Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bói Dịch

Bài tổng quan

Phản phục có phải phản tiến bộ? Định mệnh trong Kinh Dịch

Bói Dịch26/09/20268 phút đọc5 lượt đọc
Phản phục có phải phản tiến bộ? Định mệnh trong Kinh Dịch

Nếu chỉ tin vào vòng tuần hoàn phản phục, phải chăng người Trung Hoa xưa đã tự khép mình vào một thứ tâm lý hoài cổ, không còn tin vào tiến bộ? Nguyễn Hiến Lê không vội gật đầu: ông chỉ ra rằng chính người phương Tây hiện đại, giữa cơ man tiện nghi kỹ thuật, cũng có không ít triết gia và nhà khoa học muốn quay lại lối sống giản dị thời nông nghiệp. Và khép lại Chương Đạo Trời, ông trở lại câu hỏi mà cả cuốn Kinh Dịch vẫn treo lơ lửng: nếu vận mệnh đã được Dịch "biết trước", con người còn có thể tự sửa đổi được gì...


Phản phục là phản tiến bộ?

Các triết gia Trung Hoa tin luật tuần hoàn, cho rằng vũ trụ, xã hội vận hành trên một vòng tròn. Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử, Dịch học phái gọi luật đó là "phản phục", quay về lúc đầu, mà lúc đầu theo các nhà đó là dương và âm; còn Lão Tử thì gọi là "qui căn" trở về gốc, gốc tức là vô (từ vô sinh hữu). Vì vậy mà có người bảo người Trung Hoa không có ý thức về sự phát triển, không như người phương Tây cho rằng vũ trụ, xã hội phát triển theo vòng tròn ốc, mỗi ngày vòng mỗi mở rộng ra, có tiến bộ.

Không có ý thức về sự phát triển nên người Trung Hoa có tinh thần thủ cựu, hiếu cổ. Nho, Mặc muốn trở về thời Nghiêu Thuấn, Lão còn muốn trở về thời xã hội nguyên thủy. Trang muốn trở lại trước thời nguyên thủy đó, thời chưa có tổ chức xã hội nữa. Ngay các Pháp gia như Hàn Phi tuy không muốn trở lại thời trước (họ cho mỗi thời một khác, thời nào có chính trị của thời ấy) mà cũng nhận Nghiêu Thuấn là những thánh vương thời cổ. Hoàng kim thời đại của dân tộc Trung Hoa ở sau lưng họ, thời Nghiêu Thuấn, chứ không ở trước mặt họ. Đó là lí do khiến họ không tiến được.

Lời chê đó có lí một phần. Nhưng tâm lí con người ở nơi nào, thời nào mà chẳng tiếc dĩ vãng, cho hiện tại kém xa dĩ vãng. Hoàng kim thời đại của phương Tây, thời Chúa Ki Tô chẳng hạn còn lùi xa hơn Hoàng kim thời đại của Khổng, Lão, lùi về tận thời ông Adam và bà Eve mới sinh kia. Và ngay bây giờ đây, mỗi người phương Tây có tới một trăm tên nô lệ (tức máy móc) phục vụ, có Thiên Lí Nhãn, Thiên Lí Nhĩ, bay cả được lên cung trăng, hơn trong truyện Phong Thần nữa, mà có biết bao người Âu, Mĩ, từ triết gia, khoa học tới thanh niên ước ao trở lại cuộc đời giản dị, sống gần thiên nhiên như thời kì nông nghiệp.

Khổng Tử và Lão Tử không phải là không biết tiến bộ kĩ thuật. Khổng còn dùng cả những tiến bộ đó nữa nên ông ngồi xe nhà Ân kiên cố hơn xe thời Nghiêu Thuấn, đội mũ miện nhà Chu, đẹp hơn mũ thời Nghiêu Thuấn (Luận ngữ XV 10). Lão cực đoan hơn, muốn bỏ hết những tiến bộ kĩ thuật đi: có khí cụ gấp chục gấp trăm sức người mà không dùng, có thuyền xe mà không ngồi, bỏ cả văn tự, dùng lại lối thắt dây thời thượng cổ (Đạo đức kinh, Chương 80). Hai nhà đó chỉ buồn rằng thời họ nhân tâm hư hỏng, đạo lí suy vi, xã hội loạn lạc mà con người khổ sở hơn thời trước. Có thể họ hơi quá bi quan, nhưng ngay thời đại chúng ta cũng cho rằng kĩ thuật không chắc đã tạo thêm hạnh phúc cho con người. Năm 1972 hai nhà bác học Anh, Edward Goldsmith và Robert Allen, sau Erza Mishan, đã đề nghị chẳng những ngưng sự phát triển kĩ thuật mà còn nên thụt lùi lại một thế kỉ nữa, và đề nghị của họ được 33 bác học Anh nổi tiếng về khoa sinh vật học, kinh tế học, sinh thái học... vui vẻ đỡ đầu. Họ cho chỉ có cách đó là cứu vãn được nhân loại, giảm những sự tranh giành, tàn sát nhau, giảm sự bất quân, bất công mà tăng hạnh phúc trên thế giới. Người ta gọi họ là bọn Zégiste, một từ mới được tạo ra để trỏ những người muốn chặn đứng sự phát triển kĩ thuật. Có gì mới mẻ đâu? Lão Tử đã là ông tổ của họ từ non 2.500 năm trước rồi.

