Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Cách lập lá số Tử Vi trên giấy và trên bàn tay

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn29/09/202613 phút đọc4 lượt đọc
Cách lập lá số Tử Vi trên giấy và trên bàn tay

Một tờ giấy trắng chia làm mười hai ô vuông, một cây bút, và giờ sinh của một người — chỉ chừng đó là đủ để dựng nên trọn vẹn một lá số Tử Vi. Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử chỉ ra từng bước một, từ cung Tý đến cung Hợi, để ai cũng có thể tự tay lập lá số cho mình, thậm chí ngay trên…


Một tờ giấy trắng chia làm mười hai ô vuông, một cây bút, và giờ sinh của một người — chỉ chừng đó là đủ để Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử dựng nên trọn vẹn một lá số Tử Vi. Từ cung Tý đến cung Hợi, từ ngày giờ sinh ra vị trí của sao Tử Vi và sao Thiên Phủ, tác giả chỉ ra từng bước một, để ai cũng có thể tự tay lập lá số cho mình. Với người đã thuộc lòng các quy tắc ấy, lá số còn có thể hiện ra ngay trên…

Khởi sự định cung

Lấy một tờ giấy chia làm 12 ô (cung) tùy theo khuôn giấy lớn nhỏ. Mỗi ô được định danh là một cung. Khởi từ cung ghi số 1 là cung Tý, ô số 2 là cung Sửu, ô số 3 là cung Dần, ô số 4 là cung Mão, ô số 5 là cung Thìn, ô số 6 là cung Tỵ, ô số 7 là cung Ngọ, ô số 8 là cung Mùi, ô số 9 là cung Thân, ô số 10 là cung Dậu, ô số 11 là cung Tuất và ô số 12 là cung Hợi.

Hình vẽ thí dụ 12 cung địa bàn Tử Vi
Hình vẽ thí dụ: mười hai cung địa bàn, đánh số từ cung Tý.

Thập nhị địa chi là tên dùng để chỉ 12 năm như thường, nghe nói tuổi Tý, tuổi Dần, tuổi Hợi… được dùng để chỉ cho 12 cung trong một lá số, thường gọi là Địa Bàn, mà vị trí ở địa bàn này không thay đổi như hình trên, khởi từ cung Tý… tới cung Hợi.

An xong 12 cung cố định rồi, còn một khoảng trống giữa dùng để ghi danh hiệu, năm, tháng, giờ sinh: đương số thuộc Âm hay Dương, thuộc Nam hay Nữ — vì nam có âm nam, hay dương nam, và nữ có âm nữ, hay dương nữ; đương số mạng thuộc hành nào của ngũ hành; và thuộc cục nào của ngũ cục. Khoảng trống giữa được gọi là cung Thiên Bàn. Tùy theo nam hay nữ mà ghi ở cung Thiên Bàn, và ba mục trên sẽ được phân định, nhưng tạm gác lại để định giờ sinh trước.

Phép định giờ và cung Thiên Bàn

Một ngày và một đêm là 24 giờ đồng hồ, cứ 2 giờ của đồng hồ là 1 giờ theo âm lịch để tính số Tử Vi. Giờ âm lịch được tính kể từ không giờ tức là 24 giờ đến 2 giờ là giờ Tý, và cứ tuần tự tính 2 giờ của đồng hồ là 1 giờ âm lịch là Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất và giờ Hợi tức là 22 giờ tới 24 giờ.

Khung giờ hiện hànhGiờ âm lịch
0 giờ – 2 giờTý
2 giờ – 4 giờSửu
4 giờ – 6 giờDần
6 giờ – 8 giờMão
8 giờ – 10 giờThìn
10 giờ – 12 giờTỵ
12 giờ – 14 giờNgọ
14 giờ – 16 giờMùi
16 giờ – 18 giờThân
18 giờ – 20 giờDậu
20 giờ – 22 giờTuất
22 giờ – 24 giờHợi

Định phân cung số

Khoa Tử Vi được chia thành 12 cung là các cung kê sau: Mạnh viên để chỉ tính mạng của mình; Huynh đệ chỉ anh em; Phu quân (thê thiếp) tùy theo Nam hay Nữ; Tử tức chỉ con cái; Tài bạch chỉ tiền của; Tật ách chỉ bệnh hoạn; Thiên di chỉ xuất ngoại; Nô bộc là bạn bè và gia nhân; Quan lộc là nghề nghiệp, hoạn lộ; Điền trạch là cửa nhà ruộng vườn; Phúc đức là phúc ấm của nhà mình; Phụ mẫu là cha mẹ. Và một cung thứ 13 nữa là cung Thân, chỉ cuộc đời mình sẽ phong trần hay vinh hoa ra sao.

