Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Nội dung triết lý Âm Dương Ngũ Hành của khoa Tử Vi

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn29/09/202613 phút đọc4 lượt đọc
Nội dung triết lý Âm Dương Ngũ Hành của khoa Tử Vi

Năm nghìn năm trước khi Trần Đoàn vẽ ra lá số đầu tiên, vua Phục Hy đã nhìn lên trời mà đặt ra Thái Cực, Âm Dương, Bát Quái. Nhưng hơn hai mươi bậc học giả Trung Hoa, suốt sáu mươi thế kỷ, vẫn chưa từng đồng ý được với nhau một điều căn bản...


Nội dung triết lý của khoa Tử Vi

Mặc dù khoa Tử Vi xuất hiện hồi trước thế kỷ thứ 10, tại Trung Hoa, dưới đời nhà Tống, do công trình trước tác của đạo sĩ Trần Đoàn, nhưng ý niệm sơ khai của triết lý khoa này có từ đời vua Phục Hy, khoảng 44 thế kỷ trước Tây lịch, tức là 5.400 năm trước khi bộ môn Tử Vi ra đời. Triết lý này được đời sau gọi là triết lý của Dịch, trong đó nội dung căn bản là lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành.

Những tác giả hữu công đã từng khai sáng và khai triển lý thuyết này suốt 54 thế kỷ trước Trần Đoàn kể ra cũng khá nhiều. Ta phải kể vua Phục Hy (44 thế kỷ trước Tây lịch), vua Hạ Vũ (22 thế kỷ trước Tây lịch), đức Khổng Tử (5 thế kỷ trước Tây lịch), Trâu Diễn (3 thế kỷ trước Tây lịch), Đổng Trọng Thư (190 – 105 trước Tây lịch).

Trước Trâu Diễn, lý thuyết này còn rời rạc, bàng bạc, chưa mấy hệ thống hóa, bị nhiều dị nghị về nguồn gốc và tác giả (như trường hợp Khổng Tử đối với Kinh Dịch, bị các học giả cho là không do Ngài soạn). Đến Trâu Diễn, một học phái gọi là "Âm Dương gia" mới được sáng lập hẳn hoi. Từ đó, lý thuyết được đào sâu, giải thích và phát triển đặc biệt nhờ Đổng Trọng Thư, đời nhà Hán. Họ Đổng lập ra phái Tượng Số, áp dụng lý thuyết Dịch Âm Dương Ngũ Hành vào việc bói toán. Mười thế kỷ sau, đạo sĩ Trần Đoàn đã tham chiếu lý thuyết để bày ra khoa Tử Vi, cho đến nay hãy còn được lưu truyền.

Trong quyển Tử Vi Hàm Số, tác giả đã có dịp bàn cặn kẽ nội dung của lý thuyết này, ở đây chỉ cần nhắc lại vài điểm chính.

Thái Cực, Âm Dương, Tứ Tượng, Bát Quái, Ngũ Hành

Lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành là một lối giải thích sự cấu tạo và sự vận chuyển của vũ trụ. Trước hết đây là một vũ trụ quan của Trung Hoa, nghĩa là một quan niệm về sự hình thành và sự biến hóa của vạn vật trong vũ trụ, tức là trong không gian và qua thời gian.

Theo Kim Định, tác giả quyển Chữ Thời, thì vũ trụ là danh từ kết tinh của không gian và thời gian. Ông trích dẫn Hoài Nam Tử, Trang Tử, Dương Hùng và La Hồng Sơn để nói rằng: Vũ có nghĩa là không gian, Trụ có nghĩa là thời gian, tuy là hai thực thể song được người xưa đúc kết làm một: Vũ là tán ra, tỏa lan, còn Trụ là dồn lại, tụ lại. Nhưng đặc trưng của Triết Đông là tổng hợp hai thực thể dị biệt về tính chất và chiều hướng.

Theo cổ nhân Trung Hoa, lúc đầu, vũ trụ chỉ là một khối hỗn độn không rõ được bản chất và đặc tính, được gọi là Thái Cực, trong đó chứa sẵn hai động thể tương phản mệnh danh là khí Âm và khí Dương. Hai khí này kết hợp nhau để sinh hóa mãi mãi, tạo thành bốn bộ mặt hay Tứ Tượng (hình dung bằng 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông). Từ đó, Tứ Tượng, nhờ ảnh hưởng không ngừng của Âm, Dương, khai sinh thêm tám hiện tượng mới: Kiền chỉ trời, Khôn chỉ đất, Chấn chỉ sấm sét, Tốn chỉ gió, Khảm chỉ nước, Ly chỉ lửa, Cấn chỉ núi, Đoài chỉ chằm hay đồng cỏ, bình nguyên. Tám hiện tượng này được gọi là Tám Quẻ hay Bát Quái, thể hiện 8 hình dạng khác nhau của bộ mặt vũ trụ. Đó là nói về dạng.

Còn chất của vũ trụ cũng được thoát sinh từ Bát Quái, do Âm Dương làm động lực, gồm 5 loại gọi là Ngũ Hành: Mộc (cây cỏ), Hỏa (lửa, hơi nóng), Thổ (chỉ đất, khoáng chất từ kim khí), Kim (chỉ vàng hay nói chung là các loại kim khí) và Thủy (nước, chất lỏng). Tóm lại, cổ nhân Trung Hoa cho rằng luật sinh liên tục giữa hai khí Âm Dương trong Thái Cực phát sinh ra 4 tượng, 8 dạng và 5 chất, nói văn hoa là Tứ Tượng, Bát Quái và Ngũ Hành.

Đến giai đoạn này thì Ngũ Hành tiếp sinh lẫn nhau theo một quy tắc cố định và một chiều là: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy và Thủy sinh Mộc, tức là có 5 vòng sinh, theo thứ tự kể trên.

Ngược lại 5 chất đó cũng có đối kỵ nhau gọi là khắc. Ý niệm này tương đối mới mẻ vì từ Thái Cực đến Ngũ Hành, cổ nhân chỉ nói đến sinh. Mãi đến Ngũ Hành mới đề cập đến khắc. Quy tắc khắc cũng cố định và một chiều, theo thứ tự Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, tức là cũng có 5 vòng khắc.

Sự sinh và sự khắc này là định lệ chung của vạn vật trong không gian và thời gian, là nguyên tắc căn bản của đạo dịch (con đường biến hóa).

Sự tương đồng giữa vũ trụ và con người

Cái lối quan niệm về sự hình thành và sự biến hóa của vũ trụ này được cổ nhân Trung Hoa đồng hóa cho con người. Nói như thế nghĩa là cổ nhân Trung Hoa cho rằng con người được hình thành do sự kết hợp 2 khí Âm Dương và 5 chất Ngũ Hành. Con người cũng biến hóa theo qui luật sinh khắc của 7 yếu tố đó.

Thành thử mới đặt ra, trai là Dương (ảnh hưởng dương ưu thế), gái là Âm (ảnh hưởng âm ưu thế), trai hay gái đều được 5 chất kết hợp nhau, theo quy luật sinh, khắc kể trên. Và con người cũng biến dịch như thế. Vì đồng chất và đồng biến, nên giữa vạn vật và con người có mối tương ứng mật thiết: đó là lý thuyết "Thiên Nhân Tương Dữ" hay là lý thuyết "Thiên Địa Vạn Vật đồng nhất thể".

Sự ứng dụng vào khoa Tử Vi

Đến khi Trần Đoàn lập ra khoa Tử Vi, ông chỉ còn giữ lại các ý niệm và qui luật sinh hóa Âm Dương và Ngũ Hành, còn Tứ Tượng và Bát Quái được coi như thứ yếu, không góp phần quyết định cục diện con người. Vì Trần Đoàn là một nhà bói toán, nên ông có nhu cầu diễn đạt định luật sinh hóa của vũ trụ thành định luật sinh hóa của đời người. Nhu cầu này khiến ông phải đặt để thêm những yếu tố khác để mô tả con người và cuộc đời. Ông đã đặt ra các "sao" để thể hiện các yếu tố đó. Có sao mô tả cá tính, hình dáng, có sao mô tả năng khiếu, tính tình, có sao mô tả cuộc sống thế tục dưới mọi hình thái và phương diện (giàu nghèo, thọ, yểu, bệnh, họa, chết, sinh, dưỡng...). Có sao mô tả hoàn cảnh sống của cá nhân (nghề nghiệp, gia đạo, con cái, cha mẹ, bạn bè...). Ông đồ biểu hóa các sao đó vào một lá số, được chia thành nhiều sao mô tả các yếu tố chi phối con người và cuộc sống. Thể theo lý thuyết Âm Dương, Ngũ Hành, cung, sao đều có Âm Dương tính và ngũ hành tính, tác động lẫn nhau theo quy luật sinh khắc của Âm Dương Ngũ Hành. Kết quả của sự biến hóa này giúp tiên đoán được vận mệnh cá nhân. Nội dung khoa bói toán của Trần Đoàn chỉ có thế.

Vấn đề đặt ra cho chúng ta là xét xem sự ứng dụng triết lý Âm Dương Ngũ Hành vào các yếu tố chi phối con người có giá trị nào trong việc tiên đoán vận mệnh con người. Như vậy, ta cần nhận định trở lại lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành trong vũ trụ quan Trung Hoa.

Nhưng nhận định trở lại bằng cách nào? Muốn phê bình một lý thuyết đã trải qua sáu mươi thế kỷ, trước hết phải biết chính người Trung Hoa nghĩ gì về nó.

Nhận định về sự cấu tạo và sự chi phối của Âm Dương Ngũ Hành

Quan niệm vũ trụ của cổ nhân Trung Hoa có giá trị gì? Chỉ có thể có hai khảo hướng nhận xét vũ trụ quan Trung Hoa: một là đứng trên khuôn khổ tư tưởng Trung Hoa, hai là đứng trong khuôn khổ tư tưởng Tây phương.

Nhận xét trong khuôn khổ tư tưởng Trung Hoa

Nếu theo khảo hướng của Trung Hoa để phê bình lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành thì thiển nghĩ, bất cứ ai cũng gặp khó khăn bối rối, khiến cho không thể phê bình được lý này một cách đúng nghĩa. Có nhiều lý do:

Thuyết Âm Dương Ngũ Hành không phải của một tác giả, cũng không phải là thuyết của một thời đại. Trái lại, lý thuyết này do cả một truyền thống triết học bồi đắp từ thế kỷ thứ 9 trước Tây lịch mà vẫn có học giả bổ chính. Như vậy, tính theo thời gian, lý thuyết này phủ trùm 63 thế kỷ. Vấn đề đặt ra là người phê bình nên đứng vào thời đại nào? Nhận xét tư tưởng nào? Phê bình tác giả nào?

Thuyết Âm Dương Ngũ Hành có trên 20 tác giả góp bàn, khi thì bổ túc, khi thì du nhập khái niệm mới. Có cả thảy 6 trào lưu tư tưởng về nguồn gốc của vũ trụ, trong đó có bàn trực tiếp hoặc gián tiếp về Âm Dương Ngũ Hành: Đạo luận của Lão Tử; Thái cực luận của Dịch Truyện; Khí luận của Hà Hưu, Trịnh Huyền, Lưu Thiệu và Trương Hoành Cừ; Duy lý luận hay Lý khí của Trình Minh Đạo, Trình Y Xuyên, Chu Hi; Duy tâm luận của Lục Tượng Sơn, Dương Giản, Vương Dương Minh, Trạm Nhược Thủy, Tiến Đức Hồng, La Hồng Tiên; Khí luận phục hưng của Vương Thuyền Sơn, Nhan Tập Trai, Lý Nhược Thủy; và Đa nguyên luận của Hương Tú và Quách Tượng.

Mỗi học phái hiểu vấn đề một khác, có khi sự khác biệt hết sức căn bản, vì thế, không thể nhân danh học phái này để bài bác học phái kia. Cũng khó có thể dung hòa những khái niệm quá ư dị biệt về định danh và về nội dung.

Trong 6 trào lưu đó, hơn 20 tác giả không đồng ý nhau về cách mệnh danh nguồn gốc vũ trụ, về nội dung các ý niệm căn bản, về cách giải thích sự biến hóa, về thứ tự xếp loại vài ý niệm.

Những dị biệt về cách mệnh danh. Cũng thời nguồn gốc của vũ trụ mà mỗi học phái kể trên mệnh danh một khác và lắm khi, trong một học phái cách gọi cũng không giống nhau. Theo sách Đại cương triết học Trung Quốc của hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê thì có đến 12 lối gọi: Đạo, Thái cực, Nguyên Huyền, Vô Cực, Trời, Khí, Nguyên nhất, Thái hư, Lý, Khí và Tâm.

Có vài tác giả hiểu giống nhau về nguồn gốc vũ trụ tuy họ gọi khác nhau. Ví dụ như Dịch phái gọi là Thái Cực, còn Dương Hùng thì gọi là Huyền.

Có tác giả nêu tên gọi nguồn gốc vũ trụ mà không mô tả tính chất (Đổng Trọng Thư).

Nhiều tác giả có mô tả, đôi khi rất rõ ràng, nhưng rất uẩn khúc và dị biệt. Khi thì cho nguyên gốc của vũ trụ là khí siêu hình, khi thì cho là về phương diện nào đó là siêu hình, còn về phương diện khác là hữu hình, khi thì phân biệt lúc tụ khí, tán khí mà định chất, cũng thời gọi chung là "lý" mà họ Trình hiểu là lý tự nhiên, còn có tác giả khác lại hiểu là lý sở nhiên; khi thì cho nguyên gốc là lý, khi thì khí, khi thì lý khí.

Riêng về Âm Dương, có người cho đó là hai khí, còn Chu Hi thì cho là chỉ có một khí dù có hai chữ khác nhau, có người cho đó là lý, có tác giả cho Lưỡng Nghi là Âm Dương (Dịch phái), còn Chu Hi cho Lưỡng Nghi là trời đất.

Về Ngũ Hành cũng vậy. Lần lượt người ta thấy Ngũ Hành được xem là khí (Đổng Trọng Thư), là chất (Chu Hi), là thế lực (Phùng Hữu Lan).

Những dị biệt về cách giải thích sự biến hóa. Mặc dù các triết gia hầu như tương đồng về quy luật biến hóa của vũ trụ (chẳng hạn như xem là động luôn luôn, theo luật chi phối phản phục, căn nguyên của sự vật, lưỡng nhất mà điều hòa để biến hóa), nhưng vẫn còn có nhiều dị biệt về cách cấu tạo vạn vật, Ngũ Hành.

Chẳng hạn như theo Dịch phái thì nguyên tố sinh thành vạn vật là Âm Dương, còn Chu Đôn Di thì cho rằng Âm Dương còn phải hợp với Ngũ Hành mà ngưng tụ lại mới cấu thành vạn vật.

Cũng theo Dịch phái, Âm Dương sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng tiếp sinh Bát Quái. Chu Đôn Di thì cho rằng Âm Dương sinh ra Ngũ Hành rồi 5 khí này phân tán ra thành Tứ Tượng. Còn Đổng Trọng Thư viết: "khí của trời đất, hợp thì là một, chia thì là Âm và Dương, tách ra làm 4 mùa, bày xếp thành Ngũ Hành" (không qua Bát Quái).

Đến Đái Đông Nguyên, thì Âm Dương phủ trùm cả Ngũ Hành: "Khi nói đến khí Âm, Dương là nói gồm cả khí Ngũ Hành, và khi nói đến khí Ngũ Hành là nói gồm cả khí Âm, Dương ở trong".

Còn riêng về Ngũ Hành, trong tư tưởng Chu Hi, người ta thấy có mâu thuẫn. Khi thì ông nói rằng lúc chưa chia, Trời Đất sinh ra vật, Ngũ Hành đầu tiên là Thổ.

Những dị biệt trong thứ tự xếp loại các ý niệm. Theo Thiên Hồng Phạm thì thứ tự Ngũ Hành được xếp là Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ. Còn Đổng Trọng Thư thì ấn định khác: Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy. Ngoài ra, như trên đã dẫn, Chu Hi nói Thủy và Hỏa là hai chất ra đời trước nhất, rồi còn có chỗ lại nói Thổ là hành đầu tiên.

Đứng trước sự dị biệt quá nhiều trong tư tưởng các triết gia Trung Quốc, việc đặt bút phê bình lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành hết sức bất trắc, võ đoán, hầu hết như bất khả thi. Vì vậy, có quan điểm cho rằng ta thử đứng trong khuôn khổ tư tưởng Tây phương để nhận xét về lý thuyết này.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp – Nguyễn Phát Lộc

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn