàu sang, danh vọng uy thế lớn. Lấy vợ Mộc là bất lợi bi đát, khắc, ngoại trừ Đại lâm Mộc thì khó được. Lấy vợ Thủy, hai mạng tương khắc, là tối kỵ, thất tình, sinh ly: vợ chồng lúc nhỏ hợp sau tan, của tiền như bọt nước đưa đến cách biệt. Lấy vợ Hỏa, hai mạng tương hạp, là quan vị đắc vận, làm ăn phát tài, danh nghiệp lớn, uy thế to, con cháu đỗ đạt.

Hai điểm cần lưu ý

Sách ghi thêm hai điểm. Thứ nhất, mạng Mộc, nam hay nữ như nhau, chỉ khắc kỵ với mạng Thổ; nhưng nếu Mộc hoặc Thổ ở ngôi Đại lâm Mộc hay Đại trạch Thổ thì vượt qua được thế khắc, hóa giải, hòa hợp, vợ chồng được tài lộc, quan vị và uy thế. Thứ hai, hai mạng cùng là Mộc gọi là lưỡng Mộc, biến thành rừng; hai mạng cùng là Thổ gọi là lưỡng Thổ, biến thành núi; được vậy mới tương hạp tương sinh, nam nữ kết hợp trường tồn hạnh phúc.

Nguồn: Bửu Sơn, Tử Vi Tướng Pháp Trọn Đời.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tình duyên