Bài tổng quan
Mười sáu lá số tài vận lên xuống và dấu hiệu phá tài
Tháng mười năm 1985, một ông chủ định mở cửa hàng mà chưa dám chắc mệnh mình có hợp để làm giàu hay không. Người luận số xem tám chữ, bảo hai năm sau sẽ đại phát, rồi dặn thêm một câu về con cái. Cũng bằng cách ấy, ở một nhà máy khác, tám chữ lại báo trước một cánh cửa sắp đóng mà người chủ không chịu tin...
Tháng mười năm 1985, một ông chủ định mở cửa hàng mà chưa dám chắc mệnh mình có hợp để làm giàu hay không. Người luận số xem tám chữ, bảo ông cứ mạnh dạn làm, hai năm sau sẽ đại phát, rồi dặn thêm một câu về chuyện con cái. Cũng bằng cách ấy, ở một nhà máy khác, tám chữ lại báo trước một cánh cửa sắp đóng mà người chủ không chịu tin.
Tám lá số phát tài đúng vận
Lá số thứ nhất là của một người đến nhờ xem vận vào năm 1986: năm Quý tị, tháng Giáp tý, ngày Tân hợi, giờ Đinh dậu. Trong tám chữ có thực thần sinh tài, nên của cải đến tự nhiên, đang đi đại vận mão thì hai năm Giáp tý 1984 và Ất sửu 1985 chắc chắn phát tài, tiền vào như nước. Người ấy mừng rỡ xác nhận hai năm đó mọi mặt đều trôi chảy, buôn bán vụ nào cũng thắng. Lá số ứng với ý: tài đóng ở nhật nguyên, đi đến vận tài thì phát.
Lá số thứ hai là của một người đến nhờ xem vào tháng 6 năm 1987: năm Mậu tuất, tháng Nhâm tuất, ngày Nhâm tuất, giờ Bính ngọ. Thiên tài thấu lộ rõ ràng, kho tài lặp đi lặp lại. Tính đại vận và lưu niên thì đại vận Giáp tý là thực thần sinh tài, lưu niên là Bính dần, dần ngọ tuất hợp thành cục, lại gặp kho. Vì thế người luận số đoán năm 1986 phát tài lớn, và người ấy thành thật nói năm ngoái đã lãi hơn ba trăm vạn. Lá số ứng với ý: tài tinh có kho thì phát tài có chỗ chứa, tài tinh nhập mộ là giàu có nghìn vàng, tài kho gặp đất tam hợp thì tất phát vạn kim.
Lá số thứ ba là của ông Lý, tháng 10 năm 1985 định mở cửa hàng nhưng chưa biết tài vận ra sao: năm Đinh sửu, tháng Nhâm tý, ngày Nhâm ngọ, giờ Canh tý. Tài tinh đóng ở trụ ngày, tuy không vượng nhưng đúng vào đại vận tài Bính ngọ. Người luận số bảo ông cứ mạnh dạn làm, hai năm 1986 và 1987 sẽ đại phát, đến năm 1992 mới bắt đầu kém, và sau khi phát tài, con cái có thể tiêu hao một phần. Về sau cửa hàng phát đạt thật, nhưng con cái đánh nhau nên mất một số tiền.
Lá số thứ tư là của ông Diêm ở Tây An, tháng 12 năm 1988: năm Ất mùi, tháng mùi, ngày Ất mão, giờ Kỷ mão. Trụ giờ thiên tài lộ rõ, năm và tháng đều gặp tài, lại đi vận thiên tài Kỷ hợi. Người luận số đoán các năm 1985 và 1988 đều phát tài lớn, và ông xác nhận không sai chút nào. Lá số ứng với ý: tài nhiều lại được tỷ kiếp trợ giúp là nhà thịnh vượng; tài ở đất vượng thì cả đời của cải hùng hậu.
Lá số thứ năm là của ông Vượng từ Thượng Hải xa xôi đến Tây An, mùa thu năm 1989: năm Mậu tý, tháng Canh thân, ngày Canh thìn, giờ Mậu dần. Tài kho đóng ở trụ ngày, trụ giờ lại có tài tinh, nên đoán hai năm 1984, 1985 tài vận hanh thông, phát một mạch đến năm 1988 thành người giàu có trong vùng. Ông nhận rằng nhờ chính sách mở cửa mà ra kết quả. Năm ba mươi sáu tuổi ông đi vào tài vận, từ 1984 đến 1988 tài tinh liền mạch ở đất vượng. Lá số ứng với ý: vốn có tài tinh, đi đến tài vận thì đại phát.
Lá số thứ sáu là của một nhà buôn lớn họ Trần ở Inđônêxia, tháng 4 năm 1991: năm Đinh sửu, tháng Quý mão, ngày Nhâm dần, giờ Giáp thìn. Tài hiện rõ ở trụ năm, lại đóng ở đất dần là nơi mộc trường sinh. Thương quan, thực thần gặp nguyệt kiến ở đất vượng nên sinh tài, đến năm bốn mươi bốn tuổi đi vận sát thì hóa tài và gặp tài kho, vậy là vận phát tài bắt đầu. Gia tư lúc ấy chưa hẳn đại phú nhưng đã khá giàu. Ông hỏi: có đoán được tôi buôn bán gì không? Người luận số đáp ngay: ông buôn gỗ. Ông Trần và các kiều bào có mặt đều đồng thanh khen đoán như thần. Lá số ứng với ý: thương quan, thực thần mừng được sinh tài thì phú quý tự trời, tài gặp trường sinh là ruộng vườn muôn mẫu.
Lá số thứ bảy là của ông Vương ở Thái Lan, tháng năm 1991: năm Kỷ mão, tháng Đinh sửu, ngày Nhâm tuất, giờ Tân hợi. Tài, quan, ấn đều đủ nên đoán rằng ông vốn là người giàu nhất vùng, nhưng năm 1985 suýt khuynh gia bại sản, đến 1986 và 1987 tài thần gõ cửa nên chấn hưng rất nhanh, nay nhà đầy vàng bạc. Ông xác nhận như người trong nhà nói. Năm hai mươi lăm tuổi ông đi vận thực thần nên trong nhà nhất định có tích trữ. Năm Ất sửu 1985 là năm thương quan gặp quan, họa liên miên, hao tài lớn. Hai năm 1986, 1987 hỏa vượng, tài vượng, cơ hội phát tài lớn trở lại. Lá số ứng với ý: tài, quan, ấn đủ cả thì không quý cũng giàu.
Lá số thứ tám là của ông Trương, tháng 5 năm 1991 ở Thái Lan, đang do dự trước một hợp đồng trị giá mười triệu đồng sắp ký: năm Ất mão, ngày Bính tuất, chi tháng là tý, chi giờ là thìn. Tứ trụ và tuế vận đều được lộc trời, trụ giờ thấy thế cân bằng có lợi, nên người luận số khuyên ông giữ vững tinh thần, dặn khi đàm phán ngồi đúng chỗ được chỉ định thì sẽ thành, và số tiền còn vượt mười triệu. Về sau hợp đồng ký kết thành công, ông đến báo tin mừng. Lá số ứng với ý: tài kho bị xung khai thì ai gặp cũng phát tài; trong trụ có tài, đến đất tài tất đại phát.
Người luận số cho biết ông từng xem cho rất nhiều giám đốc nhà máy và đơn vị quốc doanh. Có người theo những hạng mục kinh doanh được chỉ dẫn, tránh những hạng mục tài vận không hợp. Có người bày bàn làm việc của tổng giám đốc ở vị trí hợp lý, điều chỉnh kịp những việc khác, nên đạt đúng hiệu quả đã tính, có đơn vị đang lỗ hoặc sắp đóng cửa mà chuyển dần sang có lãi. Cũng có đơn vị chuyển khoản, thanh toán ở ngân hàng mà không biết rõ tình hình đối tác, chỉ dựa vào cảm tính và kinh nghiệm nên đánh giá sai khả năng trả nợ, tiền chuyển đi không thu về được; có khi đối phương bỏ trốn hoặc phá sản, kiện ra tòa cũng vô ích. Vì thế không ít đơn vị thành tâm mời ông làm cố vấn kinh tế.
Dấu hiệu hao tài, phá tài, bại nghiệp
Cùng một tấm bản đồ ấy, chỗ nào tài hội tụ thì cũng có chỗ tài chảy mất, và những đường chảy ấy có tên riêng.
Thân nhược mà tài nhiều thì gặp tài lại thành mang họa. Ngày Giáp, Ất mà đi vận dần, mão thì kiếp tài phá tài. Quan vượng, thân nhược, đi đến quan vận thì hại vô cùng, phá tài là chắc chắn. Kiếp tài, kình dương thì nhất thiết kiêng gặp tuế vận, vì sẽ phá tài bại nghiệp, tranh tài với nhau đến nỗi phải rời quê, thất nghiệp. Trụ giờ có thiên tài thì sợ anh em; đi vào vận kiếp tài sẽ bị phá và tranh tài. Tài nhiều, thân nhược là nhà cửa nhiều mà của cải ít. Thiên tài sợ đi vận tỷ kiếp vì gặp vận ấy sẽ phá tài, bại tài.
Tuế quân bị khắc là bại tài, phá tài. Thân vượng, ấn vượng thì tiền hao tán không tụ được, thà tích của, bất động sản còn hơn. Kiếp tài không nên gặp đất vượng, gặp thì hao tài. Tài nên ẩn, không nên lộ, lộ thì dễ bị tranh giành. Thương quan có tài mà đi đến đất quan, sát, gặp đất suy, tài tuyệt thì mất tài mất lộc. Thực thần gặp kiêu thì tài vật hao tán. Tài, quan gặp tài, quan thì vì tham ô mà bãi chức. Trong trụ kiêu, ấn gặp đất tài mà không có tỷ kiếp thì tai họa vô cùng. Trụ ngày yếu không thắng nổi tài thì vì của cải mà gặp họa. Kiêu thần mừng nhất gặp tài tinh: thân vượng gặp được là phúc, thân nhược gặp phải là họa.
Thân vượng đi đến vận tỷ kiếp thì phá tài bại nghiệp. Trong trụ kiếp nhiều lại đi vận kiếp thì nên án binh bất động. Tỷ, kiếp nhiều lại gặp tỷ kiếp là phá tài và dính đến cửa quan. Thân vượng, tỷ kiếp nhiều mà không có tài thì khi gặp tài lại là tai họa đến. Tài tinh nhập mộ thì vợ tính nhỏ nhen, quý của hơn người. Trong trụ có tỷ kiếp, có tài tranh tài, khi không có tài là lúc họa đến, anh em tranh của, vợ chồng tranh giành. Tài rơi vào không vong thì tất nghèo. Tứ trụ không có tài để giữ cho mình thì ra ngoài cầu tài phải cẩn thận. Tài tinh gặp kình dương thì mất của, mất người. Đi đến vận kình dương thì của cải hao tán, khắc vợ, nát nhà. Trong trụ có thập ác đại bại thì vàng đầy kho cũng thành đất bụi.
Tám lá số hao tài, tù tội, mất chức
Lá số thứ nhất là của ông Trình, giám đốc một nhà máy ở Tây An, năm 1987 nhờ xem vận cho nhà máy: năm Tân tị, tháng Canh dần, ngày Đinh mùi, giờ Bính ngọ. Tỷ kiếp gặp tài, đại vận Bính tuất gặp kiếp, lưu niên Đinh mão gặp ngang vai, tức là tỷ kiếp đúng đất vượng. Người luận số báo năm ấy nhà máy không những kém hiệu quả mà còn hao tài, dặn đừng đầu tư mù quáng kẻo phá sản. Ông cho rằng mấy năm nay nhà máy vẫn làm ăn khá nên không nghe. Cuối năm nhà máy phá sản, ông rất hối hận. Lá số ứng với ý: tài tinh sợ nhất đi vận tỷ kiếp.
Lá số thứ hai là của một nhà báo, tháng 5 năm 1990 nhờ xem hậu vận: năm Bính tuất, tháng Canh dần, ngày Nhâm tuất, giờ Giáp thìn. Tài vượng, tài nhiều lại gặp kho; lưu niên 1990 hợp với dần, ngọ, tuất trong trụ thành tam hợp tài cục. Người luận số đoán từ 1986 đã phát tài, nhưng năm nay có tài mà lại nguy hiểm đến tính mạng. Hai vợ chồng nói năm nay nằm viện, bị mổ nặng, suýt mất mạng. Lá số ứng với ý: thân nhược không thắng nổi tài thì vì của mà sinh nạn.
Lá số thứ ba là của một tay cờ bạc, gặp ở Thâm Quyến tháng 6 năm 1990: năm Quý sửu, tháng Nhâm tuất, ngày Canh tý, giờ Canh thìn. Ngang vai ở đất vượng, đại vận Canh thân, lưu niên Canh ngọ, tức một loạt ngang vai đều vượng. Vì đánh bạc thua mà trộm cướp nên bị bắt, ra tòa. Lá số ứng với ý: tỷ kiếp trùng trùng lại gặp tỷ kiếp là phá tài và dính đến cửa quan.
Lá số thứ tư là: năm Giáp ngọ, tháng Tân mùi, ngày Ất sửu, giờ Ất dậu. Tỷ kiếp trùng lặp, đại vận Giáp tuất cũng là đất kiếp. Vì mưu lợi bất hợp pháp, nửa đầu năm 1991 người này bị công an Quảng Châu phá án, bắt giam. Đó là phạm ý: tứ trụ kiếp nhiều lại đi vận tỷ kiếp thì nên giữ mình an phận.
Lá số thứ năm là của một phó tổng giám đốc công ty ở Thâm Quyến: năm Mậu tý, tháng Giáp tý, ngày Canh thìn, giờ Bính tý. Vì không biết mệnh vận, năm 1991 ông cho người khác vay hai trăm vạn đồng, người vay nhận tiền xong bỏ ra nước ngoài, năm sau ông bị mất chức, ra tòa. Trước đó vận của ông rất thuận; từ ba mươi lăm đến bốn mươi bốn tuổi là lúc bắt đầu vào bại vận mà không hay. Kiêu vận gặp năm Tân mùi 1991 là kiếp tài, tức kiêu sinh kiếp nên khó tránh mất của. Năm Nhâm thân 1992 gặp thực thần mà kiêu thần đoạt thực thần, chỉ còn đủ phí sinh hoạt thấp nhất; lưu niên Nhâm thân cùng thân, tý, thìn trong tứ trụ hội lại làm thương tổn quan cục, nên ông mất chức. Lá số ứng với ý: thực gặp kiêu thì tài vật hao tán, thương quan gặp quan là tai họa liên miên.
Lá số thứ sáu là của một chủ tịch hội đồng quản trị mà người nhà nhờ xem vào tháng 9 năm 1989: năm Giáp thìn, tháng Mậu thìn, ngày Mậu ngọ, giờ dậu. Tài nhược, ngang vai nhiều, vượng lại gặp ấn, đại vận đi thương quan; lưu niên Kỷ tị là kiếp tài, tiểu vận Quý hợi cùng lưu niên phạm thiên khắc địa xung. Người luận số đoán tháng 4 năm 1989 có họa lớn. Người nhà xác nhận: vừa ký một hợp đồng rất lớn, về đến Đài Loan thì bị ô tô đâm, đã bảy tháng vẫn chưa tỉnh. Người luận số nói tháng mười âm lịch năm ấy còn một cửa ải, qua được mới bình an. Ông chủ tịch từ trẻ đã làm ăn nên nỗi, một vụ buôn bán lên đến hàng chục triệu, không ngờ vận chuyển sang kiếp tài, hao tiền rồi còn nguy đến tính mạng. Nếu không biết mệnh vận thì tiền ức vạn quanh lưng cũng chưa biết là tốt hay chưa.
Lá số thứ bảy là của ông Trương ở Xinhgapo: năm Kỷ sửu, tháng Kỷ tị, ngày Tân hợi, giờ Kỷ hợi. Kiêu thần ba lần xuất hiện, tính ra lưu niên Kỷ tị lại gặp kiêu, đại vận Ất sửu là đất tài, tất có chuyện. Người luận số đoán năm 1989 có tai nạn lớn, không bệnh nặng thì cũng mất của rất nhiều, thậm chí khuynh gia bại sản. Bạn ông xác nhận: gần một triệu đồng mất sạch vì làm sai luật thuế nên bị tịch thu. Ông Trương ngồi bên lắc đầu, không rõ đang hối hận vì không biết vận hạn hay vì đã không tuân thủ luật pháp, có lẽ cả hai. Lá số ứng với ý: ấn, kiêu gặp đất tài mà không có tỷ kiếp thì tai họa vô cùng.
Lá số thứ tám là của một cô gái Miến Điện đã buôn vàng bạc đá quý nhiều năm, cố ý đến Băng Cốc nhờ xem vận: năm Quý mão, tháng Kỷ mùi, ngày Bính tý, giờ Giáp ngọ. Trong tứ trụ không có tài, các vận cho thấy trước hai mươi mốt tuổi thì tài vận đã qua. Người luận số khuyên cô đừng buôn bán nữa, vì không những không phát mà còn thua thiệt thêm. Cô nói bảo sao nhiều năm nay thua lỗ liên tục. Lá số ứng với ý: mệnh không có tài thì không nên làm gắng.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