Vậy bảo rằng người Trung Hoa không có ý thức về sự phát triển, có lẽ không đúng lắm; họ chỉ chú trọng đạo lí nhất thôi, họ cho rằng chỉ có sự cải thiện con người, tăng hạnh phúc cho con người mới đáng gọi là tiến bộ, mà quan niệm đó là quan niệm chung của các triết gia Đông, Tây thời cổ, không chắc đã là hậu quả của thuyết phản phục, tuần hoàn.

Định mệnh

Chúng tôi sẽ không xét thuyết Tượng số trong Dịch truyện (Hệ Từ truyện) vì không hiểu thuyết đó, không thấy nó có ích lợi gì cho nhân sinh.

Để kết thúc chương này, chúng tôi xin xét qua về quan niệm định mệnh trong Dịch.

Trước Văn Vương, Chu Công, người nào đặt ra phép bói Dịch tất tin rằng có một sự an bài, một định mệnh, nghĩa là sự việc biến chuyển ra sao, xấu hay tốt đã định rồi.

Bậc "Thánh nhân" đã "thần minh để biết trước việc sẽ tới, lại sáng suốt để chứa những kinh nghiệm cũ" (Hệ Từ thượng - Ch. 11).

Hệ Từ hạ, Chương 6, lại nói: "Dịch làm rõ cái đã qua mà xét cái sắp tới, làm sáng tỏ cái kín đáo, mở cái bí mật".

"Người quân tử sắp làm hay tiến hành việc gì thì dùng lời (Khấn) mà hỏi Dịch. Dịch nhận được lời hỏi và trả lời nhanh như tiếng vang. Không kể xa gần, sâu tối, Dịch cũng biết được cái gì sẽ xảy ra. Nếu Dịch không phải là cái gì rất tinh vi trong thiên hạ thì đâu làm được như vậy?" (Hệ Từ thượng - Ch.5).

"Dịch không nghĩ ngợi gì cả, không làm gì cả, yên lặng không động, nó chỉ cảm mà thấu được các biến cố trong thiên hạ. Nếu nó không phải là cái thần diệu tột bực trong thiên hạ thì đâu làm được như vậy?" (Như trên).

Chữ Dịch trong đoạn đó nên hiểu là những người tìm ra được phép bói Dịch. Phép bói đó có thật là "thần" không, chúng tôi không dám bàn tới. Có những người rất thông minh tin nó như nhà bác học nổi danh khắp thế giới Jung, mà có nhiều người cũng rất thông minh không tin nó.

Văn Vương, Chu Công và các tác giả Dịch truyện tin nó và rán đem những luật âm dương ai cũng nhận thấy trong vũ trụ để giảng cho nó bớt tính cách huyền bí đi; rồi sửa lại thuyết định mệnh trong Dịch, coi nó là một luật tự nhiên, nó chỉ cho ta biết cái hướng theo đó sự việc sẽ xảy ra (Hệ Từ thượng - Ch. 3 - đoạn 5) và nếu ta nhiều khi không thể sửa cái hướng đó được thì cũng có thể tránh nó hoặc tìm một thái độ thích hợp để thêm tốt lên hoặc xấu đi, để "xu cát tị hung".

Chẳng hạn:

- Quẻ Thái hào 3, ở vào thời thịnh cực rồi, sắp suy. Hào từ của Chu Công khuyên: "Không có gì bằng mãi mà không nghiêng, đi mãi mà không trở lại, trong cảnh gian nan mà giữ được chính nghĩa thì không lỗi. Đừng lo phiền, cứ tin ở điều chính (điều phải) thì được hưởng phúc".

- Quẻ Thăng hào 6 khuyên: "Hào này hôn ám, ở cuối thời Thăng là đã lên đến cùng cực rồi mà còn muốn lên nữa, nếu đổi lòng ham đó thành lòng tự cường, sửa đức cho hợp đạo không bao giờ nghỉ thì có lợi, lại tốt".

- Quẻ Tùy hào 4: "Thu hoạch được lớn đấy, nhưng dù lẽ vẫn ngay mà cũng có thể hung được. Cứ giữ lòng chí thành, theo đạo lí, lấy đức sáng suốt mà ứng phó thì không có lỗi".

- Quẻ Cách hào 6: "Công việc cải cách đến đây đã xong, nên ngừng lại, tiến nữa thì xấu, cứ giữ vững chính đạo thì tốt".

Vậy tốt hay xấu, họa hay phúc tùy do cái thời nó sẽ tới như vậy, nhưng phần lớn cũng do cách mình ứng phó nữa.

Người sáng suốt áp dụng Dịch thì phải nhận cái tự nhiên nó sắp thay đổi mà tài chế nó, như vậy là biết "biến" (Hệ Từ thượng - Ch.12).

Cát hung tùy ở mình hơn ở thời cuộc, hoàn cảnh, lòng mà thiện thì cát, ác thì hung, đó là ý nghĩa câu "Cát hung dĩ tình thiên" trong Hệ Từ hạ - Ch.12.

Có tinh thần đó thì "khi muốn hành động, xem sự biến hóa mà ngẫm nghĩ lời đoán của quẻ (tìm cách đối phó với hoàn cảnh) mà gặp tốt không có gì chẳng lợi, được trời giúp cho" (Hệ Từ thượng - Ch. 2).

Hiểu cái lẽ "âm dương tương thôi" thịnh suy thay nhau lên xuống, thì "khi yên ổn không quên rằng sẽ có thể nguy, khi vững không quên rằng sẽ có thể mất, khi trị không quên rằng sẽ có thể loạn. Nhờ vậy mà thân yên, nước vững" (Hệ Từ hạ - Ch. 5).

Tóm lại Dịch cho rằng có số mạng nhưng con người vẫn sửa đổi số mạng được phần nào.

Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Chương V.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bói Dịch