Bài tổng quan
Phân định âm dương tuổi sinh và bốn tam hợp cục
Riêng Thủy nhị cục, việc tìm vị trí Tử Vi trên 12 cung rất dễ dàng: cứ hai ngày sinh liền nhau lại an vào một cung. Nhưng trước khi đặt bút an sao, Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử dừng lại ở một câu hỏi nền tảng hơn cả cục số: đương số này là dương nam, âm nam, dương nữ hay âm nữ?…
Riêng Thủy nhị cục, việc tìm vị trí Tử Vi trên 12 cung rất dễ dàng: cứ hai ngày sinh liền nhau lại an vào một cung, đi hết một vòng giáp tháng. Nhưng trước khi đặt bút an sao, Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử dừng lại ở một câu hỏi nền tảng hơn cả cục số: đương số này là dương nam, âm nam, dương nữ hay âm nữ? Không phân định được âm dương của tuổi sinh, thì chòm Tử Vi và chòm Thiên Phủ cũng không biết đường nào mà an…
Thủy nhị cục: định luật của Tử Vi trên 12 cung
Riêng Thủy nhị cục, việc tìm vị trí trên 12 cung rất dễ dàng. Bắt đầu khởi an Tử Vi tại cung Sửu nếu sinh ngày mồng 1. Từ cung Dần kế tiếp đến các cung khác, cứ 2 ngày liên tiếp nhau, an vào 1 cung cho đến hết tháng (tới ngày 30). Nạp âm theo ngày sinh, ngưng tại cung nào, an Tử Vi tại cung ấy.
Thí dụ sinh ngày mồng 10: khởi nạp âm và bấm vào cung — sinh ngày mồng 1 Tử Vi an tại cung Sửu; sinh ngày mồng 2 và 3 tại cung Dần; sinh ngày mồng 4 và 5 tại cung Mão; sinh ngày mồng 6 và 7 tại cung Thìn; sinh ngày mồng 8 và 9 tại cung Tỵ; sinh ngày mồng 10 tại cung Ngọ. An Tử Vi tại cung Ngọ, vì ngày nạp âm, và ngón tay cái bấm cung đã gặp cung Ngọ, nhằm vào ngày sinh là ngày mồng 10. Nếu sinh ngày 29 hay 30, khởi nạp ngày mồng 1 tại cung Sửu, bắt đầu từ cung Dần trở đi, miệng nạp tay bấm vào các cung, cứ tuần tự cho tới khi miệng nạp âm tới ngày 29 hay 30 tại cung nào, ngưng tại cung ấy và an Tử Vi tại cung đó.
| Ngày sinh | Tử Vi an tại |
|---|---|
| 1 | Sửu |
| 2 và 3 | Dần |
| 4 và 5 | Mão |
| 6 và 7 | Thìn |
| 8 và 9 | Tỵ |
| 10 và 11 | Ngọ |
| 12 và 13 | Mùi |
| 14 và 15 | Thân |
| 16 và 17 | Dậu |
| 18 và 19 | Tuất |
| 20 và 21 | Hợi |
| 22 và 23 | Tý |
| 24 và 25 | Sửu |
| 26 và 27 | Dần |
| 28 và 29 | Mão |
| 30 | Thìn |
Liêm Trinh Nam Mạnh ca
Liêm-trinh tọa mạnh hiệu nhàn cung.
Bần phá Kình-dương Hỏa cánh trung.
Túng hữu Tài Quan vị bất mỹ.
Bình sinh hà rĩ đắc thung dung.
Thuận khởi an Tử Vi ngày mồng 1 tại cung Sửu, từ cung Dần, 2 ngày kể từ 1 cung cho tới hết tháng. Ghi nhận: sinh mồng 1 an Tử Vi tại cung Sửu; sinh mồng 24 và 25 an Tử Vi tại cung Sửu; sinh mồng 28 và 29 an Tử Vi tại cung Mão.
Nguyên tắc phân định âm dương của tuổi sinh
Muốn lấy số Tử Vi cho một người nào, phải phân biệt là nam hay nữ: nam có dương nam hay âm nam, nữ có dương nữ hay âm nữ. Nguyên tắc phải theo tuổi sinh mà phân định. Tuổi sinh gồm có hàng can đứng trước thường gọi là thiên can, và hàng chi đứng sau thường gọi là địa chi. Thí dụ: đương số tuổi Bính Dần — Bính là hàng can, Dần là hàng chi. Có 2 cách để nhận biết Nam Nữ thuộc âm hay dương.
| Thiên can phân âm dương | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Dương | Giáp | Bính | Mậu | Canh | Nhâm |
| Âm | Ất | Đinh | Kỷ | Tân | Quý |
| Địa chi phân âm dương | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Dương | Tý | Dần | Thìn | Ngọ | Thân | Tuất |
| Âm | Sửu | Mão | Tỵ | Mùi | Dậu | Hợi |
Căn cứ theo hàng can hay hàng chi mà định âm dương. Thí dụ Nam: Bính Dần là dương nam, Quý Hợi là âm nam. Thí dụ Nữ: Giáp Tý là dương nữ, Tân Sửu là âm nữ.
Phép an Tử Vi và Thiên Phủ — hai câu ca quyết
An chòm sao Tử Vi gồm 6 chính tinh là: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng và Liêm Trinh, theo chiều nghịch. Và an chòm sao Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát và Phá Quân theo chiều thuận.
Cách an chòm sao Tử Vi tinh hệ, nhập tâm câu ca quyết dưới: miệng xướng danh sao nào, tay bấm cung để an sao ấy. Tử Vi, Thiên Cơ, cách nhất (tức là bỏ đi một cung trống không an sao) Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng cách nhị (tức là bỏ đi 2 cung không an sao) Liêm Trinh. Những dòng tiểu chú trong dấu ngoặc để hiểu chứ không đọc lên.
Cách an chòm sao Thiên Phủ tinh hệ, cần nhập tâm hai bảng A và B là vị trí Thiên Phủ, đối chiếu với vị trí của Tử Vi ở chương mục 1. Nhập tâm Thiên Phủ ca quyết dưới: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát cách tam (tức là bỏ trống 3 cung không an sao) Phá Quân. Xin nhớ tìm xem Thiên Phủ an ở cung nào, rồi mới bắt đầu an Thiên Phủ.
Kiểm điểm lại các mục
Đã lập Mạnh và lập được 12 cung. Đã an được Thân. Đã tìm được cục là Mộc tam cục. Phân định âm dương của đương số là Dương nam. Áp dụng Long Ngưu Hổ thuộc Mộc tam cục để tìm, an được Tử Vi tại cung (vị trí) nào, an được chòm Tử Vi tinh hệ gồm 6 chính tinh, an được chòm Thiên Phủ tinh hệ gồm 8 chính tinh. Tới đây là mọi sự khó khăn đã qua, và đương nhiên trở thành người an được số Tử Vi trên tay. Mục an các sao khác, trung tinh, tiểu tinh sẽ song hành với việc nghiên cứu về khoa Tử Vi đẩu số, thấm nhuần với thời gian, để đi sâu vào đường lý học. Riêng việc nhập tâm các ca quyết và an sao nếu muốn nhanh chóng thời chỉ một tuần lễ khắc xong.
Phép an tinh đẩu
Nguyên tắc an tinh đẩu sắp tới gồm ba phần: tương quan cung địa chỉ, cung số và cách; nhập tâm các bài ca quyết; bí quyết an sao trên bàn tay.
Trước khi an sao, cần nhận định vị trí các cung đối chiếu, hợp chiếu — thường được gọi ở Tử Vi là xung chiếu, tam hợp và nhị hợp — để dễ phần an sao và khỏi bị lầm lẫn sau này. Hơn nữa nhất là lập thành Tử Vi trên bàn tay, các cung như tam hợp cục. Thí dụ: Thân Tý Thìn; Dần Ngọ Tuất; Tỵ Dậu Sửu; Hợi Mão Mùi. Mười hai cung trên lá số như Mạnh, Huynh, Thê, Tử, Tài, Ách, Di, Nô, Quan, Điền, Phúc, Phụ. Thí dụ: Mạnh Tài Quan; Huynh Ách Điền; Thê Di Phúc; Tử Nô Phụ. Thí dụ: thấy Mạnh cư cung Thân, thì Tài cư Thìn và Quan cư cung Tý ở 1 tam hợp cục.
| Tam hợp cục (địa chi) | Tam hợp cục (12 cung số) |
|---|---|
| Thân – Tý – Thìn | Mạnh – Tài – Quan |
| Dần – Ngọ – Tuất | Huynh – Ách – Điền |
| Tỵ – Dậu – Sửu | Thê – Di – Phúc |
| Hợi – Mão – Mùi | Tử – Nô – Phụ |
Cũng như các sao chính tinh (14 chính diệu) thường hợp lại thành các cách: Tử Phủ Vũ Tướng cách; Sát Phá Tham cách; hay là Sát Phá Vũ Liêm Tham cách; Cơ Nguyệt Đồng Lương cách; Nhật Nguyệt cách. Sẽ kết hợp trên vị trí các cung tam hợp như Thân Tý Thìn, Hợi Mão Mùi chẳng hạn, hay tại các cung Mạnh Tài Quan, Thê Di Phúc.
Vì 4 tam hợp cục, cùng với 12 cung số và các cách Tử Phủ hay Nhật Nguyệt, có sự tương quan cùng nhau trên vị trí, nên khi biết được cung Mạnh tại tam hợp cục này, có sao nào, cách nào, có thể biết ngay được, các cung tam hợp khác có cách gì. Nên tại sao các nhà hành nghề thiếu thị giác, khi biết được sao nào cư cung Mạnh, hay là Mạnh Tài Quan có cách nào, lại có thể biết ngay trên các cung tam hợp có cách gì, hoặc Huynh Ách Điền có cách gì, hay Tử Nô Phụ cư tại tam hợp cục nào. Vì sự tương quan tam hợp cục, với các cung Mạnh Tài Quan, cũng như sự liên hợp các cách Tử Phủ, Sát Phá với tam hợp cục, và Mạnh Tài Quan, nên biết được 1 cung hay 1 sao, là có thể tính chung được toàn thể 12 cung số vậy.
Thái Âm Nam Mạnh ca
Thái-âm nguyên thị thủy chi tinh.
Thân Mạnh phùng chi phúc tự sinh.
Dậu Tuất Hợi viên vi đắc địa.
Quang huy dương hiển tinh danh hanh.
Cung xung chiếu và cung nhị hợp
Mười hai cung xung chiếu: cung xung chiếu là 2 cung đối chiếu lẫn nhau. Thí dụ: Mạnh và Di bao giờ cũng là cung xung chiếu nhau.
Biểu lý nhị hợp mười hai cung: Tý hợp Sửu, Dần hợp Hợi, Mão hợp Tuất, Thìn hợp Dậu, Tỵ hợp Thân, Ngọ hợp Mùi.
Phương pháp an chư tinh: Tả Phụ, Hữu Bật, Tam Thai, Bát Tọa
Cung Thìn Tuất là 2 cung để khởi tính sao.
An Tả Phụ, Hữu Bật
Gọi tắt là Tả Hữu hay Phụ Bật, tính theo tháng sinh. An Tả Phụ: cung Thìn kể là tháng giêng, tính thuận đến tháng sinh, mỗi cung 1 tháng, ngưng tại cung nào, an Tả Phụ ở cung ấy. Thí dụ: sinh tháng 4 an Tả Phụ ở tại cung Mùi. An Hữu Bật: cung Tuất kể là tháng giêng, tính nghịch đến tháng sinh, mỗi cung 1 tháng, ngưng tại cung nào, an Hữu Bật ở cung ấy. Thí dụ: sinh tháng 4 an Hữu Bật ở tại cung Mùi.
Phụ Bật, Thai Tọa thơ
Tả-phù Thìn thuận tháng sinh
Hữu-bật nghịch Tuất đinh ninh chăng là
Tả-phù thuận khởi Tam-thai
Hữu-bật nghịch Tọa khởi bài ngày sinh
Cách tập an sao lúc đầu: vì lúc khởi đầu, không tránh khỏi sự bỡ ngỡ, nên lấy một lá số có đủ 12 cung, rồi thử tính 2 sao Phụ Bật và Thai Tọa theo như cách an ở trên, sẽ chóng quen và nhập tâm, sẽ thấy hiện ra sao Tả Hữu tại các cung như ở dưới. Thìn Tuất là hai cung để khỏi tính cho bộ sao Tả Hữu: sinh tháng giêng Tả tại Thìn, Hữu tại Tuất; sinh tháng 7 Tả tại Tuất, Hữu tại Thìn; sinh tháng 4 Tả Hữu đồng cung tại Mùi; sinh tháng 10 Tả Hữu đồng cung tại Sửu. Sinh tháng 3, tháng 5 giáp biên Tả Hữu tại cung Mùi; sinh tháng 9, tháng 11 giáp biên Tả Hữu tại cung Sửu. Đọc đi đọc lại và nhận xét chừng mấy lượt sẽ nhập tâm được ngay, tới khi cần lấy số, nói tới sinh tháng nào, đã biết ngay không phải tính tới nữa. Cũng một bộ sao Tả Hữu này, liên quan tới các sao khác, khi cùng khởi thuận nghịch tại 2 cung Thìn Tuất, vị trí đồng cung và giáp biên cung như nhau cả.
An Tam Thai, Bát Tọa
Gọi tắt là Thai Tọa, tính theo ngày sinh. Tam Thai: cung có sao Tả Phụ, kể là mồng 1, tính nghịch tới ngày sinh, ngưng tại cung nào, an Tam Thai tại cung ấy. Bát Tọa: cung có sao Hữu Bật, kể là mồng 1, tính nghịch tới ngày sinh, ngưng tại cung nào, an Bát Tọa tại cung ấy. Thí dụ: sinh mồng 8 tháng 4, an Tam Thai ở tại cung Dần, an Bát Tọa ở tại cung Tý.
Kiểm điểm 2 sao Thai Tọa: căn cứ 2 sao Tả Hữu ở cung nào mới khởi an được 2 sao Thai Tọa. Thí dụ Tả Hữu tại 2 cung Thìn Tuất: người sinh ngày mồng 1, mồng 13, ngày 23, thời Thai Tọa sẽ đồng cung với Tả Hữu tại 2 cung Thìn Tuất. Thí dụ Tả Hữu tại 2 cung Sửu Mùi: nếu sinh ngày mồng 1, 13 và ngày 25, thời Thai Tọa sẽ đồng cung với Tả Hữu tại 2 cung Sửu Mùi. Thí dụ Thai Tọa có cách giáp biên Sửu Mùi: nếu sinh ngày mồng 2, 6, 8, ngày 12, ngày 14, ngày 18, 20, 24, 26 và ngày 30 sẽ thấy Thai Tọa giáp biên tại 2 cung Sửu Mùi.
Kiểm điểm nhanh các bộ sao khác
Kiểm điểm 2 sao Xương Khúc: cách an sao này tính theo giờ sinh. Người sinh giờ Tý an Khúc tại Thìn, Xương tại Tuất. Người sinh giờ Ngọ an Khúc tại Tuất, Xương tại Thìn. Người sinh giờ Mão an Khúc Xương đồng cung tại Mùi. Người sinh giờ Dậu an Khúc Xương đồng cung tại Sửu.
Kiểm điểm 2 sao Long Phượng: vì 2 sao này an theo năm sinh. Người sinh năm Tý an Long tại Thìn, Phượng tại Tuất. Người sinh năm Ngọ an Long tại Tuất, Phượng tại Thìn. Người sinh năm Mão an Long Phượng đồng cung tại Mùi. Người sinh năm Dậu an Long Phượng đồng cung tại Sửu. Sinh năm Dần, năm Thìn an Long Phượng giáp biên tại Mùi. Sinh năm Thân, năm Tuất an Long Phượng giáp biên tại Sửu.
Kiểm điểm 2 sao Quang Quý: 2 sao này an theo ngày sinh và căn cứ cung có sao Khúc Xương. Thí dụ Khúc Xương cư tại Thìn Tuất: người sinh mồng 2, mồng 8, 14, 20, 26, Quang Quý sẽ đồng cung với Khúc Xương tại Thìn Tuất. Thí dụ Khúc Xương cư tại Sửu Mùi: người sinh mồng 1 và mồng 3, mồng 7 và mồng 9, mồng 13 và mồng 15, mồng 19 và mồng 21, mồng 25 và mồng 27, sẽ thấy Quang Quý giáp biên tại 2 cung Sửu Mùi.
Quy luật để ghi nhớ: trên đây là các bộ sao đứng đầu trung và tiểu tinh, sau khi kiểm điểm có thể mỗi người sẽ phát hiện được một cách nhớ khác nhau, để sau này khi tính số, nói tới sinh năm tháng ngày nào, khắc biết ngay vị trí cung an rồi, nên tại sao các người hành nghề thiếu thị giác, lại không cần tính mà có thể an được đúng cung. Sau khi đã tìm được quy luật rồi, không sợ sai cung nữa, và cứ thử kiểm điểm như trên đây mới hiểu rõ sự liên quan của các bộ sao này, tại các cung giáp và cách đồng cư một cung được. Nên ghi lấy phần kiểm điểm để tập áp dụng lúc nhàn rỗi. Xương Khúc, Thai Cáo, Quang Quý — mỗi bộ sao còn một cách an riêng, tính theo giờ sinh hoặc theo cung của sao đi trước, sẽ lần lượt theo nhau mà hiện ra trên lá số.
Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.
