Bài tổng quan
Tam Hóa giải họa và khắc hợp vợ chồng theo Can, Chi
Cha mẹ hai bên ngồi so tuổi trước ngày cưới, và chỉ cần gặp tuổi khắc là có thể ngăn cấm cả một mối tình. Vậy trong khoa Tử Vi, Giáp hợp Kỷ, Giáp phá Mậu thật ra có nghĩa gì với đôi trẻ…
Những giải tinh bắt nguồn ở chính năng đức con người
Hóa Khoa
Là một giải tinh rất mạnh, có hiệu lực cứu giải rất rộng rãi, bao trùm cả bệnh tật, họa. Riêng đối với họa, cách giải cứu của Hóa Khoa bắt nguồn từ phẩm hạnh và từ sự chi cơ, thức thời. Hoá Khoa là người có học và có hạnh, được thiên hạ mến chuộng qua tài đức. Vì vậy, Khoa có những yếu tố căn bản nội tại để giải họa.
Tam Hóa (Khoa, Quyền, Lộc)
Được sao này càng mạnh nghĩa hơn nữa. Cả ba sao chỉ ba nguồn cứu giải rất mạnh : đó là tài đức, quyền hành và tiền bạc. Ý nghĩa đó càng mạnh nếu cả ba hội chiếu hoặc liên châu (Mệnh, Thân ở giữa có một Hóa, hai Hóa kia tiếp giáp hai bên). Thủ Mệnh hay Thân, Tam Hóa có hiệu lực mạnh hơn thế liên châu, nhất là không bị sát tinh xâm phạm.
Mặt khác, có người cho rằng Tam Hóa sẽ tăng hiệu lực nếu đóng ở các cung ban ngày và cung dương, lại lý Tam Hoá là ba viên ngọc phải để chỗ sáng mới đắc thế.
Duy cần lưu ý rằng Tam Hóa giải họa nhiều hơn giải bệnh, tật. Nếu bị sát tinh đi kèm, Hoá nào bị thì nguồn cứu giải của Hóa đó bị giảm sút hoặc bị họa về mặt đó. Cụ thể như Quyền gặp Không Kiếp thì quý cách bị giảm, Lộc gặp Không Kiếp thì hao tán tiền bạc, Khoa gặp Không Kiếp thì khoa bảng lận đận. Dù sao, cả Tam Hóa có thể quân bình nhiều bất lợi của Không Kiếp.
Tứ Đức
Gồm bốn sao Long Đức, Nguyệt Đức, Phúc Đức, chỉ phẩm cách tốt, sự nhân hậu, khoan hòa của cá nhân, nết hạnh đó báo hiệu sự vô tai họa hay ít tai họa.
Hiệu lực giải bệnh của Tứ Đức không có gì đáng kể.
Thiếu âm, thiếu dương
Ý nghĩa giống như Tứ Đức nhưng hiệu lực cung Tử kém hơn và không có nghĩa giải bệnh.
Những giải tinh khác
Thiên Tài
Ý nghĩa giải hạn của Thiên Tài chỉ khi nào sao này gặp sao xấu. Trong trường hợp này, Thiên Tài làm giảm bớt tác hại của sao xấu. Do đó, Thiên Tài có tác dụng như Tuần, Triệt, tuy không mạnh bằng Tuần, Triệt.
Vì tương đồng ý nghĩa với Tuần, Triệt, Thiên Tài gặp sao tốt sẽ làm giảm bớt cái hay. Về mặt này, Thiên Tài không có nghĩa cứu giải nữa.
Thiên La, Địa Võng
Hai sao này có tác dụng làm cho sao xấu thành tốt lên ít nhiều. Do đó góp phần giảm họa riêng cho các họa nhỏ. Dù sao, đây chỉ là hai sao nhỏ, hiệu lực không mạnh lắm.
Đại Hao, Tiểu Hao
Hai sao này gọi là bại tinh, lẽ ra không có ý nghĩa cứu giải gì. Nhưng nếu đóng ở Cung Tật, Đại Tiểu Hao có hiệu lực giải họa đáng kể, cụ thể như làm họa, bệnh tiêu tán mau kiểu như bệnh chóng lành, người bị họa mau khôi phục thế quân bình. Vì là sao Hao, nên Ky đóng ở cung Tài.
Quan niệm khắc hợp vợ chồng trong khoa Tử Vi
Sau chuyện giải họa, câu hỏi dời về ngưỡng cửa hôn nhân, nơi hai người trẻ và hai bên cha mẹ cùng cân đo xem có nên duyên hay không.
Đối với trai gái đến tuổi hôn nhân, việc chọn bạn trăm năm rất là giản dị. Họ chỉ cần “tâm đầu ý hợp” là có thể lấy nhau. Sự lựa chọn dựa vào yếu tố tình cảm và tính tình. Đó là chưa kể các sự kết hợp ngẫu nhiên về sinh lý để rồi đưa đến hôn nhân chính thức.
Duy đối với cha mẹ, việc dựng vợ gả chồng cho con cái phức tạp và khó khăn hơn. Tiêu chuẩn tình cảm và tính tình theo nhãn quan của hai trẻ bị cha mẹ xét lại. Mặt khác, cha mẹ còn xét thêm nghề nghiệp, tuổi tác, việc môn đăng hộ đối. Còn riêng nghịch cảnh đức tính chuy thủy được nhìn qua kính hiển vi, sau một thời gian điều tra sâu rộng. Tất cả những dè dặt đó nhằm đảm bảo một hạnh phúc lâu dài cho vợ chồng sắp cưới.
Tín ngưỡng cũng được mang vào việc kén chọn vợ chồng. Cha mẹ có tục so tuổi để tránh tuổi khắc và nếu gặp khắc thì cản trở ngăn cấm.
Về điểm này, các khoa số, trong đó có Tử Vi được tham khảo triệt để. Cho nên khoa Tử Vi là bộ môn có ảnh hưởng đến sự hợp tan giữa trai gái sắp lập gia đình.
Trong khoa Tử Vi có nhiều yếu tố giúp tiên đoán sự sinh khắc này. Tựu chung có 4 lối được sử dụng :
- Cách tính hai tuổi dựa theo Can;
- Cách tính hai tuổi dựa theo Chi;
- Cách tính hai tuổi dựa theo Bản Mệnh;
- Cách tính hai tuổi dựa theo hai lá số;
Chỉ riêng có cách thức sau cùng là khả chấp nhất, vì cách thức này dựa vào nhiều yếu tố phối hợp nhau của cung và của sao.
Sự khắc hợp giữa trai gái tính theo Can
Có tất cả 10 Can : Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Tuổi nào cũng do một Can đứng đầu.
Việc sinh khắc giữa trai gái tùy theo 2 Can của 2 tuổi trai gái hợp nhau hay phá nhau. Khi hợp thì có triển vọng tốt, khi phá thì xấu.
Năm trường hợp tốt
Bao giờ so hai Can mà thấy rơi vào 1 trong 5 trường hợp dưới đây thì gọi là hợp.
- Giáp hợp Kỷ
- Ất hợp Canh
- Bính hợp Tân
- Đinh hợp Nhâm
- Mậu hợp Quý
Sự kết hợp đảo ngược cũng có nghĩa tốt. Ví dụ như Giáp hợp Kỷ thì Kỷ cũng hợp Giáp. Đây là sự tương hợp, nghĩa là Can này hợp Can kia và ngược lại, chớ không phải chỉ hợp có một chiều (Nên lưu ý tương hợp thì 2 chiều, còn tương sinh ngũ hành chỉ có một chiều; Mộc sinh Hỏa chớ Hỏa không sinh Mộc).
Mười trường hợp xấu
Khi nào so 2 Can mà thấy rơi vào một trong 10 trường hợp dưới đây thì gọi là phá.
- Giáp phá Mậu
- Ất phá Kỷ
- Bính phá Canh
- Đinh phá Tân
- Mậu phá Nhâm
- Kỷ phá Quý
- Canh phá Giáp
- Tân phá Ất
- Nhâm phá Bính
- Quí phá Đinh
Điều đầu tiên phải lưu ý là trong trường hợp phá, sự phá chỉ có một chiều. Chẳng hạn như Giáp phá Mậu chớ Mậu không phá lại Giáp mà phá Nhâm. Nhâm không phá Mậu mà phá Bính.
Nói một cách cụ thể thì nếu trai tuổi Giáp, gái tuổi Mậu, tuổi cô gái bị phá. Điều này không có nghĩa là cậu trai đắc lợi vì dù sao, khi tuổi cậu phá tuổi cô, hạnh phúc phải bị sứt mẻ, cậu cũng bị ảnh hưởng. Duy ở đây tuổi nào bị phá thì bị nặng hơn.
Vì có năm cách hợp mà có đến mười cách phá nên có người cho rằng cách phá nhiều hơn. Thật sự, nếu xét kỹ, thì trong 5 cách hợp, sự hợp có tính chất hai chiều, thành thử coi như mười cách hợp.
Nếu xét về âm dương của 10 Can, chúng ta thấy rằng :
- Trong năm cách hợp, bao giờ cũng có một Can dương hợp với một Can âm, không khi nào sai lệch;
- Trong mười cách phá, bao giờ hai can cũng đồng dương, hoặc đồng âm;
- Nhưng không phải bất cứ Can dương nào cũng hợp với Can âm một cách đương nhiên;
- Và cũng không phải bất cứ 2 can dương (hay âm nào phá nhau);
Cách hợp và cách phá có tính cách nhất định cho 2 can nhất định nào đó mà thôi.
Điều đáng nhận xét là có một số Can không hợp và cũng không phá nhau. Ví dụ như Ất và Mậu, không thấy nằm trong cách hợp nào hay phá cách nào. Có lẽ đây là trường hợp bình thường, không phá có thể coi như hợp.
Sự khắc hợp trai gái tính theo Chi
Có tất cả 12 Chi : Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Mỗi chi là một tuổi, và cho một con vật tượng hình. Không hiểu tại sao người xưa lại lựa 12 con vật đó. Có người cho đây là những tên gọi suông chớ không có ý nghĩa gì.
Vấn đề hợp
Có người cho rằng phải lấy quy tắc phối chiếu và quy tắc nhị hợp để xét hai tuổi trai gái. Theo quy tắc phối chiếu thì 3 tuổi trong mỗi bộ dưới đây hợp nhau :
- Dần, Ngọ, Tuất
- Thân, Tý, Thìn
- Tỵ, Dậu, Sửu
- Hợi, Mão, Mùi
Như trong bộ đầu, tuổi Dần hợp với tuổi Ngọ và tuổi Tuất, tuổi Ngọ hợp với tuổi Tuất và tuổi Dần, tuổi Tuất hợp với tuổi Dần và tuổi Ngọ.
Ngoài ra, theo quy tắc nhị hợp thì có 6 bộ :
- Tý hợp Sửu
- Dần hợp Hợi
- Mão hợp Tuất
- Thìn hợp Dậu
- Tỵ hợp Thân
- Ngọ hợp Mùi
Thật sự hai loại quy tắc này không phải để xét tuổi trai gái mà để định cách phối chiếu trong 2 lá số. Những chữ Dần, Ngọ, Tuất ... là tên các cung chớ không phải tên các tuổi. Không thể lấy quy tắc phối chiếu giữa các cung làm quy tắc sinh hợp giữa các tuổi. Thành thử, quan điểm này không đúng.
Có quan điểm thứ hai dựa vào đặc tính của các con thú trong 12 chi để tìm hiểu sự xung khắc. Ví dụ như dân quê Việt Nam nói rằng tuổi Dần sẽ hợp với tuổi Tý vì không bao giờ cọp lại ăn thịt chuột.
Tóm lại, nếu tính như trên thì không có căn cứ vững chãi.
Vấn đề khắc
Có quan điểm cho rằng có 6 loại tuổi khắc nhau :
- Tý, Ngọ
- Mão, Dậu
- Dần, Thân
- Tỵ, Hợi
- Thìn, Tuất
- Sửu, Mùi
Có lẽ quan điểm này dựa trên quy tắc khắc của ngũ hành vì Tý thuộc Thuỷ thì khắc Ngọ thuộc Hỏa : Dần thuộc Kim thì khắc Mão thuộc Mộc, Hợi thuộc Thuỷ thì khắc Tỵ thuộc Hỏa. Duy đối với Thìn tuất và Sửu mùi thì có thể không tham chiếu được ngũ hành vài cả 4 tuổi này đều thuộc thổ, mà Thổ không bao giờ khắc nhau.
Thành thử quan điểm kể trên chỉ ứng dụng được cho 4 loại tuổi: Tý khắc Ngọ, Dậu khắc Mão, Thân khắc Dần, Hợi khắc Tỵ mà thôi. Và nếu chiếu theo quy tắc khắc của Ngũ hành thì chỉ có khắc một chiều mà thôi, tức là Tý khắc Ngọ, nhưng Ngọ không khắc Tý. Duy đứng trên phương diện hạnh phúc vợ chồng mà xét thì tuổi này khắc tuổi kia dù là một chiều cũng đủ mệt cho đôi trẻ lắm rồi, nếu quy tắc khắc đó đúng trên thực tế.
Có quan điểm thứ hai dựa vào thú tính của 12 con vật để tìm cách suy diễn sự xung khắc. Đại để như nói rằng Tỵ (con rắn) khắc Sửu (con trâu) vì rắn cắn chết trâu, nhưng trâu không ăn được rắn... Nói như thế có lẽ con rắn vô địch vì có thể cắn chết các thú khác trừ phi đối với rồng! Một lần nữa quan điểm này không ổn.
Tóm lại, quan điểm khắc hợp tính theo chi nhìn chung có tính cách hời hợt, không đáng làm căn bản để định tuổi sinh hợp hay đối khắc với nam nữ.
Sự khắc hợp giữa trai gái tính theo Bản Mệnh
Ngoài con giáp còn có chính hành khí mà mỗi người mang theo từ lúc chào đời.
Những yếu tố phải cứu xét
Trong bất cứ bản mệnh nào cũng có hai yếu tố dính liền nhau, đó là hành vi của bản mệnh và nguyên thể có thể tính của hành đó. Ví dụ : Hải Trung Kim Mệnh có hành kim, nguyên thể là kim ở giữa biển. Hành và nguyên thể cùng phối hợp xác định tính chất của Bản mệnh. Nhờ hai yếu tố đó, người ta đoán sự phong phú, sự bất túc của Bản mệnh và hiệu quả của nó. Ví dụ như Kiếm Phong Kim là vàng ở đấu mũi kiếm: dây là loại vàng hiếm hoi, ít ỏi cho nên không phong túc.
Tính ra có 30 loại Bản Mệnh cho 60 tuổi, nghĩa là cứ hai tuổi thì có chung một Bản Mệnh. Mặt khác, mỗi hành có 6 nguyên thể khác nhau, vị chi 5 hành có 30 nguyên thể, được xếp theo bảng liệt kê dưới đây.
| Tuổi | Tên gọi Bản Mệnh | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Giáp Tý, Ất Sửu | Hải trung Kim | Vàng dưới biển |
| Bính Dần, Đinh Mão | Lò trung Hỏa | Lửa trong lò |
| Mậu Thìn, Kỷ Tỵ | Đại lâm Mộc | Cây trong rừng lớn |
| Canh Ngọ, Tân Mùi | Lộ bàng Thổ | Đất giữa đường |
| Nhâm Thân, Quý Dậu | Kiếm phong Kim | Vàng ở mũi kiếm |
| Giáp Tuất, Ất Hợi | Sơn đầu Hỏa | Lửa trên núi |
| Bính Tý, Đinh Sửu | Giản hạ Thủy | Nước dưới khe |
| Mậu Dần, Kỷ Mão | Thành đầu Thổ | Đất trên mặt thành |
| Canh Thìn, Tân Tỵ | Bạch lạp Kim | Vàng trong nến trắng |
| Nhâm Ngọ, Quý Mùi | Dương liễu Mộc | Gỗ cây liễu |
| Giáp Thân, Ất Dậu | Tuyền trung Thủy | Nước dưới suối |
| Bính Tuất, Đinh Hợi | Ốc thượng thổ | Đất trên nóc nhà |
| Mậu Tý, Kỷ Sửu | Tích lịch Hỏa | Lửa sấm sét |
| Canh Dần, Tân Mão | Tùng bách Mộc | Gỗ cây tùng, bách |
| Giáp Ngọ, Ất Mùi | Sa trung Kim | Vàng trong cát |
| Bính Thân, Đinh Dậu | Sơn hạ Hỏa | Lửa dưới chân núi |
| Mậu Tuất, Kỷ Hợi | Bình địa Mộc | Cây ở đồng bằng |
| Canh Tý, Tân Sửu | Bích thượng Thổ | Đất trên vách |
| Nhâm Dần, Quý Mão | Kim bạc Kim | Vàng pha loài kim sắc trắng |
| Giáp Thìn, Ất Tỵ | Phú đăng Hỏa | Lửa ngọn đèn lớn |
| Bính Ngọ, Đinh Mùi | Thiên hà Thủy | Nước ở sông trên trời |
| Mậu Thân, Kỷ Dậu | Đại dịch Thổ | Đất thuộc một khu lớn |
| Canh Tuất, Tân Hợi | Thoa xuyến Kim | Vàng làm trang sức |
| Nhâm Tý, Quý Sửu | Tang đố Mộc | Gỗ cây dâu |
| Giáp Dần, Ất Mão | Đại khê Thủy | Nước dưới khe lớn |
| Bính Thìn, Đinh Tỵ | Sa trung Thổ | Đất lẫn trong cát |
| Mậu Ngọ, Kỷ Mùi | Thiên thượng Hỏa | Lửa trên trời |
| Canh Thân, Tân Dậu | Thạch lựu Mộc | Gỗ cây thạch lựu |
| Nhâm Tuất, Quý Hợi | Đại hải Thủy | Nước trong biển lớn |
Ý nghĩa của bản mệnh trên đây chỉ là sự diễn âm của Bản mệnh gọi bằng hán văn. Đây không phải là sự giải thích đặc tính của Bản mệnh, và không có sách nào giải thích nguyên thể của Bản mệnh hết. Điều này khiến cho việc luận đoán trở thành bất bênh vì mạnh ai nấy giải thích theo lối riêng của mình.
Những quy tắc sinh khắc được suy diễn
Việc xét đoán vấn đề khắc hay hợp giữa hai Bản mệnh bao giờ cũng được căn cứ trên hai điểm :
- xét về mặt sinh khắc ngũ hành;
- xét về thể tính để tìm mức độ sinh khắc;
sự kết hợp hai điểm trên đưa đến ba hướng : sinh, khắc và hòa.
Sinh
Ví dụ trai có Mệnh là Lộ bằng Thổ (đất ở giữa đường), gái có Mệnh là Kiếm phong Kim (vàng ở mũi kiếm). Xét về hành thì có tương sinh vì Thổ sinh Kim : bản mệnh của chồng sinh được Bản mệnh của vợ.
Tuy nhiên, việc hợp sinh này có người cho là không được toàn mỹ vì đất ở giữa đường ít khi có vàng ra ngoài, đất có chứa thứ vàng ở mũi kiếm là một sự hiếm có, thường là không thể có được.
Do đó, xét về hành vi thì hợp, còn xét về thể tính thì cái hợp đó mong manh, hàm ý rằng hạnh phúc hai người tuy có, nhưng ít oi. Thật ra, kết luận như thế chẳng bổ ích gì cho lắm vì đa số vợ chồng ăn ở với nhau ít ra cũng phải có điểm gì hạnh phúc. Nói lên cái hạnh phúc ít oi đó là một việc quá tầm thường. Duy người ta cũng dựa vào đó để tìm mức độ sinh hợp, dù là tầm thường và không có bao nhiêu ý nghĩa. Những ai dễ tính mới tạm thỏa mãn trên mức độ chung chung như vậy. Chẳng may đó là phương cách thông dụng.
Khắc
Ví dụ Bản mệnh con trai là Đại hải Thủy (nước trong biển lớn), Bản mệnh của con gái là Sơn đầu Hỏa (lửa trên núi). Xét về hành thì tương khắc vì Thuỷ khắc Hỏa, Bản mệnh con trai khắc Bản mệnh con gái.
Nhưng xét về Bản mệnh thể tính, sự đối khắc đó không có gì quan trọng, vì nước dưới biển cả không dập tắt lửa trên núi. Vì vậy, có người kết luận rằng khắc mà không thể khắc được! Điểm mâu thuẫn đến thế là cùng. Cho dù ta chấp nhận tạm cái kết luận kỳ quặc đó, ta cũng không tiên đoán nổi hình thái của hạnh phúc ở mức độ nào.
Ví dụ đó cho thấy rằng việc sinh hay việc khắc rất là mơ hồ. Có những cái khắc thật sự, có những cái khắc giả tạo. Về sinh cũng thế. Thành ra chữ sinh, chữ khắc không được rõ ràng. Duy tập tục luận đoán khắc hợp này coi như nhất định vậy rồi, vấn đề là mỗi người chấp nhận nó đến mức độ nào thôi.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc
