Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Yếu tố Âm Dương Ngũ Hành khi giải đoán cung Mệnh và Bản Mệnh

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn29/09/20267 phút đọc5 lượt đọc
Yếu tố Âm Dương Ngũ Hành khi giải đoán cung Mệnh và Bản Mệnh

Có người đoán số chỉ dựa vào thuyết âm dương ngũ hành làm gốc, có người lại đặt nặng riêng ý nghĩa các sao, xem nhẹ hẳn phần ngũ hành. Cả hai chỉ là thói quen riêng, không phải khảo hướng chính thống của thuật Tử-Vi: thiếu một trong hai nền tảng, lời giải đoán sẽ mất đi một phần căn bản...


Có người đoán số chỉ dựa vào thuyết âm dương ngũ hành làm gốc, có người lại đặt nặng riêng ý nghĩa các sao, xem nhẹ hẳn phần ngũ hành. Cả hai chỉ là thói quen riêng của người xem số, không phải khảo hướng chính thống của thuật Tử-Vi: thiếu một trong hai nền tảng, lời giải đoán sẽ mất đi một phần căn bản.

Những yếu tố cần phải cứu xét

Tập quán các người đoán số thường thiên về một trong hai xu hướng: họ cho rằng khoa Tử-Vi lấy thuyết âm dương ngũ hành làm gốc, cho nên phải dựa vào gốc mà suy diễn; có người lại ít chú ý đến âm dương ngũ hành mà trái lại, đặt nặng ý nghĩa các sao. Họ giải đoán lá số bằng sự phối hợp ý nghĩa các sao. Âm Dương Ngũ Hành của sao bị coi nhẹ, thậm chí có thể bỏ qua ít nhiều mà không làm mất sự chính xác của kết luận.

Hai xu hướng trên xét ra chỉ là hai thói quen của người đoán số chớ không phải là khảo hướng chính thống của thuật Tử-Vi. Khoa Tử-Vi đã đặt để cho các sao nhiều ý nghĩa, đồng thời cũng đề ra qui luật sinh khắc của âm dương ngũ hành. Giá trị của khoa Tử-Vi nằm trong giá trị của các vì sao và giá trị của âm dương ngũ hành phối hợp nhau. Thiếu một cái, Tử-Vi mất một căn bản. Cho nên, người giải đoán phải cứu xét cả 2 mặt của vấn đề, 2 nền tảng của khoa lý số, không được bỏ qua hay coi nhẹ nền tảng nào. Người đoán phải hội tụ tối đa các dữ kiện mới có thể cân nhắc chính xác, đầy đủ và cụ thể được. Ta không nên theo một tập quán nào, mà phải, ngay từ đầu, tập thói quen vận dụng đồng loạt 2 xu hướng để khỏi rơi vào phiến diện sai lầm. Đây là nguyên tắc chỉ đạo quan trọng.

Để thông điểm này, ta cần liệt kê các yếu tố phải vận dụng. Có thể chia 5 loại yếu tố cơ hữu của lá số: các yếu tố âm dương ngũ hành; các yếu tố cách, cục; các yếu tố cung; các yếu tố sao; yếu tố thời gian tức hạn.

Các yếu tố Âm Dương Ngũ Hành

Có hai loại yếu tố: một thuộc âm dương, một thuộc ngũ hành.

Yếu tố âm dương

Phải xem Âm dương của tuổi với âm dương của cung an Mệnh. Có 2 trường hợp tốt và 2 trường hợp xấu.

Trường hợp tốt chỉ có khi nào: tuổi Dương (Dương Nam hay Dương Nữ) mà Mệnh đóng ở cung dương (Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất); tuổi Âm (Âm Nam hay Âm Nữ) mà Mệnh đóng ở cung âm (Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi).

Trường hợp xấu gồm có: tuổi Dương (Dương Nam hay Dương Nữ) mà Mệnh đóng ở cung Âm; tuổi Âm (Âm Nam hay Âm Nữ) mà Mệnh đóng ở cung Dương.

Hai trường hợp tốt gọi là Âm Dương thuận lý hay Âm Dương hoà hợp. Còn xấu gọi là nghịch lý hay xung khắc. Sự thuận lý này lôi cuốn theo sự thuận lý của cung Thân (bao giờ cũng đồng âm tính hay dương tính với cung Mệnh), đồng thời cũng lôi cuốn theo sự thuận lý của những cung cường trong lá số (Phúc, Quan, Di, Tài, Phu Thê). Như vậy, được hòa hợp thì lợi 3 mối, còn nếu xung khắc thì đối chọi 3 mối.

Phải xem âm dương tính của sao với âm dương tính của cung. Tốt khi nào sao dương đóng cung dương, sao âm đóng cung âm. Xấu thì ngược lại.

Yếu tố ngũ hành

Phải xem sinh khắc giữa Bản Mệnh và Cục. Có 5 trường hợp có thể xảy ra: Cục sinh Bản Mệnh là tốt nhất; Bản Mệnh sinh Cục là tốt nhì; Cục hòa Bản Mệnh là trung bình; Bản Mệnh khắc Cục là xấu vừa; Cục khắc Bản Mệnh là xấu nhất.

Nói chung, hễ có tương sinh thì tốt, tương khắc thì xấu, tị hòa thì trung bình. Bảng liệt kê ở trên còn giúp phân biệt cả mức độ tốt, mức độ xấu trong cái sinh và cái khắc.

Tưởng cần nhắc lại để nhớ quy tắc sinh khắc: về sinh, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc. Về khắc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc.

Phải xem sinh khắc giữa 3 yếu tố sau qua 2 hệ cấp: hành cung Mệnh với hành chính tinh thủ Mệnh; hành chính tinh thủ Mệnh với hành của Bản Mệnh. Có cung Mệnh có 1 chính tinh, có khi có 2 chính tinh đồng cung, có khi không có chính tinh. Vì vậy, cần phân biệt 3 trường hợp khi xét 3 yếu tố trên.

Trường hợp 1: Cung Mệnh không có chính tinh. Nếu hành cung Mệnh phù sinh cho hành Bản Mệnh thì tốt. Trái lại, nếu khắc Bản Mệnh thì xấu.

Trường hợp 2: Cung Mệnh có một chính tinh. Sự sinh khắc giữa cung Mệnh, chính tinh thủ Mệnh và Bản Mệnh đưa đến 9 thế phối trí dưới đây:

Tương quan về ngũ hành giữa cung Mệnh (CM), chính tinh thủ Mệnh (ChT) và Bản Mệnh (BM)
Cung Mệnh → Chính tinhChính tinh → Bản MệnhĐánh giá
SinhSinhTốt nhất
HòaSinhTốt nhì
SinhHòaTốt ba
HòaHòaTốt bốn
KhắcSinhVừa
KhắcHòaXấu bốn
SinhKhắcXấu ba
HòaKhắcXấu nhì
KhắcKhắcXấu nhất

Trường hợp 3: Cung Mệnh có 2 chính tinh đồng cung. Nếu lập bảng liệt kê thì rất phức tạp mà không hữu dụng bao nhiêu. Chỉ cần nắm vững qui tắc sau: nếu Bản Mệnh được sinh ở 2 hệ cấp bởi cả 2 sao thì tốt nhất. Bị khắc ở 2 hệ cấp bởi cả 2 sao thì tệ hại nhất. Bản Mệnh được sao nào sinh thì thịnh về phía sao đó, bị sao nào khắc thì xấu về phía sao đó. Chỉ nên chú ý đến hệ cấp sinh khắc thứ 2 giữa chính tinh với Bản Mệnh. Sự phân biệt sinh khắc ở hệ cấp thứ nhất làm phức tạp việc đánh giá. Trên thực tế, nếu có đôi khắc chút ít giữa 2 trường hợp, điều đó không mấy quan trọng ở hệ cấp thứ nhất.

Phải xét đến lợi địa của cung an Mệnh với hành của Bản Mệnh. Về điểm này, xin tham chiếu chương 2 nói về Lá Số tối hảo, mục bàn đến sinh địa, vượng địa, bại địa và tuyệt địa của cung an Mệnh. Tốt nhất là cung Mệnh ở sinh địa. Tốt nhì là ở vượng địa. Xấu nhất là tuyệt địa. Xấu nhì là ở bại địa. Nếu không rơi vào trường hợp nào của bảng liệt kê thì bình thường không có gì đáng nói.

Phải xét hành của chính tinh và hành phụ tinh. Trong mọi trường hợp tương sinh giữa sao chính và sao phụ thì tốt, tương khắc thì xấu. Đó là nói chung. Đi vào chi tiết có nhiều trường hợp phức tạp hơn: nếu chính tinh hãm địa (có ý nghĩa bất lợi) mà được phụ tinh đồng cung khắc được hành chính tinh này thì sự bất lợi được chế giảm. Ví dụ: Liêm Trinh ở Tỵ và Hợi thì hãm địa (có nghĩa bị hình ngục, bị kiện tụng). Nhưng, nếu được Hóa Kỵ đồng cung thì mối họa có thể giảm được ít nhiều (hoặc được tha bổng, hoặc bị điều tra mà thôi, hoặc bị án treo cũng có thể không bị gì cả). Sở dĩ như thế là vì Liêm Trinh là sao Hỏa sẽ bị Hóa Kỵ, sao Thủy khắc chế, nhờ đó tai họa hình tụng sẽ giảm bớt hoặc mất hẳn (nếu Phúc, Mệnh, Thân, Hạn đều tốt).

Cũng trong ý tưởng đó, chính tinh đắc địa (có ý nghĩa tốt) mà bị giáp sát tinh cũng đắc địa có hành khắc chế hành của chính tinh, thì cái tốt của chính tinh không còn nguyên vẹn.

Ngay tại điểm này, mà việc giải đoán Tử-Vi bị chẻ ra làm 2 hướng: một hướng dùng ngũ hành để gia giảm nghĩa của sao; một hướng chỉ căn cứ vào ý nghĩa của sao với nhau mà kết luận. Kỳ thực, phải cố dung hòa cả 2 hướng theo đúng phương pháp tổng hợp của khoa Tử-Vi.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn