Bài tổng quan
Phép định Cục: nạp âm bằng thơ và bằng bàn tay
Mười thiên can, ghép đôi thành năm câu thơ, giấu trong từng chữ một bộ chữ Hán chỉ rõ hành nào. Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử gọi phép tìm Cục là mục khó nhất của khoa Tử Vi lập thành. Ai không biết chữ Hán vẫn có lối đi riêng, gói trong một bài thơ khác, bấm trên đầu ngón tay…
Mười thiên can, ghép đôi thành năm câu thơ, giấu trong từng chữ một bộ chữ Hán chỉ rõ hành nào: chấm thủy, bộ mộc, bộ hỏa, bộ thổ, bộ kim. Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử gọi phép tìm Cục là "một mục rất quan trọng, và coi như khó nhất của khoa Tử Vi lập thành". Ai không biết chữ Hán vẫn có lối đi riêng, gói trong một bài thơ khác, bấm trên đầu ngón tay…
Phương pháp thứ nhất: nạp âm bằng bài thơ chữ Hán
Trước hết phải tìm xem tuổi thuộc can nào của thập thiên can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Đã được xếp sẵn song hành cùng nhau cho việc tìm cục như sau: Giáp Kỷ, Ất Canh, Bính Tân, Đinh Nhâm, Mậu Quý, coi như một bài thơ, đọc xuôi luôn là: Giáp Kỷ, Ất Canh, Bính Tân, Đinh Nhâm, Mậu Quý — cứ 2 chữ một chữ, như Giáp Kỷ, rồi Ất Canh v.v… Để sau này gặp tuổi có can nào, đọc câu thơ của can ấy lên, sẽ biết được cục của nó là cục gì ngay.
Cần nhận xét bài thơ sau đây, vì trong mỗi chữ, đều có sẵn bộ chấm thủy, bộ mộc, chữ kim, chữ hỏa, chữ thổ, như thế có thể biết ngay thuộc cục nào của ngũ cục. Thí dụ: chữ Giang có chấm thủy sẽ là Thủy nhị cục; chữ Đăng có bộ hỏa sẽ là Hỏa lục cục; chữ Giá có bộ mộc sẽ là Mộc tam cục; chữ Bích có bộ thổ sẽ là Thổ ngũ cục; chữ Ngân có bộ kim sẽ là Kim tứ cục.
Nhập tâm bài thơ tìm cục này
Giáp Kỷ: Giang Đăng Giá Bích Ngân
Ất Canh: Yên Cảnh Tích Mai Tân
Bính Tân: Đề Liễu Ba Ngân Trúc
Đinh Nhâm: Mai Tiễn Chước Hải Trần
Mậu Quý: Ngân Ba Đôi Chước Liễu
Ngũ hành lập cục tẩu như vân
Tuất Hợi nhị cung vô điểm chí
Cục tòng Dần Mão cục ví chân.
Bảng liệt kê các chữ của bài thơ nếu biết chữ Hán
Vì nếu biết chữ Hán, đọc chữ Giang có chấm thủy, đã biết ngay là Thủy nhị cục rồi. Các chữ kia cũng đều như thế cả.
| Hàng can | 5 chữ của bài thơ | 5 cục tương ứng |
|---|---|---|
| Giáp Kỷ | Giang – Đăng – Giá – Bính – Ngân | Thủy 2 cục – Hỏa 6 cục – Mộc 3 cục – Thổ 5 cục – Kim 4 cục |
| Ất Canh | Yên – Cảnh – Tích – Mai – Tâm | Hỏa 6 cục – Thổ 5 cục – Kim 4 cục – Mộc 3 cục – Thủy 2 cục |
| Bính Tân | Đề – Liễu – Ba – Ngân – Trúc | Thổ 5 cục – Mộc 3 cục – Thủy 2 cục – Kim 4 cục – Hỏa 6 cục |
| Đinh Nhâm | Mai – Tiễn – Chước – Hải – Trần | Mộc 3 cục – Kim 4 cục – Hỏa 6 cục – Thủy 2 cục – Thổ 5 cục |
| Mậu Quý | Ngân – Ba – Đôi – Chước – Liễu | Kim 4 cục – Thủy 2 cục – Thổ 5 cục – Hỏa 6 cục – Mộc 3 cục |
Chú ý: khi tính cục thì cứ 2 cung, kể là một chữ trong bài thơ. Thí dụ chữ Giang chung cả hai cung Tý và Sửu, chữ Đăng chung cả hai cung Dần và Mão. Tất cả 5 câu thơ để tìm cục cùng khởi từ cung Tý Sửu, và 1 chữ là cục chung của hai cung, khi thấy cung Mạnh cư ở hai cung ấy. Hai cung Dần và Mão thuộc cục nào, thì hai cung Tuất và Hợi thuộc cục ấy — là do nghĩa ở hai câu thơ cuối cùng: "Tuất Hợi nhị cung vô điểm chí, cục tòng Dần Mão cục vi chân."
Tập nạp âm và bấm cung
Thí dụ tuổi sinh thuộc can Giáp hay Kỷ: tự hình dung Giáp hay Kỷ trong trí nhớ. Miệng nạp âm Giang, thời ngón tay cái bắt đầu chấm vào cung Tý rồi Sửu (vì hai cung Tý Sửu ăn chung một chữ Giang, hay bất kể chữ nào của bài thơ, cũng một chữ tính chung cho 2 cung cả). Kế tiếp miệng nạp âm Đăng tay bấm vào 2 cung Dần rồi Mão. Kế tiếp miệng nạp âm Giá tay bấm vào 2 cung Thìn rồi Tỵ. Kế tiếp miệng nạp âm Bích tay bấm vào 2 cung Ngọ rồi Mùi. Kế tiếp miệng nạp âm Ngân tay bấm vào 2 cung Thân rồi Dậu. Như thế là hết câu thơ nạp âm của hàng can Giáp và Kỷ, nhưng còn thiếu hai cung Tuất và Hợi chưa có Cục — hãy lấy cục của hai cung Mão Dần làm cục cho 2 cung Tuất Hợi. Đấy là cách tập nạp âm bấm cung cho tất cả các hàng can của bài thơ. Khi nạp âm điểm cung, nên nhớ gặp Mạnh tại cung nào, ngưng tại cung ấy, cũng như nạp âm ngưng tại chữ nào là cục ấy vậy.
Tuổi Giáp Kỷ, dùng câu thơ Giang Đăng Giá Bích Ngân: Mạnh cư cung Tý và Sửu gặp chữ Giang là Thủy nhị cục; Mạnh cư cung Dần và Mão gặp chữ Đăng là Hỏa lục cục; Mạnh cư cung Thìn và Tỵ gặp chữ Giá là Mộc tam cục; Mạnh cư cung Ngọ và Mùi gặp chữ Bích là Thổ ngũ cục; Mạnh cư cung Thân và Dậu gặp chữ Ngân là Kim tứ cục; Mạnh cư cung Tuất và Hợi gặp chữ Đăng là Hỏa lục cục — hai cung Tuất và Hợi là Đăng vì cũng như Dần Mão. Ghi nhớ: Mạnh cư 2 cung tính chung 1 cục; cục của 2 cung Dần Mão là cục của hai cung Tuất Hợi; hai quy luật này áp dụng chung cho cả 10 hàng can.
Tuổi Ất Canh, dùng câu thơ Yên Cảnh Tích Mai Tân: Mạnh cư cung Tý Sửu là Hỏa lục cục; Mạnh cư cung Dần Mão là Thổ ngũ cục; Mạnh cư cung Thìn Tỵ là Kim tứ cục; Mạnh cư cung Ngọ Mùi là Mộc tam cục; Mạnh cư cung Thân Dậu là Thủy nhị cục; Mạnh cư cung Tuất Hợi là Thổ ngũ cục.
Tuổi Bính Tân, dùng câu thơ Đề Liễu Ba Ngân Trúc: Mạnh cư cung Tý Sửu là Thổ ngũ cục; Mạnh cư cung Dần Mão là Mộc tam cục; Mạnh cư cung Thìn Tỵ là Thủy nhị cục; Mạnh cư cung Ngọ Mùi là Kim tứ cục; Mạnh cư cung Thân Dậu là Hỏa lục cục; Mạnh cư cung Tuất Hợi là Mộc tam cục.
Tuổi Đinh Nhâm, dùng câu thơ Mai Tiễn Chước Hải Trần: Mạnh cư cung Tý Sửu là Mộc tam cục; Mạnh cư cung Dần Mão là Kim tứ cục; Mạnh cư cung Thìn Tỵ là Hỏa lục cục; Mạnh cư cung Ngọ Mùi là Thủy nhị cục; Mạnh cư cung Thân Dậu là Thổ ngũ cục; Mạnh cư cung Tuất Hợi là Kim tứ cục.
Tuổi Mậu Quý, dùng câu thơ Ngân Ba Đôi Chước Liễu: Mạnh cư cung Tý Sửu là Kim tứ cục; Mạnh cư cung Dần Mão là Thủy nhị cục; Mạnh cư cung Thìn Tỵ là Thổ ngũ cục; Mạnh cư cung Ngọ Mùi là Hỏa lục cục; Mạnh cư cung Thân Dậu là Mộc tam cục; Mạnh cư cung Tuất Hợi là Thủy nhị cục.
Thiên Cơ Nam Mạnh ca
Cơ-Nguyệt Thiên-Lương hợp Thái-dương.
Thường nhân phú túc trí điền trang.
Quan viên đắc ngộ Khoa Quyền Lộc.
Chức vị cao thiên diện Đế Vương.
Thí dụ tìm cục
Đương số sinh ngày mồng 8 tháng 4, năm Bính Dần, giờ Mão. Như trên đã lập được Mạnh tại cung Dần, và biết tuổi thuộc hàng can Bính (Bính Dần). Can Bính thuộc câu thơ Bính Tân: Đề Liễu Ba Ngân Trúc. Nạp âm câu thơ để tìm ra cục nào: sẽ thấy chữ Đề cho hai cung Tý Sửu, chữ Liễu cho hai cung Dần Mão — chữ Liễu là Mộc, đụng nhằm cung Dần có Mạnh lập tại Dần, như vậy cục của đương số là Mộc tam cục. Đã tìm thấy cục rồi, sẽ tiếp tục tìm xem Tử Vi thuộc Mộc tam cục ở cung nào, để an chòm Tử Vi tinh hệ và chòm Thiên Phủ tinh hệ.
Thái Dương Nam Mạnh ca
Mạnh lý Dương phùng phúc thọ nùng.
Cánh kim Quyền Lộc lưỡng tương phùng.
Khôi Xương Tả Hữu lai tương tấu.
Phương pháp thứ hai: định cục không cần biết chữ Hán
Nếu biết chữ Hán, thì bài thơ trên thật là đơn giản, vì đọc đến đâu sẽ biết ngay được cục gì, bởi mỗi chữ Giang, Đăng hay các chữ khác của bài thơ định cục đều có các chữ kim, chữ mộc hay chữ thủy ẩn ở trong. Nhưng nếu không biết chữ Hán, thì nên theo phương pháp dưới đây để dễ ghi nhớ hơn, thường là phương pháp của các thầy hành nghề thiếu thị giác. Trên mặt bàn tay trái, sau khi phân chia ra vị trí các cung thập nhị địa chi, ta hãy chia bàn tay thành 2 phần: phần trên có các cung Thìn Tỵ, Ngọ Mùi, và Thân Dậu; phần dưới có các cung Dần Mão, Tý Sửu, và Tuất Hợi.
Định cục cho 6 cung phần trên bàn tay
Nguyên tắc định cục: Mạnh cư hai cung kề lại là một cục. Vì thập thiên can như một bài thơ nhập tâm, nhập tâm luôn thứ tự thập can này — vì chỉ có năm hàng thứ tự mà thôi, và hai hàng can đều dùng chung 1 câu thơ để nạp âm tìm cục.
Bài thơ định cục của 6 cung thuộc nửa trên bàn tay
Mộc Thổ Kim
Kim Mộc Thủy
Thủy Kim Hỏa
Hỏa Thủy Thổ
Thổ Hỏa Mộc
Vì bài thơ thập can có 5 hàng, bài thơ định cục cũng có 5 hàng. Thí dụ: khi muốn tìm cục cho tuổi thuộc can Giáp hay can Kỷ, đọc hàng thứ nhất của bài thơ định cục Mộc Thổ Kim, dùng ngón tay cái bấm vào 6 cung trên của bàn tay — cứ 1 chữ Mộc, hay Thổ hay Kim ăn chung 2 cung; thấy Mạnh cư cung nào, nạp âm ngưng tại cung ấy: nạp âm gặp chữ Mộc biết là Mộc tam cục, nạp âm gặp chữ Thổ biết là Thổ ngũ cục, nạp âm gặp chữ Kim biết là Kim tứ cục. Muốn tìm cục cho 2 can Ất Canh, đọc câu Kim Mộc Thủy mà nạp âm, vì Ất Canh thuộc thứ tự hàng 2, cũng là thứ tự hàng 2 của bài thơ định cục. Muốn tìm cục cho 2 can Bính và Tân, đọc câu Thủy Kim Hỏa mà nạp âm, vì Bính Tân thuộc thứ tự hàng 3. Muốn tìm cục cho 2 can Đinh và Nhâm, đọc câu Hỏa Thủy Thổ mà nạp âm, vì Đinh Nhâm thuộc thứ tự hàng 4. Muốn tìm cục cho 2 can Mậu và Quý, đọc câu Thổ Hỏa Mộc mà nạp âm, vì Mậu Quý thuộc thứ tự hàng 5.
Vũ Khúc Nam Mạnh ca
Vũ-khúc thủ mạnh hóa vi quyền.
Cát diệu lai lâm phúc thọ tuyền.
Chí khí chênh vênh đa xuất chúng
Siêu phàm nhập thánh hướng nhân tiền.
| Hàng can | Cung An Mạnh: Thìn Tỵ | Cung An Mạnh: Ngọ Mùi | Cung An Mạnh: Thân Dậu |
|---|---|---|---|
| Giáp Kỷ (thơ định cục hàng 1) | Mộc tam cục | Thổ ngũ cục | Kim tứ cục |
| Ất Canh (thơ định cục hàng 2) | Kim tứ cục | Mộc tam cục | Thủy nhị cục |
| Bính Tân (thơ định cục hàng 3) | Hỏa nhị cục | Kim tứ cục | Thủy lục cục |
| Đinh Nhâm (thơ định cục hàng 4) | Hỏa lục cục | Thủy nhị cục | Thổ ngũ cục |
| Mậu Quý (thơ định cục hàng 5) | Thổ ngũ cục | Hỏa lục cục | Mộc tam cục |
Định cục cho 4 cung phần dưới bàn tay
Phần dưới của bàn tay gồm 6 cung là Mão Dần, Sửu Tý, Hợi Tuất, cũng dùng bài thơ thập thiên can, và chỉ cần ghi nhớ thứ tự 5 hàng của nó, để định cục cho 4 cung Mão, Dần, Sửu, Tý ở phần dưới bàn tay. Vì 2 cung Mão Dần thuộc cục nào, 2 cung Tuất Hợi thuộc cục ấy. Hơn nữa nguyên tắc định cục, thời 2 cung nhập chung 1 cục, nên bài thơ này chỉ có 2 chữ mà thôi.
Bài thơ định cục phần dưới bàn tay
Hỏa Thủy
Thổ Hỏa
Mộc Thổ
Kim Mộc
Thủy Kim
Nguyên tắc áp dụng: khi thấy Mạnh cư tại các cung thuộc phần dưới của bàn tay, muốn tìm cục cho tuổi thuộc can Giáp hay Kỷ, đọc hàng thứ nhất của bài thơ định cục phần dưới bàn tay này là Hỏa Thủy, dùng ngón tay cái bấm vào 4 cung Mão, Dần, Sửu, Tý — cứ mỗi chữ Hỏa hay Thủy ăn hai cung; thấy Mạnh cư cung nào, ngưng nạp âm tại cung ấy: nạp âm gặp chữ Hỏa biết là Hỏa lục cục, nạp âm gặp chữ Thủy biết là Thủy nhị cục. Nếu Mạnh cư cung Tuất Hợi, thì lấy cục của 2 cung Mão Dần làm cục của 2 cung Tuất Hợi. Muốn tìm cục cho 2 can Ất Canh, đọc câu thơ thứ 2 Thổ Hỏa để nạp âm. Muốn tìm cục cho 2 can Bính Tân, đọc câu thơ thứ 3 Mộc Thổ để nạp âm. Muốn tìm cục cho 2 can Đinh Nhâm, đọc câu thơ thứ 4 Kim Mộc để nạp âm. Muốn tìm cục cho 2 can Mậu Quý, đọc câu thơ thứ 5 Thủy Kim để nạp âm. Riêng cục của 2 cung Tuất Hợi là cục của 2 cung Dần Mão.
| Hàng can | Cung An Mạnh: Mão Dần | Cung An Mạnh: Sửu Tý |
|---|---|---|
| Giáp Kỷ | Hỏa lục cục | Thủy nhị cục |
| Ất Canh | Thổ ngũ cục | Hỏa lục cục |
| Bính Tân | Mộc tam cục | Thổ ngũ cục |
| Đinh Nhâm | Kim tứ cục | Mộc tam cục |
| Mậu Quý | Thủy nhị cục | Kim tứ cục |
Cục của 2 cung Mão Dần luôn luôn là cục của 2 cung Tuất Hợi. Xin quan sát kỹ càng các hình thí dụ để áp dụng định cục cho 4 hàng can đôi còn lại là Ất Canh, Bính Tân, Đinh Nhâm, Mậu Quý. Cùng một định luật tìm cục này, khi đã hiểu biết nguyên tắc của tuổi Giáp và Kỷ một cách kỹ càng, sau khi tập nạp âm và bấm cung, sẽ rất dễ dàng cho các tuổi khác khi muốn tìm cục.
Nạp âm tìm cục cho tuổi Giáp Kỷ: chữ Hỏa chung cho 2 cung Dần Mão là Hỏa lục cục, chữ Thủy chung cho 2 cung Sửu Tý là Thủy nhị cục. Hai cung Tuất Hợi bỏ trống không phải nạp âm, vì cục của 2 cung Dần Mão là cục của 2 cung Tuất Hợi. Ghi nhớ: Mạnh cư 2 cung tính chung 1 cục; cung Mạnh gặp chữ Hỏa là Hỏa lục cục, cung Mạnh gặp chữ Thủy là Thủy nhị cục.
Một thí dụ chung để nhận xét
Đương số sinh ngày mồng 8 tháng 4, năm Bính Dần, giờ Mão. Như trên đã lập được Mạnh tại cung Dần, và biết tuổi thuộc hàng can Bính (Bính Dần); cung Dần ở phần dưới của bàn tay. Can Bính thuộc câu thơ thứ 3: Mộc Thổ. Nạp âm của câu thơ Mộc Thổ để tìm cục gì: sẽ thấy chữ Mộc gặp Mạnh tại cung Dần, như vậy là đương số thuộc Mộc tam cục. Tiếp tục tìm Tử Vi ở cung nào, để an chòm Tử Vi tinh hệ và chòm sao Thiên Phủ tinh hệ.
Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.
