Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Thiên tài hay thực thần làm dụng thần: năm lá số

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc01/10/202612 phút đọc1 lượt đọc
Thiên tài hay thực thần làm dụng thần: năm lá số

Một người đàn ông mất ở tuổi ba mươi hai, một người đứng đầu thành phố giữa bốn lần xung, một người đàn bà mang bệnh phổi, một người sống bình yên, một người làm đến chủ tịch hội đồng quản trị. Cả năm đều thân vượng, đều phải đi tìm dụng thần ở nơi người thường ít ngờ tới. Chỗ phân định sống chết giàu nghèo hóa ra nằm ở một chữ gốc rất nhỏ...


Khi nhật chủ quá vượng, dụng thần phải đi tìm ở cái bị kị

Thân vượng thì lẽ thường chọn cái khắc, xì hơi, hao tổn làm dụng thần. Nhưng khi chính cái sinh thân quá nhiều, ấn kiêu tràn ngập, thì việc chọn dụng thần trở nên khó và vận trình quyết định rất nhiều. Năm lá số dưới đây đều thân vượng, đều lấy thực thần hoặc thiên tài làm dụng thần; có người sống yên ổn, có người đoản mệnh, có người đại quý. Lá số nào cũng là người thật việc thật được thầy Thiệu Vĩ Hoa xem từ nửa cuối năm 1993.

Người nữ ngày Bính tháng Mão: kiêu thần tràn ngập, nguyên cục không có dụng thần

Tứ trụ: năm Giáp Thìn, tháng Đinh Mão, ngày Bính Dần, giờ Giáp Ngọ.

Người nữ này ngũ hành thiên khô, mệnh yếu. Bính hỏa vượng ở tháng hai, không những được lệnh mà còn được sinh, được trợ giúp, đắc địa; nhật nguyên cực kỳ cường vượng, lại thêm Dần Mão Thìn mộc sinh thân. Ngược lại, những sao hao tổn, áp chế đều vắng mặt. Kiêu thần vừa nhiều vừa vượng là kị thần mà không có thiên tài chế ngự. Mệnh này ứng với câu:

Thê thiếp không đến cùng cứu giúp, mệnh như cây cỏ lau trong sương mùa thu.

Dụng thần vốn là thiên tài, nhưng trong mệnh không có, nên gọi là nguyên cục không có dụng thần. Nếu gặp dụng thần của vận đến cứu thì còn có hy vọng; song ở đây hung thần lại đến trước. Bước sang kiêu vận, mộc vượng, bà mắc bệnh u phổi, khó vượt qua năm Giáp Tuất 1994, vì mộc nhiều mà không có kim chế ngự.

Kị thần quá cường vượng, nguyên cách lại không có dụng thần, nên đành chọn thực thần tương đối mạnh làm dụng thần thứ hai. Thìn thổ ở chi năm là thần xì hơi của can ngày Bính vượng. Thuở trẻ nhờ ngang vai vượng xì hơi cho thân nên may còn sống được. Sang ấn vận, ấn chế được thực thần nhưng không phải khắc trực tiếp; đến kiêu vận, Giáp mộc đoạt thực thần Mậu thổ, dụng thần bị khắc mất thì không còn dịp may để sống.

Quan sát cũng chẳng cứu nổi

Dụng thần lẽ ra còn có thể chọn quan sát, nhưng quan sát sinh kị thần nên không dùng được. Dù có muốn chọn, quan tinh là Quý thủy trong Thìn đã yếu lại yếu, vừa xa vừa ít: thủy xa không cứu nổi hỏa gần, chỉ có thể bốc hơi mà thôi. Chẳng trách quan vận chưa kịp đến thì vận tai ách đã đến trước. Đáng tiếc, nếu biết sớm, người nữ này đừng ở đất hỏa phương nam mà lên phương tây là đất kim để sinh sống, đề phòng trước, lại tìm cách bổ cứu từ nhiều mặt khác thì không đến nỗi nguy. Nay vận tốt chưa đến mà tai ách đã lù lù ra đó, hối cũng không kịp nữa.

Người nam ngày Giáp tháng Hợi: mệnh quá vượng, mất ở tuổi ba mươi hai

Tứ trụ: năm Nhâm Dần, tháng Tân Hợi, ngày Giáp Dần, giờ Ất Hợi.

Người này mất năm ba mươi hai tuổi. So với người nữ mắc bệnh u phổi ở trên, hai lá số giống nhau đến kinh ngạc.

Giáp có trường sinh ở Hợi nên được lệnh, ở đất vượng, được vượng sinh, lại được trợ giúp. Thông thường, nhật vượng gặp quan vượng là quý mệnh. Nhưng ở đây kiêu thần vượng thấu lên sinh thân, lại được vượng quan liên tục tương sinh, khí quý bị khắc chế rồi xì hơi xuống thành kị thần. Vì vậy mệnh quá vượng, rất khó cứu, huống chi ác tính còn tuần hoàn, hễ gặp kị vận là tính mạng khó giữ.

Nhật vượng thì kị cái vượng sinh, nên lấy chính cái kị ấy làm dụng thần: lấy tài tinh chế kiêu. Trong trụ, Mậu thổ trong Dần là thiên tài. Nhưng Mậu tuyệt ở Hợi, dụng thần không vượng, rất dễ bị khắc mất, nghĩa là mệnh yểu. Vận lại không gặp thời: kiêu vận là bại vận, vượng mà sinh cho thân, dù dụng thần còn chế được. Sang ấn vận thì tạm giữ được, nhưng vừa bước vào tỉ vận, lưu niên Giáp Tuất, tỉ tỉ đều là Giáp, mà Tuất lại là mộ khố của dụng thần Mậu thổ. Kết cục là chết đuối nước. Đúng là kị vận đã đến thì khó thoát.

Người nữ ngày Tân tháng Tuất: bình thường yên ổn, dụng thần là thiên tài

Tứ trụ: năm Canh Tí, tháng Bính Tuất, ngày Tân Mão, giờ Kỷ Sửu.

Tứ trụ của người này bình thường và yên ổn. Đúng vì mệnh cục phổ thông, ngoài một số tổ hợp không tốt giữa lưu niên và đại vận, nói chung không có trắc trở lớn. Khi dự đoán cho Tứ trụ tương đối cân bằng, thường khó tìm ra dụng thần; lá số này thuộc loại đó.

Nhật nguyên Tân sinh tháng Tuất nên được lệnh, lại được sinh, được trợ giúp, nhưng đều không vượng lắm. Tài tinh hao tổn xì hơi, thực thương cũng đều nhược, nếu chúng là hỉ của dụng thần thì khó giàu. Sao khắc áp là hai chi Mão Tuất hợp hỏa, thấu ra Bính là quan tinh hợp hóa thành công; nhưng lại nhập mộ khố nên sang không nổi. Trong Tứ trụ, quan tinh nhập mộ không tốt, còn khi quan tinh là kị thần mà nhập mộ của đại vận hay lưu niên thì lại tốt. Gặp bại vận thì kém hơn, có thể ốm đau hoặc chút tai họa. Nhờ ngũ hành lưu chuyển có tình, lại có thiên đức, nguyệt đức là thần đại cát hóa giải nạn, được bình yên đã là phúc lớn.

Theo lý, nhật can vượng, địa chi còn có hai Tân kim, nhật can đã gốc sâu, lại có kiếp tài trợ giúp, thì nên lấy quan sát làm dụng thần. Nhưng can thấu kiêu ấn mà có gốc; nếu vẫn lấy quan sát làm dụng thần, dụng thần lại sinh kị thần, chẳng phải khiến thân càng vượng thêm sao? Cho nên lá số này phải căn cứ vào nhật can vượng, ấn nhiều là kị thần mà chọn dụng thần, tức là tài tinh. Thiên tài đóng ở chi ngày chế được kiêu thần, song không bằng chính tài, vừa sinh chính quan áp chế thân, lại vừa hợp chặt kiêu thần không cho sinh thân. Cho nên dụng thần gặp chính tài là vận tốt. Nguyên cách không có chính tài nên lấy thiên tài.

Năm Bính Ngọ, trước khi vào đại vận, bà bị gãy tay. Ấy là vì Bính sinh Kỷ thổ, quan kiêu tương sinh, Tí Ngọ tương xung, kiêu và thực cùng gặp, thành năm thiên khắc địa xung, bị thương tàn phế. Sau khi vào vận, gặp vận thiên tài, kiêu thần bị chế nên tương đối thuận lợi; trong vận ấy phát đạt được ít tiền của, vì chính tài sinh chính quan áp chế thân, lại hợp chặt kiêu thần. Năm 1984, 1985 bà được tài, vừa vượng chồng vừa có con. Vận thực thương là vận hỉ thần, hao tổn, hợp kiêu ấn, cũng xì hơi vượng thân. Nhưng kiêu thần đoạt thực thần, thương quan gặp quan đều là dấu hiệu không thuận, nên là vận tốt nhiều xấu ít. Các vận tỉ kiếp về sau đều kém hơn.

Cái cô độc của chi hợp nhiều

Nét riêng của lá số: can hợp, chi hợp, nhất là chi hợp nên người này cô độc, lạnh nhạt, không cởi mở, không có lòng hại ai nhưng luôn đề phòng người khác. Trong mệnh hợp nhiều lại có đào hoa nên vừa đẹp vừa đa tình. Gặp vận tốt thì vợ chồng rất hòa thuận. Chỉ sợ bại vận đến, thân vượng gặp ngày âm dương xô lệch, e hôn nhân không thuận, còn khắc cha, phá tài.

Người nam ngày Quý tháng Sửu: thương quan sinh tài, từ đại biểu đến chủ tịch hội đồng quản trị

Tứ trụ: năm Giáp Thân, tháng Đinh Sửu, ngày Quý Tị, giờ Nhâm Tí.

Mệnh nam này thân vượng, được lệnh, đắc địa, được trợ giúp lại được sinh. Dụng thần tài tinh bị hợp nhập kho, nhưng thương quan ở gần, gắn chặt sinh thiên tài nên vẫn chọn thiên tài làm dụng thần.

Thuở nhỏ gặp vận thiên khắc địa xung, thương quan gặp quan, chẳng đoán cũng biết có nạn: bốn tuổi ông ốm thương hàn suýt chết. Nhờ gặp vận có chế, khắc áp thân vượng nên có cứu. Sang sát vận, ông đã có tiếng tăm từ nhỏ. Hai vận sau là ấn vận và kiêu vận, vốn kị vì sinh thân, nhưng ông sống ở phương nam là đất tài vượng nên có bổ cứu; ấn chủ về văn, thương quan gặp ấn là quý hết chỗ nói, ông không những hay phát biểu, tham luận mà còn trở thành Đại biểu Quốc hội. Sang các vận kiếp, tỉ là vận bại tài, khó tránh khắc cha: năm 1992 là năm kiếp tài, cha ông ốm mất.

Nét riêng của Tứ trụ này là địa chi hợp nhiều, hợp mất nhiều nên không thuận. Thời kỳ tốt là lúc nhật vượng, xì hơi cũng vượng, mộc hỏa tương sinh nên công danh hiển đạt. Thương quan vượng có thể sinh dụng thần, dụng thần từ nhược thành mạnh là nhờ lực của hỉ thần thương quan. Khi đã xác định được phú quý, có thể tiến thêm một bước xem phú quý đến đâu, với những câu xưa:

Thương quan sinh tài là phú quý do trời đưa đến.

Quý nhật đóng cung Tị là tài quan song toàn.

Lộc của Quý là Tí; Tí gặp Sửu hợp, tức lộc bị hợp, gọi là phú chân chính. Điểm then chốt là thân vượng nên thắng được tài quan, lại nhờ lúc vận không có cứu mà ông sống ở phía nam nên được bổ cứu và phát triển. Việc buôn bán của ông cũng lấy hỏa làm tài tinh nên làm đến chức Chủ tịch Hội đồng quản trị, giàu sang đều có. Nếu gặp vận tốt thì như hổ thêm cánh, tốt là nhờ chi vận có cứu. Người này càng già càng tốt hơn.

Người nam ngày Kỷ tháng Dậu: bốn xung chạm nhau, quý khí được bảo vệ

Tứ trụ: năm Bính Ngọ, tháng Đinh Dậu, ngày Kỷ Mão, giờ Giáp Tí.

Cách cục này có đủ bốn xung. Những tổ hợp bất lợi như vậy thường gây tác hại rất sâu; hễ gặp các năm Tí, Ngọ, Mão, Dậu là nhất định ứng nghiệm.

Kỷ có trường sinh ở Dậu, Đinh cũng trường sinh ở Dậu; thân vượng, kiêu vượng, được lệnh, được sinh lại được lộc, nhật can có gốc, nên mệnh này được xem là cường vượng. Quan nhược nhưng có kiêu vượng hộ vệ nên vẫn có quan, tuy không lớn, chỉ là người học trò đọc sách. Dụng thần chọn thiên tài của chi giờ để chế kiêu thần sinh quan; đáng tiếc dụng thần không có lực.

Những năm tỉ kiếp là bại vận. Năm thực thần Tân Dậu làm chủ (1981); thương quan tuy không có trong trụ nhưng Canh lộc ở Dậu rất vượng, nên năm gặp quan, vì Tí Mão tương hình mà ông phải nằm viện. Năm kiêu thần Đinh Mão làm chủ (1987) phần lớn không thuận. Năm 1990, thương quan Canh Ngọ làm chủ, quan vận không hanh thông, ông mâu thuẫn với lãnh đạo. Chi năm Quý Hợi (1983), dụng thần vượng lại không bị xung đột, nên kỳ thi vào đại học diễn ra thuận lợi.

Bước sang vận thương thì khó tránh bị hình thương. Thương vận xì hơi thân vượng nên được xem là vận bình thường, nhưng gặp những năm hung vẫn không tốt. Vừa vào thương vận thì gặp năm Quý Dậu (1993), tài tinh làm chủ, vốn không có tai họa, thương quan sinh tài còn có thể có con. Chi Dậu của lưu niên gặp thái tuế xung khắc bản thân hoặc cung thê, nên đoán ông hoặc vợ bị thương. Quả đúng như vậy: Dậu xung phá Mão là cung vợ. Vận thương quan gặp quan, quan ở ngôi Tí nên vợ có thai bảy tháng bị sảy. Năm Giáp Tuất, lại là năm quan gặp thương vận, vừa tháng giêng ông đã bị tắc ruột, nằm viện mổ; ra viện chẳng bao lâu lại gặp tai nạn xe, bị thương ở mặt. Tai họa chồng chất, còn liên lụy đến mẹ. Để tránh họa, thầy Thiệu Vĩ Hoa khuyên ông thôi giữ chức; ông vốn cũng có ý ấy nên mạnh dạn rút lui.

Các vận về sau: vận thực kị năm kiêu vượng gặp thực vượng; sau bốn mươi tám tuổi mới bình an thuận lợi. Nhưng gặp năm tứ xung hay năm kị thần vượng thì vẫn trắc trở. Điều tốt là kị vận đã qua, nguy hại không còn chồng chất. Gặp vận dụng thần thiên tài, kị thần bị chế nên sự nghiệp hanh thông, riêng các năm Mão, Dậu phải đề phòng. Vận quan sát hơi kém hơn.

Bốn xung mà quý khí không mất

Tứ trụ này đủ Tí, Ngọ, Mão, Dậu, nhưng thân vượng kiêu vượng bảo hộ cho quan tinh nên điều quý không mất. Người này có câu: ngày giờ tương hình gặp quý, là người có quyền có chức; vì vậy ông giữ chức vụ quan trọng của thành phố. Kị nhất là vận tỉ khắc phạt dụng thần. Bản thân dụng thần thiên tài không có bệnh, chẳng qua năm Kỷ Tị của vận ấy lại gặp ngang vai nên bị khắc phạt là điều chắc. Nhưng nhờ bốn chi không có yếu tố kích thích xung phạt lung tung, dụng thần lại tàng trong chi, ngũ hành sinh hóa có tình, đó là sự cứu lớn nhất. Ông là người gan góc, có bản lĩnh, giao thiệp rộng, được bạn bè giúp đỡ, chỉ tiếc vận không thuận. Điều đáng ghi nhớ là các chi hợp nhau ngược hẳn với Tứ trụ, nên tai họa vừa lớn vừa dày; đối chiếu kỹ sẽ hiểu thêm sức nặng của xung khắc.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc