Bài tổng quan
Lợi điểm ngũ hành và sinh vượng địa của cung an Mệnh
Một bảng số Mộc gặp đúng nước lạnh thì cây tươi tốt, nhưng cũng bảng số ấy nếu lệch sang nước nóng thì cây lại héo úa không ngờ. Giữa muôn vàn sắc thái sinh khắc như thế, khoa Lý số học còn phân ra bốn cấp đất khác nhau cho cung an Mệnh, mỗi cấp mang một sắc thái vượng suy riêng...
Một bảng số có Âm Dương thuận lý đã là điều đáng mừng, nhưng người xem số kỹ tính còn muốn hỏi thêm: Ngũ Hành trong bảng số ấy có ăn khớp với nhau không, và bản thân cung an Mệnh đang đứng ở đất sống hay đất chết? Hai câu hỏi này dẫn sang một tầng lớp lợi điểm khác, tinh vi hơn, đòi hỏi người luận đoán phải nhìn xuyên suốt ba lớp thông tin cùng lúc: Bản Mệnh, cung an Mệnh và ngôi sao tọa thủ.
Nếu lợi điểm về Âm Dương chỉ xét một phép thuận nghịch đơn giản giữa hai cực, thì lợi điểm về Ngũ Hành lại đòi hỏi nhìn cả một chuỗi quan hệ sinh khắc nối tiếp nhau, từ gốc là Bản Mệnh của tuổi sinh, qua trung gian là Cục số và Chính Tinh, cho đến ngọn là vị trí cụ thể của cung an Mệnh trên địa bàn mười hai cung. Chính vì phải xâu chuỗi nhiều lớp như vậy nên phần này thường bị xem là khó nắm bắt hơn phần Âm Dương, nhưng bù lại, một khi nắm được nguyên tắc, người xem số có thể suy ra rất nhiều biến thể chỉ từ một số quy luật gốc.
Ba tầng tương sinh làm nên lợi điểm Ngũ Hành
Khi xét lợi điểm về Ngũ Hành cho một cung Mệnh cực tốt, giới nghiên cứu Lý số học không chỉ nhìn một cặp quan hệ mà xét liền ba tầng tương sinh, mỗi tầng góp một phần vào sự vượng suy chung của đương số.
Tầng thứ nhất: Bản Mệnh và Cục
Lớp quan hệ gốc rễ nhất là giữa Bản Mệnh của tuổi sinh với Cục số được lập ra từ năm, tháng, ngày, giờ sinh. Nếu hành của Cục sinh ra hành của Bản Mệnh, đây là trường hợp lợi nhất: đương số được nuôi dưỡng ngay từ gốc, ví như một đứa trẻ sinh ra đã có sẵn nguồn sữa dồi dào chờ sẵn chứ không phải tự mình đi tìm. Trường hợp ngược lại, Bản Mệnh sinh Cục, thế cũng còn tốt nhưng kém hơn, vì Bản Mệnh phải bỏ sức ra nuôi Cục chứ không được nuôi lại, chẳng khác nào một người vừa mới lớn đã phải gánh vác, chăm lo cho người khác trước khi kịp tích lũy cho riêng mình. Còn nếu Bản Mệnh và Cục đồng một hành, chỉ được xem là mức trung bình, không tốt không xấu, vì thiếu hẳn dòng chảy tương sinh, hai bên chỉ đứng cạnh nhau chứ không nương tựa, bồi đắp cho nhau.
Ba khả năng này áp dụng đều cho cả năm loại Bản Mệnh. Một người Bản Mệnh Thủy mà lập được Cục Kim, thì Kim sinh Thủy, thuộc hàng lợi nhất. Một người Bản Mệnh Kim mà lập Cục Thủy thì ngược lại, Kim phải sinh Thủy, chỉ đạt mức khá chứ không phải mức lợi tối đa. Một người Bản Mệnh Hỏa mà lập đúng Cục Hỏa thì hai hành trùng nhau, chỉ ở mức trung bình. Cách suy luận này cứ theo đó mà áp dụng cho các cặp Mộc với Thổ, Thổ với Kim, không có gì khác biệt về nguyên tắc.
Tầng thứ hai: cung Mệnh, Chính Tinh và Bản Mệnh nối tiếp nhau
Lớp thứ hai đi xa hơn một bậc: xét sự tương sinh nối tiếp giữa hành của cung Mệnh, hành của Chính Tinh tọa thủ tại Mệnh, rồi từ Chính Tinh ấy sinh tiếp cho Bản Mệnh. Ví dụ cung Mệnh mang hành Mộc, có Chính Tinh mang hành Hỏa tọa thủ; Mộc sinh Hỏa là hợp lý đầu tiên. Nếu Bản Mệnh của đương số lại là Thổ, thì Hỏa sinh Thổ là hợp lý thứ hai. Cả hai lớp sinh nối tiếp cộng lại khiến Bản Mệnh được hưởng lợi gấp đôi, ví như một dòng nước chảy qua hai bậc thang đều xuôi chiều, càng chảy càng mạnh. Trường hợp cung Mệnh không có Chính Tinh tọa thủ, tức vô chính diệu, thì phép tính rút ngắn lại còn một bậc: chỉ cần hành của cung Mệnh trực tiếp sinh cho Bản Mệnh là đủ, nhưng vì thiếu mất một tầng phù trợ nên lợi điểm loại này bị xem là kém hơn nhiều so với trường hợp đủ hai tầng.
Tầng thứ ba: hành của cung và hành của sao tọa thủ
Lớp thứ ba không riêng cho cung Mệnh mà áp dụng cho bất cứ cung nào trên toàn bộ bảng số: hễ hành của cung sinh ra hành của sao đang tọa thủ tại đó, bất kể là Chính Tinh hay phụ tinh, đều được xem là lợi. Quy tắc này lý giải vì sao cùng một ngôi sao Hỏa Tinh, khi tọa thủ tại một cung mang hành Mộc lại được xem là vượng phát hơn hẳn so với khi đứng ở những cung mang hành khác, bởi Mộc sinh Hỏa khiến ngọn lửa ấy cháy đúng chỗ, đúng thời. Cùng một nguyên lý, một ngôi sao mang hành Thổ mà tọa thủ tại cung mang hành Hỏa cũng được lợi tương tự, vì Hỏa sinh Thổ khiến đất thêm màu mỡ; một ngôi sao hành Kim đứng tại cung hành Thổ cũng vậy, vì Thổ sinh Kim khiến quặng kim thêm dồi dào.
Ngược lại, nếu hành của cung và hành của sao ở thế tương hòa, tức là ngang vai ngang vế không sinh không khắc, thì lợi điểm cũng chỉ dừng ở mức kém, không đáng kể, vì hai bên không có sự bồi đắp nào cho nhau, chỉ đơn thuần cùng tồn tại. Còn nếu chẳng may hành của cung lại khắc ngược hành của sao, coi như ngôi sao ấy bị giam hãm ngay tại chỗ đứng của mình, muốn phát huy hết sở trường cũng khó, đây là điều mà quy tắc lợi điểm Ngũ Hành ở tầng thứ ba không nói thẳng ra nhưng có thể suy ra từ chiều ngược lại của nguyên tắc tương sinh.
Xét trọn ba tầng Ngũ Hành xong, người luận số còn phải quay lại nhìn chỗ đứng của chính cung an Mệnh: nó đang tọa ở vùng đất nào trong bốn cấp sinh, vượng, bại, tuyệt.
Bốn cấp đất của cung an Mệnh: sinh, vượng, bại, tuyệt
Nhiều nhà Lý số học đã hệ thống hóa quan hệ giữa Bản Mệnh và cung an Mệnh thành một bảng tra cứu riêng, gọi là bảng liệt kê lợi và bất lợi, xếp theo năm loại Bản Mệnh Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy đối chiếu với bốn cấp đất của cung Mệnh.
| Bản Mệnh | Sinh địa | Vượng địa | Bại địa | Tuyệt địa |
|---|---|---|---|---|
| Mộc | Hợi (Âm Thủy – nước lạnh) | Dần (Dương Mộc), Mão (Âm Mộc) | Tý (Dương Thủy – nước nóng) | Thân (Dương Kim – kim cứng) |
| Hỏa | Dần (Dương Mộc – cây to khô) | Tị (Âm Hỏa), Ngọ (Dương Hỏa) | Mão (Âm Mộc – cây nhỏ ướt) | Hợi (Âm Thủy – nước lạnh) |
| Thổ | Tị (Âm Hỏa – lửa ấm) | Thìn, Tuất (Dương Thổ), Sửu, Mùi (Âm Thổ) | Ngọ (Dương Hỏa – lửa nóng) | Dần (Dương Mộc – cây to lớn) |
| Kim | Thìn, Tuất (Dương Thổ – đất nóng) | Thân (Dương Kim), Dậu (Âm Kim) | Sửu, Mùi (Âm Thổ – đất lạnh) | Ngọ (Dương Hỏa – lửa nóng) |
| Thủy | Dậu (Âm Kim – kim lỏng) | Hợi (Âm Thủy), Tý (Dương Thủy) | Thân (Dương Kim – kim đặc) | Thìn, Tuất (Dương Thổ – đất nóng) |
Nhìn vào bảng trên, có thể quy về bốn khái niệm gốc. Sinh địa là chỗ vừa thuận Âm Dương vừa thuận Ngũ Hành. Vượng địa chỉ cần thuận Ngũ Hành mà không đòi hỏi thuận Âm Dương. Tuyệt địa là chỗ nghịch cả Âm Dương lẫn Ngũ Hành. Bại địa là chỗ tuy thuận Ngũ Hành nhưng lại nghịch Âm Dương.
Sinh địa và vượng địa: hai mức độ của cái lợi
Cung Mệnh chỉ thật sự được xem là đứng ở đất lợi khi rơi vào sinh địa hoặc vượng địa. Mệnh Mộc chỉ đạt sinh địa khi gặp Âm Thủy, tức nước lạnh, vì nước lạnh mới đủ mềm mại để nuôi cây tươi tốt chứ không cuốn trôi rễ. Mệnh Hỏa chỉ đạt sinh địa khi gặp Dương Mộc, cây to và khô, dễ bén lửa mà cháy được lâu dài. Mệnh Thổ chỉ đạt sinh địa khi gặp Âm Hỏa, lửa ấm, hơi ấm thấm vào lòng đất vừa phải chứ không nung đất đến khô cằn. Mệnh Kim chỉ đạt sinh địa khi gặp Dương Thổ, đất nóng nằm sâu, đúng là nơi sinh ra quặng kim. Mệnh Thủy chỉ đạt sinh địa khi gặp Âm Kim, tức Kim khí đang ở trạng thái chảy lỏng, mới đủ sức sinh ra dòng nước.
Vượng địa thì dễ đạt hơn, chỉ cần Ngũ Hành giữa Bản Mệnh và cung Mệnh tị hòa nhau, không cần đúng cả Âm Dương. Nhìn lại bảng liệt kê, mỗi Bản Mệnh đều có hai vị trí vượng địa cùng một hành nhưng khác cực Âm Dương: Mệnh Mộc vượng tại Dần lẫn Mão, Mệnh Hỏa vượng tại Tị lẫn Ngọ, Mệnh Thổ vượng tại cả bốn cung Thìn Tuất Sửu Mùi, Mệnh Kim vượng tại Thân lẫn Dậu, Mệnh Thủy vượng tại Hợi lẫn Tý. Ở mức này còn phân biệt thêm một lớp tinh tế: người tuổi Dương hợp với cung Dương, người tuổi Âm hợp với cung Âm. Chẳng hạn Dương Nam hay Dương Nữ Mệnh Mộc mà cung Mệnh đóng tại Dần, tức Dương Mộc, thì hợp cách. Âm Nam hay Âm Nữ Mệnh Mộc mà cung Mệnh đóng tại Mão, tức Âm Mộc, cũng hợp cách không kém. Nhưng nếu đảo ngược, Dương Nam Dương Nữ Mệnh Mộc mà cung Mệnh lại đóng ở Mão, hay Âm Nam Âm Nữ Mệnh Mộc mà cung Mệnh lại đóng ở Dần, thì vẫn thuộc vượng địa nhưng ở mức kém hơn, vì tuổi và cung lệch pha Âm Dương với nhau. Nguyên tắc phân biệt tuổi Dương hợp cung Dương, tuổi Âm hợp cung Âm này áp dụng chung cho cả năm loại Bản Mệnh chứ không riêng gì Mệnh Mộc, chỉ là sách chọn Mệnh Mộc làm ví dụ minh họa vì dễ hình dung nhất qua hình ảnh cây cối.
Tuyệt địa: khi Bản Mệnh bị khắc từ cả hai phía
Nếu sinh địa mang lại lợi ích lớn bao nhiêu thì tuyệt địa gây hại nặng bấy nhiêu, vì đây là trường hợp Bản Mệnh bị khắc cùng lúc bởi cả Âm Dương lẫn Ngũ Hành nghịch lý. Mệnh Hỏa mà cung Mệnh đóng ở Hợi, tức Âm Thủy, nước lạnh sẽ dập tắt ngọn lửa không thương tiếc. Mệnh Kim mà cung Mệnh đóng ở Ngọ, tức Dương Hỏa, lửa nóng sẽ đốt cho Kim khí tan chảy, mất hẳn hình hài trọn vẹn. Theo cùng lối suy luận ấy, Mệnh Mộc mà cung Mệnh đóng ở Thân, tức Dương Kim, kim khí cứng rắn sẽ chặt đứt cây cối; Mệnh Thổ mà cung Mệnh đóng ở Dần, tức Dương Mộc, cây to lớn sẽ cắm rễ sâu, làm nứt vỡ đất; Mệnh Thủy mà cung Mệnh đóng ở Thìn hay Tuất, tức Dương Thổ, đất nóng sẽ hút cạn nước cho đến khô kiệt. Trong mọi trường hợp tuyệt địa, cái thế thuần nhất vốn có của bảng số bị phá tán bởi cả hai chiều nghịch lý cộng lại, khiến cung Mệnh trở thành cực kỳ bất lợi cho đương số, gần như không còn đường sinh lộ nào khả dĩ.
Bại địa: nghịch Âm Dương nhưng còn đường sống
Bại địa nhẹ hơn tuyệt địa một bậc, vì tuy Ngũ Hành vẫn thuận nhưng Âm Dương lại nghịch lý. Ví dụ người Mệnh Mộc mà cung Mệnh đóng tại Tý, tức Dương Thủy, nước nóng, sẽ không được lợi vì nước nóng làm cây héo úa chứ không tươi tốt như khi gặp nước lạnh. Dù vậy, cây có héo chứ chưa hẳn đã chết, nên bại địa còn giữ được một đường sinh lộ nhất định, khác hẳn tuyệt địa vốn gần như tuyệt đường sống. Cùng nguyên lý ấy, Mệnh Hỏa mà cung Mệnh đóng tại Mão, tức Âm Mộc, cây nhỏ còn ướt, sẽ khó lòng bén lửa mạnh mẽ như khi gặp cây to khô ở sinh địa; Mệnh Kim mà cung Mệnh đóng tại Sửu hay Mùi, tức Âm Thổ, đất lạnh, sẽ không đủ ấm để hun đúc quặng kim cho tinh khiết; Mệnh Thủy mà cung Mệnh đóng tại Thân, tức Dương Kim, kim khí đã đặc cứng lại, cũng không sinh nước được dồi dào như khi gặp Kim ở trạng thái lỏng.
Trong cùng một trường hợp bại địa, mức độ bất lợi còn tùy vào chất liệu của Bản Mệnh: nếu Mệnh thuộc loại thảo mộc nhỏ bé như Bình địa Mộc, tức cỏ ở đồng bằng, hay Dương liễu Mộc, tức cây dương liễu mảnh mai, thì chịu bất lợi nặng hơn hẳn so với Mệnh thuộc loại cây lớn như Đại lâm Mộc, cây trong rừng già, hay Tùng bách Mộc, cây tùng cây bách vốn dẻo dai chịu đựng được nghịch cảnh. Nói cách khác, cùng chịu chung một cảnh bại địa, nhưng nạp âm càng vững chãi thì sức chống chịu càng cao, còn nạp âm càng mong manh thì càng dễ lung lay trước nghịch cảnh của Âm Dương. Đây cũng là lý do vì sao khi luận đoán một bảng số cụ thể, người xem số không thể chỉ dừng ở việc tra bảng lợi bất lợi mà còn phải đối chiếu thêm nạp âm chi tiết của từng tuổi mới mong có kết luận chính xác.
Toàn bộ hệ thống bốn cấp đất sinh, vượng, bại, tuyệt cho thấy khoa Lý số học không dừng lại ở việc phân biệt tốt xấu một cách thô sơ, mà đi sâu vào từng sắc thái nhỏ: cùng là bất lợi nhưng bại địa khác tuyệt địa, cùng là một loại Ngũ Hành nhưng cây lớn chịu đựng khác cây nhỏ. Sự phân tích tỉ mỉ ấy cho thấy khoa Lý số học khá tinh vi trong nhiều trường hợp, không hề đơn giản như cái nhìn thoáng qua của người ngoại đạo.
Gộp chung lại, ba tầng tương sinh về Ngũ Hành và bốn cấp đất của cung an Mệnh thực ra chỉ là hai mặt của cùng một câu hỏi: bảng số này đang nuôi dưỡng đương số hay đang bòn rút đương số? Ba tầng tương sinh nhìn vào dòng chảy năng lượng giữa Bản Mệnh, Cục, Chính Tinh và sao tọa thủ; còn bốn cấp đất nhìn thẳng vào vị trí không gian mà cung Mệnh đang chiếm giữ trên địa bàn mười hai cung. Một bảng số được xem là cực tốt về mặt Ngũ Hành phải hội đủ cả hai: vừa có dòng tương sinh xuôi chiều từ Cục đến Bản Mệnh, vừa có cung an Mệnh tọa ngay tại sinh địa hoặc vượng địa của Bản Mệnh ấy. Thiếu một trong hai, bảng số vẫn có thể tốt, nhưng khó lòng đạt đến mức cực tốt như tiêu chuẩn mà các nhà Lý số học đặt ra.
Nguồn: Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống (Dương Thành biên soạn)
