Bài tổng quan
Carl Jung từng hai lần xin quẻ Kinh Dịch để tự quyết
Năm 1949, một nhà tâm lý học lừng danh thế giới ngồi xuống, gieo ba đồng tiền, và hỏi Kinh Dịch xem có nên viết lời tựa cho bản dịch tiếng Anh hay không. Ông là Carl Jung, bạn thân của Richard Wilhelm, và câu trả lời ông nhận được khiến chính ông, một nhà khoa học vốn hoài nghi, phải thừa nhận rằng người trả lời mình có một "tinh thần lành mạnh". Từ câu chuyện ấy, Nguyễn Hiến Lê khép lại phần tổng quan về Kinh Dịch bằng ba xu hướng nghiên cứu ở phương Tây, trước khi bước sang những quy tắc đầu tiên mà ai đọc Dịch cũng phải thuộc lòng...
Một ngẫu hợp lạ lùng trước cả Leibniz sáu thế kỷ
Người ta bảo Thiệu Ung đời Tống đã vẽ ra đồ Phương Vị 64 quẻ; nếu đúng vậy thì ông đã tìm ra được phép nhị tiến trên sáu thế kỷ trước Leibniz chăng? Thật là một sự ngẫu hợp lạ lùng, vì sự sắp đặt các quẻ tiên thiên và cách thức trùng quái của Thiệu Ung không có chút liên quan gì với phép nhị tiến của Leibniz cả.
Trên vòng tròn của đồ đó, thứ tự không theo một chiều mà theo hai chiều, như cách sắp trùng quái tương truyền của Phục Hi, nhưng quẻ cuối cùng, số 63, vẫn là quẻ Thuần Càn: bắt đầu từ quẻ Thuần Khôn là 0, đánh số ngược chiều kim đồng hồ tới 31 là quẻ Sơn Phong Cổ, bên cạnh quẻ Thuần Càn; rồi bắt từ quẻ Địa Lôi Phục ở bên cạnh quẻ Thuần Khôn, đánh số 32, theo chiều kim đồng hồ tiếp tục 33, 34, 35... đến quẻ 62 là Trạch Thiên Quải, cuối cùng là quẻ Thuần Càn, số 63.
Phát kiến – đúng hơn một ý kiến – của nhà tâm lí học C. G. Jung
Jung, gốc Thụy Sĩ, sinh năm 1875, cùng với Freud là một trong những thủy tổ của khoa phân tâm học (Psychanalyse), nghiên cứu về tiềm thức của loài người. Ông là bạn của Richard Wilhelm, người dịch Kinh Dịch ra tiếng Đức, và ông nhờ Wilhelm mà hiểu được Kinh Dịch.
Trong lời mở đầu bản tiếng Anh của Wilhelm xuất bản ở London, Jung kể chuyện năm 1949 ông thành tâm bói hai lần theo cách gieo ba đồng tiền.
Lần thứ nhất, để biết bản tiếng Anh sắp in có được độc giả phương Tây hiểu hơn bản tiếng Đức không. Ông được quẻ Đỉnh biến ra quẻ Tấn (động hào 2, 3); lời đoán là bản tiếng Anh lần này có ích hơn bản tiếng Đức lần trước.
Ông muốn viết Lời nói đầu cho bản dịch tiếng Anh, lại bói một quẻ nữa để biết việc nên làm hay không, vì ông còn do dự: ông là một nhà khoa học, tự cho có trách nhiệm với khoa học, mà lại đi giới thiệu một tác phẩm có tính cách huyền bí thời cổ ư? Nhất là ông có thể ngờ bản Kinh Dịch mà Wilhelm dùng để dịch, trải qua bao nhiêu thời đại, chắc gì đã đúng, mà bản dịch của Wilhelm chắc gì đã tin cậy được. Lần này ông được quẻ Khảm biến ra quẻ Tỉnh (động hào 3); lời đoán là nên viết lời giới thiệu, vì Kinh Dịch như "một cái giếng cổ, hư hỏng bùn lấp cả rồi, nhưng có thể sửa sang lại mà dùng được".
Ông thấy như vậy, hai lần bói đều có ý nghĩa cả, bảo:
"Nếu một người trần mắt tục nào đó mà trả lời tôi hai lần như vậy, thì tôi, một nhà chuyên về thần kinh học, cũng phải nhận rằng người đó có tinh thần lành mạnh."
Không những vậy, ông còn phục người đó sao mà thấu được nỗi do dự, nghi ngờ thầm kín của ông nữa, nghĩa là đi sâu được vào tiềm thức của ông. Do đó Jung tin bói Dịch, cho môn đó là một phương tiện rất mới để dò xét cõi tiềm thức của con người.
Raymond de Becker, trong lời giới thiệu bản dịch Kinh Dịch của Charles de Harlez (lần tái bản năm 1970), cũng nghĩ như Jung. Nếu người xin quẻ thật tĩnh tâm, tập trung tư tưởng vào điều mình muốn hỏi, thì quẻ cho biết được sự diễn biến của tình thế từ trước tới sau có thể sẽ ra sao, và tự mình lựa lấy một thái độ trong mỗi tình thế, tùy thái độ đó mà có thể thay đổi một phần nào sự diễn biến của tình thế được. Đó là cái ích lợi của bói Dịch về sự tìm hiểu tâm lí bề sâu, tức tìm hiểu cõi tiềm thức. Ông cho rằng bói Dịch không bao giờ bảo việc nhất định sẽ xảy ra như thế này hay thế khác, mình không sao thay đổi được: nếu hai lần bói về một việc thì hai quẻ tất sẽ khác, vì lần sau tâm trạng của người bói và tình thế ở ngoài đều đã thay đổi rồi.
Tóm lại, theo Nguyễn Hiến Lê, tới nay ở phương Tây có ba xu hướng trong việc nghiên cứu Kinh Dịch: xu hướng tìm hiểu đạo lí Trung Hoa, như J. Legge, R. Wilhelm; xu hướng tìm những cái ngẫu hợp giữa Kinh Dịch và các khoa học ngày nay, như Leibniz, Z. D. Sung; và xu hướng chỉ coi Kinh Dịch là một sách bói – trong đó một hạng người như Alfred Douglas, J. Lavier theo đúng cách bói và đoán của Trung Hoa mà không phát kiến được gì, còn một hạng nữa như C. Jung, R. de Becker coi bói Dịch là một cách đi sâu vào tiềm thức con người. Chính hạng học giả sau cùng này có công phát huy Kinh Dịch nhất, khoác cho Kinh Dịch một bộ áo mới mẻ nhất. Họ chỉ mới vạch cái hướng đi, chưa nghiên cứu được gì nhiều; nhưng nên theo dõi công trình của họ, có thể trong dăm ba chục năm nữa, chúng ta sẽ được biết thêm nhiều điều rất mới.
Hào cửu, hào lục: vì sao đếm hào lại không dùng số
Dịch là một môn học có một số thuật ngữ và quy tắc mà người đọc phải nhớ, cũng như nhớ các định nghĩa, định đề của môn hình học.
Trong một quẻ trùng, hào dương (vạch liền) còn được gọi là hào cửu; hào âm (vạch đứt) còn gọi là hào lục. Ví dụ so sánh quẻ Thủy Hỏa Ký Tế và quẻ Hỏa Thủy Vị Tế: quẻ Ký Tế, kể từ hào Sơ lên hào Thượng, gọi lần lượt là Sơ cửu, Lục nhị, Cửu tam, Lục tứ, Cửu ngũ, Thượng lục; còn quẻ Vị Tế, vì các hào âm dương đảo ngược hẳn, nên gọi là Sơ lục, Cửu nhị, Lục tam, Cửu tứ, Lục ngũ, Thượng cửu.
Những chữ cửu và lục ở hai quẻ đó không có nghĩa là 9, là 6, mà chỉ có nghĩa là dương, âm. Hào dưới cùng của quẻ Ký Tế và quẻ Vị Tế (cũng như mọi quẻ khác) đều gọi là hào Sơ, tức hào đầu tiên; nhưng bên Ký Tế nó là hào dương nên gọi là Sơ cửu (nghĩa là hào Sơ mà là dương), còn bên Vị Tế nó là hào âm nên gọi là Sơ lục (nghĩa là hào Sơ mà là âm). Hào thứ nhì từ dưới lên gọi là hào nhị: bên Ký Tế nó là âm nên gọi là Lục nhị, bên Vị Tế nó là dương nên gọi là Cửu nhị. Hào trên cùng gọi là hào thượng: bên Ký Tế là hào âm nên gọi là Thượng lục, bên Vị Tế là hào dương nên gọi là Thượng cửu. Các hào khác cũng vậy: cứ gặp chữ cửu thì đổi ngay ra dương, gặp chữ lục thì đổi ngay ra âm. Do lẽ chữ lục trong các hào đã có nghĩa là âm rồi, nên hào trên cùng, tức hào thứ sáu, không gọi là lục (sáu) nữa, mà gọi là thượng, cho khỏi lầm.
Nhưng tại sao hào dương lại gọi là cửu, hào âm lại gọi là lục? Có ba thuyết, chỉ xin dẫn thuyết thông dụng nhất. Hệ từ thượng truyện, chương 9, bảo dương (trời) có năm số: 1, 3, 5, 7, 9 (đều lẻ cả); âm (đất) có năm số: 2, 4, 6, 8, 10 (đều chẵn cả). Dương thì kể thuận: ba số sinh là 1, 3, 5, hai số thành là 7, 9. Âm thì kể nghịch, từ số 10 lùi ngược lên tới số 2: ba số thành là 10, 8, 6, hai số sinh là 4, 2. Vậy số thành cuối cùng của dương (lão dương) là 9, mà số thành cuối cùng của âm (lão âm) là 6; do đó gọi dương là cửu, gọi âm là lục, chứ không phải cửu là hào thứ 9, lục là hào thứ 6.
Sự gọi tên hào như vậy khá rắc rối cho người mới đọc Kinh Dịch, nên trong phần dịch các quẻ ở sau, Nguyễn Hiến Lê không dùng cách gọi cửu, lục nữa, mà gọi thẳng là hào 1, hào 2, hào 3, hào 4, hào 5, hào 6 cho dễ hiểu. Tuy nhiên, độc giả đọc các sách khác về Kinh Dịch thì không thể không biết nghĩa hai thuật ngữ cửu, lục đó.
Dụng cửu, dụng lục: hai hào đặc biệt chỉ riêng Càn, Khôn mới có
Riêng quẻ Thuần Càn, ngoài sáu hào, còn có thêm một hào gọi là "dụng cửu"; và riêng quẻ Thuần Khôn, ngoài sáu hào, cũng có thêm một hào gọi là "dụng lục". Không quẻ nào khác trong 64 quẻ có thêm hào đặc biệt này. Nguyễn Hiến Lê ghi lại đây, để khi dịch tới hai quẻ đó, độc giả xét lại mới dễ hiểu được vì sao.
Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Chương III – IV.