Phép an cung Mạnh

Biết được giờ sinh thuộc chi nào của giờ âm lịch theo Tý Sửu rồi, bắt đầu tính từ cung Dần (cung số 3) là tháng giêng, mỗi cung một tháng, tính theo chiều thuận tới tháng sinh. Kể luôn cung ấy là giờ Tý, tính theo chiều nghịch tới giờ sinh, ngưng tại cung nào, kể cung ấy là cung Mạnh, và viết Mạnh viên vào cung ấy.

Chiều thuận và chiều nghịch

Chiều thuận và chiều nghịch được tính theo vòng kim đồng hồ. Thí dụ ở Tử Vi: người sinh tháng 4 giờ Dần. An cung Mạnh, tháng sinh tính thuận: khởi tháng giêng ở cung Dần, tháng hai ở cung Mão, tháng ba ở cung Thìn, tháng tư tới cung Tỵ cho người sinh tháng tư, như vậy là thuận theo kim đồng hồ. An Mạnh giờ sinh tính nghịch: khởi giờ Tý ở cung Tý là cung ngưng lại là tháng tư, giờ Sửu ở cung Thìn, giờ Dần ở cung Mão cho người sinh giờ Dần, như vậy là nghịch theo kim đồng hồ. Sau khi ghi Mạnh viên rồi, kế tiếp theo chiều nghịch, an các cung khác là Huynh, Thê (Phu nếu là phái Nữ), Tử, Tài, Ách, Di, Nô, Quan, Điền, Phúc, Phụ, cho đủ 12 cung, chỉ cần viết tắt 1 chữ như vậy là đủ hiểu.

Phép an Thân

Kể cung Dần là tháng giêng, mỗi cung một tháng, tính theo chiều thuận tới tháng sinh. Kể luôn cung ấy là giờ Tý, tính luôn theo chiều thuận tới giờ sinh, ngưng lại cung nào, an Thân ở cung ấy. Vị trí Thân chỉ ở 6 cung: Mạnh, Thê (Phu), Tài, Di, Quan, Phúc. Nếu ở vào 6 cung khác là sai.

Phép tìm Cục theo hàng Thiên Can

Khi an xong Mạnh và Thân, muốn an được 2 chòm sao Tử Vi và chòm sao Thiên Phủ, phải căn cứ vào hàng thiên can của tuổi, và Mạnh an ở cung nào mới tìm ra Cục được. Thập thiên can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, được chia đi đôi với nhau để tìm cục như: Giáp Kỷ, Ất Canh, Bính Tân, Đinh Nhâm, Mậu Quý. Nên luôn luôn nhớ là: phải biết thiên can của tuổi can là gì, và Mạnh cư ở cung nào trong 12 cung. Thường gọi là ngũ cục như sau: Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục, Hỏa lục cục.

Bảng liệt kê 10 hàng can và cung an Mạnh để tìm Cục

Tuổi (thiên can)Cung an MạnhCục
Giáp và KỷTý, SửuThủy nhị cục
Dần, Mão, Tuất, HợiHỏa lục cục
Thìn, TỵMộc tam cục
Ngọ, MùiThổ ngũ cục
Thân, DậuKim tứ cục
Ất và CanhTý, SửuThổ lục cục
Dần, Mão, Tuất, HợiThổ ngũ cục
Thìn, TỵKim tứ cục
Ngọ, MùiMộc tam cục
Thân, DậuThủy nhị cục
Bính và TânTý, SửuThổ ngũ cục
Dần, Mão, Tuất, HợiMộc tam cục
Thìn, TỵThủy nhị cục
Ngọ, MùiKim tứ cục
Thân, DậuHỏa lục cục
Đinh và NhâmTý, SửuMộc tam cục
Dần, Mão, Tuất, HợiKim tứ cục
Thìn, TỵHỏa lục cục
Ngọ, MùiThủy nhị cục
Thân, DậuThổ ngũ cục
Mậu và QuýTý, SửuKim tứ cục
Dần, Mão, Tuất, HợiThủy nhị cục
Thìn, TỵThổ ngũ cục
Ngọ, MùiHỏa lục cục
Thân, DậuMộc tam cục

Phép an sao Tử Vi

Tử Vi an theo cục và ngày sinh. Vậy phải tìm xem Tử Vi cố định ở vị trí nào trên 12 cung, và Tử Vi tinh đổi vị trí tùy theo mỗi cục. Dưới đây là bảng kê vị trí của Tử Vi theo ngày sinh, ứng với từng cục trong năm cục.

Bảng vị trí Tử Vi theo ngày sinh — Thủy nhị cục
Vị trí Tử Vi theo ngày sinh thuộc Thủy nhị cục.
Bảng vị trí Tử Vi theo ngày sinh — Mộc tam cục
Vị trí Tử Vi theo ngày sinh thuộc Mộc tam cục.
Bảng vị trí Tử Vi theo ngày sinh — Kim tứ cục
Vị trí Tử Vi theo ngày sinh thuộc Kim tứ cục.
Bảng vị trí Tử Vi theo ngày sinh — Thổ ngũ cục
Vị trí Tử Vi theo ngày sinh thuộc Thổ ngũ cục.
Bảng vị trí Tử Vi theo ngày sinh — Hỏa lục cục
Vị trí Tử Vi theo ngày sinh thuộc Hỏa lục cục.

Khi biết được vị trí và an Tử Vi xong, theo chiều nghịch mà an Thiên Cơ, bỏ cách một cung an Thái Dương tiếp theo Vũ Khúc, đến Thiên Đồng, bỏ cách hai cung và an sao Liêm Trinh. Tử Vi tinh hệ gồm 6 sao: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng và Liêm Trinh.

Phép an chòm sao Thiên Phủ

Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân. Chòm sao Thiên Phủ an theo chiều thuận, các sao liên tiếp theo các cung, chỉ trừ sao Phá Quân thì bỏ cách đi 3 cung: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát mỗi cung 1 sao, và bỏ cách 3 cung mới an sao Phá Quân ở cung thứ 4.

Muốn biết sao Thiên Phủ ở cung nào, xin coi trên bảng ghi vị trí của sao Tử Vi và Thiên Phủ hiện hành trên 12 cung. Nếu muốn an số trên bàn tay, nên nhập tâm hai bản đối chiếu vị trí Thiên Phủ với Tử Vi này. Riêng cung Dần và cung Thân thì Tử Vi và Thiên Phủ bao giờ cũng cư đồng cung. Hai cung Tỵ và Hợi: Tử Vi ở cung Tỵ thì Thiên Phủ ở cung Hợi; và Thiên Phủ ở cung Tỵ thì Tử Vi ở cung Hợi.

Thí dụ: Tử Vi ở cung Mùi thì sao Thiên Phủ ở cung Dậu. Tử Vi ở cung Ngọ thì sao Thiên Phủ ở cung Tuất. Tử Vi ở cung Tỵ thì sao Thiên Phủ ở cung Hợi. Tử Vi ở cung Thìn thì sao Thiên Phủ ở cung Tý. Tử Vi ở cung Mão thì sao Thiên Phủ ở cung Sửu. Và vị trí của Tử Vi, Thiên Phủ cũng ngược lại như vậy khi đổi chiều. Như vậy là đã lập được một lá số gồm có Mạnh và Thân đủ 12 cung, an luôn được chòm sao Tử Vi gồm 6 sao và chòm sao Thiên Phủ gồm 8 sao, cộng lại là 14 chính tinh.

Lập được lá số trên giấy rồi, Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử còn chỉ thêm một cách khác: dựng cả mười hai cung ấy ngay trên mười ngón tay, để không cần giấy bút mà vẫn an được Mạnh, được Thân bất cứ lúc nào.

Cách lập thành Tử Vi trên bàn tay

Nhận diện 12 cung trên bàn tay

Khi đã biết được năm tháng, ngày giờ sinh, để ngửa bàn tay trái, và hình dung các cung trên bàn tay theo một số lá số Tử Vi an trên giấy, sẽ có các cung như hình vẽ. Tập nhìn đi nhìn lại cho quen các địa chỉ, tức là các cung: Tý số 1, Sửu số 2, Dần số 3, Mão số 4, Thìn số 5, Tỵ số 6, Ngọ số 7, Mùi số 8, Thân số 9, Dậu số 10, Tuất số 11, và Hợi số 12, thường gọi là địa bàn gồm 12 cung, mà 12 địa chỉ Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi, gắn liền với cung cố định không thay đổi.

Cách an Mạnh trên bàn tay

Sau khi phân định được vị trí của 12 cung, nhất là cung Dần và biết giờ sinh thuộc chi nào của Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi, dùng ngón tay cái để tính số. Bắt đầu tính cung Dần là tháng giêng, mỗi cung một tháng, tính theo chiều thuận đến tháng sinh. Kể cung ấy là giờ Tý, tính theo chiều nghịch tới giờ sinh, ngưng tại cung nào, an Mạnh ở cung ấy. Kể tiếp an các cung khác theo chiều nghịch, nhưng chỉ dùng một chữ đầu như Mạnh, Huynh,… Phụ mà thôi: Mạnh viên, Huynh đệ, Thê thiếp (hay Phu quân), Tử tức, Tài bạch, Tật ách hay giải ách, Thiên di, Nô bộc, Quan lộc, Điền trạch, Phúc đức, và cuối cùng là Phụ mẫu.

Các công thức cần nhập tâm — Tử Vi Nam Mạnh ca

Thuộc lòng và nhìn nhận vị trí mười hai cung trên bàn tay. Danh đề của 12 tuổi, tên của 12 cung, và 12 giờ sinh đều lấy chung ở thập nhị địa chi là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Nên thuộc lòng theo thứ tự của 12 địa chi này để dễ dàng về sau. Nhập tâm các danh từ trên 12 cung, bằng cách vắn tắt chỉ dùng 1 chữ đầu của các cung: Mạnh, Huynh, Thê, Tử, Tài, Ách, Di, Nô, Quan, Điền, Phúc, Phụ.

Tử Vi Nam Mạnh ca

Tử-vi thiên trung đệ nhất tinh.
Mạnh Thân tương ngộ phúc tài hưng.
Nhược phùng tướng tá cung trung hội.
Phú quý song toàn bá lạnh danh.

Tập đối chiếu hình vẽ bàn tay và cách lập Mạnh, Thân

Tập nhìn nhận vị trí cung Dần để biết an Mạnh và Thân; vị trí cung Tý, cung Ngọ, cung Thìn, cung Tuất — hai cung Thìn và Tuất dùng để khởi tính các sao.

Áp dụng trên bàn tay, cách lập Mạnh: thí dụ người sinh ngày 8 tháng 4, năm Bính Dần. Tháng sinh tính thuận tới cung Tý ngưng lại, giờ sinh tính nghịch với cung Mão ngưng lại. Cách lập Thân: khởi từ cung Dần là tháng giêng, tính thuận tới tháng sinh, ngưng lại cung nào, kể cung ấy là giờ Tý, tính thuận tới giờ sinh, ngưng tại cung nào, lập Thân ở cung ấy.

Nhận xét: Thân lập tại cung Thiên Di vì tháng sinh tính thuận ngưng tại cung Tỵ, giờ sinh tính thuận ngưng tại cung Thân.

Bảng liệt kê cung Thân — Thân cư tại các cung theo giờ sinh: sinh giờ Tý thì Mạnh và Thân cư đồng cung; sinh giờ Ngọ thì Mạnh và Thân cũng đồng cung; sinh giờ Sửu, giờ Mùi thì Thân cư Phúc đức; sinh giờ Dần, giờ Thân thì Thân cư Quan lộc; sinh giờ Mão, giờ Dậu thì Thân cư Thiên di; sinh giờ Thìn, giờ Tuất thì Thân cư Tài bạch; sinh giờ Tỵ, giờ Hợi thì Thân cư Thê thiếp (Phu). Nên lưu tâm một chút sẽ nhớ được: sinh giờ nào thì Thân sẽ cư cung nào, mà không cần phải lập cung Thân nữa, vì đã nhập tâm rồi. Nên dùng bàn tay bấm cung, tính thử độ năm lần sẽ thực nghiệm được ngay.

Tử Vi Nam Mạnh ca

Hỏa Linh Dương Đà lai tương hội.
Thất Sát đồng cung đa bất quý.
Khi nhân cô độc cánh hình thương.
Nhược thị không-môn vi cát lợi.

Bốn cung Tứ Mộ và các cung xung chiếu

Cần ghi nhớ vị trí 4 cung Thìn – Tuất và Sửu – Mùi để làm tiêu chuẩn, giúp cho sự nhập tâm các cung khác, vì 2 cung Thìn, Tuất để khởi tính các sao, và 2 cung Sửu, Mùi thường hay có cách giáp biên. Bốn cung Thìn Tuất Sửu Mùi thường gọi là Tứ Mộ. Nên luôn tập ghi nhớ các cung này trên bàn tay: 2 cung Thìn Tuất xung chiếu để an các sao thuận nghịch, 2 cung Sửu Mùi thường có cách giáp biên.

Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn