Bài tổng quan
Đầu Cơ, Xuất Hàng Và Chủng Loại Hàng Hóa: Hào Tài Định Giá Lên Xuống
Hai người cùng xem việc buôn bán, cùng gặp hào Tài bị khắc. Người thứ nhất còn gốc rễ tương sinh, Dã Hạc lão nhân đoán chỉ cần đợi tháng xung mất hào khắc là được giá — quả nhiên sau đó lãi lớn. Người thứ hai hào Tài không còn gốc rễ nào cứu, hào Thế lại lâm Nguyệt phá: đến tháng sáu quả nhiên gặp hỏa hoạn, hàng hóa cháy trụi, bản thân bị bỏng nặng rồi qua đời chỉ sau bảy ngày. Tăng San Bốc Dịch dựng bốn chương liền mạch quanh chuyện hàng hóa: khi nào tích trữ hay bán ra, mang hàng đi bán ở đâu, tìm mối buôn thế nào, và mỗi loại hàng ứng với hành nào. Vì sao cùng một hào Tài bị khắc, có lúc chỉ cần chờ đợi là phát, có lúc lại là rước họa vào thân?
Đầu Cơ: Khi Nào Tích Trữ, Khi Nào Bán Ra
Tài hào suy giả tu đình thoát, Thê vị vượng đương thời khả thoát chi.
Hào Tài nếu suy nên tích trữ, Thê Tài đắc lệnh hãy bán ra.
Tích trữ hàng hóa hay bán hàng, đều kỵ hào Tài gặp Không, Phá, hoặc động hóa hồi đầu khắc. Hào Tài suy, nên tích trữ hàng hoá; hào Tài vượng, nên bán ra.
Như vào mùa xuân, xem được hào Tài thuộc mộc, tức hào Tài đắc lệnh vượng tướng, cần nhanh chóng bán hàng ra. Nếu hào Tài tại kim, thủy, thổ, vẫn nên trữ hàng. Tài tại hỏa là tướng, cũng không nên tích trữ. Đó là trạng thái vượng, suy trong bốn mùa.
Giác Tử bàn rằng: Hào Tài suy, tuy có thể mua hàng vào, nhưng cũng phải tra xét rõ gốc rễ của nó. Suy nhưng vẫn phải có gốc rễ, thì sau này còn phát được. Suy mà không có gốc rễ, mua vào cũng không thể bán ra. Người học cần phân biệt rõ.
Ví dụ: Ngày Kỷ Hợi tháng Dần, xem về thu mua hàng, được quẻ Di:

Theo phép xem xưa, gặp hào Tài suy nên tích hàng. Quẻ này hào Tài Thìn thổ suy mà không được sinh trợ, nên không có gốc rễ, tích hàng cũng không được giá bán, không nên mua hàng. Người này không nghe, sau đó mua hàng tích đến bốn năm, hư hỏng đến quá nửa, lỗ vốn nặng.
Hóa hữu định thời, tu bình thời lệnh; vật vô định giả, chỉ lợi nhi chiêm.
Hàng có thời vụ, nên căn cứ vào thời lệnh; không phân thời vụ, xem có lợi hay không.
Hàng có thời vụ tức giá cả tùy lúc mà đắt rẻ khác nhau, như đay gai được giá vào mùa hạ; bông được giá vào mùa đông; còn như gỗ lạt, tơ lụa... thì không có thời vụ.
Tài hóa Tiến thần, kỳ giá chính trưởng.
Tài hóa Tiến thần, giá hàng đang tăng.
Hào Tài hóa Tiến thần, thì không nên thu mua hàng. Hào Tài hóa Thoái thần, giá hàng đang giảm, nếu đang trữ hàng, cần nhanh chóng bán ra.
Huynh hào trì Thế, phá tài chi đoan.
Hào Huynh trì Thế, là tượng phá tài.
Giác Tử đoán rằng: Muốn cầu gì thì xem quẻ nấy. Tiền của có nghĩa, thần sẽ mách bảo rõ ràng. Tiền của phi nghĩa, thần sẽ không cho hiển hiện. Trước kia có một người lừa gạt bạn hàng, độc chiếm lợi nhuận, mọi người đều trách mắng. Người này đi xem hàng có bán được không, được quẻ Huynh Đệ trì Thế. Lại hỏi xem nếu không bán ra thì thế nào, vẫn được quẻ Huynh Đệ trì Thế. Xem đi xem lại, vẫn là Huynh động. Ta biết kẻ này lừa gạt bạn hàng, chiếm đoạt hàng hóa, hành vi vốn không đoan chính, nên ta ngộ ra rằng, hào Huynh động chính là điềm phá tài, còn thần không mách bảo về chuyện có lợi hay không, về sau, người này không bán ra, nhưng giá hàng sụt giảm nhanh chóng, bất đắc dĩ phải bán đổ bán tháo. Bán xong, giá lại tăng vùn vụt. Kẻ này lỗ vốn phải bỏ đi, không dám về làng. Như vậy, tâm địa bất lương cần gì phải xem quẻ.
Tài trị Vượng Suy Mộ Tuyệt, tự hữu đắc lệnh chi thu, thê phùng trùng phá phục không, khởi vô thừa trừ chi nhật.
Tài gặp Vượng, Suy, Mộ, Tuyệt, ắt cũng có ngày được lệnh; Thê gặp Không, Phá, Phục, Không, ắt phải có lúc phục hồi.
Nếu hào Tài quá vượng, sẽ đắc lợi vào tháng nhập Mộ; hào Tài hưu tù, sẽ chấn hưng tại thời điểm sinh vượng; hào Tài nhập Mộ, cần đợi lúc xung khai; hào Tài gặp Tuyệt, cần đợi lúc sinh vượng; hào Tài gặp Nguyệt phá, cần đợi khi điền thực; hào Tài bị khắc, đợi đến thời điểm xung mất hào khắc; hào Tài phục, đợi đến khi xuất hiện sẽ được giá; hào Tài gặp Tuần Không, cần đợi đến tháng xung Không, thực Không; hào Tài bị hợp mất, cũng phải đợi đến lúc xung khai.
Ví dụ: Ngày Kỷ Sửu tháng Tý, xem hàng lúc nào tăng giá, được quẻ Quy Muội biến Đoài:


Đoán rằng: Hào Tài Mão mộc được Nguyệt kiến Tý thủy tương sinh, là Tài có gốc rễ. Hàng hóa trước mắt chưa được giá, vì bị Thân kim động khắc chế, cần đợi đến tháng Dần xung mất Thân kim, giá sẽ tăng. Quả nhiên sau đến tháng Dần giá hàng tăng mạnh. Như vậy, nếu hào Tài bị khắc, cần phải đợi đến tháng xung mất hào khắc.
Lại ví dụ: Ngày Mậu Thân tháng Tị, xem thu mua giấy Đài Liên có lợi không, được quẻ Phục biến Di:


Đoán rằng: Hào Tài Tý thủy trì Thế, được Nhật thần Thân kim tương sinh, lại có hào Dậu kim động tương sinh. Nhưng hiềm vì kim, thủy gặp mùa hạ, nên Nguyên thần, Dụng thần đều hưu tù, đợi đến mùa thu ắt sẽ tăng giá, nên tiến hành thu mua. Quả nhiên lúc mua vào mỗi tập chín tiền, sau bán ra đến ba lượng sáu, ba lượng bảy. Như vậy, nếu hào Tài hưu tù, cần đợi đến lúc sinh vượng hãy bán ra.
Lại ví dự: Ngày Ất Mùi tháng Mão, xem về bán hàng, được quẻ Gia Nhân biến Tiểu Súc:


Đoán rằng: Hào Tài Sửu thổ trì Thế, bị Nguyệt kiến Mão tương khắc, Nhật thần Mùi xung tán, lại hóa Dần mộc hồi đầu khắc, không những hào Tài bị khắc, mà hào Thế cũng bị xung. Đến tháng sáu hào Thế lâm Nguyệt phá, không những phá sản, mà còn phải đề phòng bất trắc. Sau quả đến tháng sáu gặp hỏa hoạn, hàng hóa bị thiêu trụi, bản thân cũng bị bỏng nặng, sau bảy ngày thì chết.
Giác Tử bàn rằng: Trong hai quẻ Quy Muội và Tiểu Súc, các hào Tài đều bị khắc. Trong quẻ trước, hào Tài Mão mộc được Nguyệt kiến Tý thủy tương sinh, nên là có gốc, gặp tháng Dần xung mất hào khắc sẽ đắc tài. Còn tại quẻ này, hào Tài Sửu thổ không được sinh phò, nên là không gốc, bởi vậy, của và người đều mất. Nên cần xem xét cho kỹ, không thể nói chung chung là bị khắc cần đợi đến tháng xung mất hào khắc sẽ nên vượng.
Tài phùng hợp nhi đương ngộ;
Tài gặp hợp thì được giá;
Gặp hợp, sẽ ứng vào tháng hào động gặp hợp sẽ được giá. Hoặc nếu hào Tài suy tĩnh, nhưng được Nhật thần, Nguyệt kiến sinh hợp, là giá đang được thời.
Ví dụ: Ngày Kỷ Dậu tháng Dần, xem xuất hàng ra vào lúc nào, được quẻ Bí:

Đoán rằng: Hào Tài Hợi thủy, được Nhật thần Dậu tương sinh, được Nguyệt kiến Dần tương hợp, nên hiện tại đang là lúc được giá. Nhưng vì hào Thế ám động, nên phải xuất hành mới có thể bán ra. Người xem bèn nói: "Tôi nghe nói ở vùng nọ đang được giá, đang muốn chở hàng đi bán, không biết có được không?" Ta bèn đáp: "Tượng quẻ đã rõ ràng, nên mau chóng lên đường." Quả nhiên người này chở hàng đi, mấy hôm sau bán được giá cao. Trường hợp này chính là gặp quẻ Lục hợp, hào Tài được Nguyệt kiến tương hợp, nên xuất hàng ngay.
Tài phùng xung nhi đương khởi.
Tài gặp xung ắt giá lên.
Hào Tài vượng mà tĩnh, hoặc vượng mà gặp Không, bị Nhật thần của ngày xem tương xung, thì giá hàng sẽ lên dần.
Nếu hào Tài tĩnh mà hưu tù, bị Nhật thần xung mà thành Phá, thì không đoán như vậy.
Nơi Xuất Hàng: Quẻ Nội, Quẻ Ngoại Và Phương Hướng Mang Hàng Đi Bán
Biết được lúc nào nên bán, câu hỏi kế đến là nên mang hàng đến bán ở đâu.
Nội Tài suy nhi ngoại Tài vượng, nghi vãng tha hương.
Quẻ nội Tài suy, quẻ ngoại Tài vượng, nên đến quê người.
Nếu quẻ ngoại có hào Tài vượng, sinh hợp hào Thế hoặc trì Thế, nên đi nơi khác xuất hàng. Nếu hào Tài không sinh hợp hào Thế, hoặc Thế động hóa hung, thì thị trường nơi khác có sôi nổi đến đâu cũng không có phần của mình.
Ứng Tài ngoại nhi Thế Tài nội, tu tra động tĩnh.
Ngoại Tài lâm Ứng, nội Tài lâm Thế, cần xem động tĩnh.
Hào Tài lâm Ứng tại quẻ ngoại, thì hào Tài trì Thế nên ở quẻ nội, khi đó hào Ứng nên động để sinh hợp hào Thế. Nếu không tuy hào Ứng Tài có vượng cũng không giúp ích được cho mình.
Lục xung tu nghi biệt đồ; Lục hợp hoàn nghi tọa thủ.
Lục xung nên tìm cách khác; Lục hợp vẫn phải đợi chờ.
Gặp quẻ Lục xung, tuy nên đổi sang cách khác, nhưng theo chiêm nghiệm của ta, nếu hào Tài vượng, thì không cần thay đổi. Nếu hào Tài suy, có đổi cũng vô ích.
Dã Hạc bàn rằng: Nếu gặp quẻ này, nên bảo người xem lại, hỏi xem nếu thay đổi sẽ ra sao. Nếu được quẻ mới có hào Tài, hào Thế đều vượng, thì nên đổi. Nếu vẫn là suy, nên kiên nhẫn chờ đợi.
Nếu gặp quẻ Lục hợp, vẫn cần phải xem hào Tài suy hay vượng. Nếu hào Tài động trì Thế, không nên ngồi đợi. Hào Tài suy mà tĩnh, nên đợi đến lúc vượng.
Tài suy biến vượng, tiên khúc hậu thân; Tài vượng biến suy, tiên kim hậu thổ.
Tài suy biến vượng, trước thấp sau cao; Tài vượng biến suy, trước đắt sau rẻ.
Câu này nói về hào Tài động mà biến. Nếu Tài suy biến vượng, trước mắt tuy giá rẻ, nhưng về sau chắc chắn sẽ lên. Hào Tài vượng mà biến suy biến tuyệt, có hàng nên nhanh chóng bán đi, định thu mua nên dừng ngay lại.
Tìm Nơi Buôn Bán: Một Phương Pháp Xem Riêng Từng Hướng
Sách xưa từng đưa ra công thức chung để tìm phương buôn bán, nhưng Dã Hạc lão nhân thấy không ứng nghiệm nên đổi cách.
Trong sách xưa có nói về phương pháp suy đoán này, nhưng ta xem thử nhiều lần không thấy ứng nghiệm, bởi vậy, nên chỉ định từng phương để hỏi.
Ví dụ: Ngày Mậu Tý tháng Ngọ, xem xuống phía nam mua đậu, được quẻ Lâm:

Đoán rằng: Hào Tài Hợi thủy tại quẻ ngoại mà hưu tù, nên giá đậu ở phương nam sẽ rẻ. Nhật thần Tý thủy sinh Thế, chủ về lời lãi lớn, nên đi. Nhưng hiềm vì hào gián Huynh Đệ được Nguyệt kiến tương hợp, phải tốn kém nhiều. Sau vì người trung gian gây khó dễ, khỏi kiện quan, phải lưu lại cả tháng, tiêu phí mất một khoản tiền. May thay khi về đến nơi, giá đậu lên cao, nên lãi lớn. Đó chính là phương pháp chỉ rõ từng nơi mà xem, sẽ ứng nghiệm.
Chủng Loại Hàng Hóa: Ngũ Hành Và Sáu Thú Ứng Với Từng Mặt Hàng
Ngoài hướng đi và thời điểm, hào Tài còn cho biết nên buôn loại hàng gì.
Sách xưa cho rằng, hào Tài thuộc kim tượng trưng cho vàng bạc, châu báu; hào Tài thuộc thủy tượng trưng cho tôm cá, muối; hào Tài thuộc hỏa tượng trưng cho đồ gốm sứ; hào Tài thuộc mộc tượng trưng cho hoa quả; hào Tài thuộc thổ tượng trưng cho ngũ cốc.
Thanh Long lợi cho mộc và các đồ vật dùng cho ngày vui, lễ mừng; Bạch Hổ lợi cho kim, cùng các đồ vật dùng trong ma chay, giết mổ; Huyền Vũ lợi cho thủy, Chu Tước lợi cho hỏa; Đằng Xà lợi cho việc xuất nhập hàng; Câu Trần lợi cho công, nông.
Dã Hạc bàn rằng: Lý luận trên là sự áp đặt ngũ hành khiên cưỡng, không phải là đúc rút qua kinh nghiệm. Ta thử nhiều lần thấy không ứng nghiệm, nếu thi thoảng có ứng nghiệm, chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên mà thôi, không thể coi là khuôn phép, cần phải xem bản thân muốn kinh doanh loại hàng hóa nào, chỉ rõ ra để hỏi, như vậy mới ứng nghiệm.
Ví dụ: Vào ngày Mậu Thân tháng Mùi, xem xuống Việt Đông thăm người thân, xem mang hàng gì về bán có lợi, được quẻ Lữ:

Đoán rằng: Đây là quẻ Lục hợp, hào Thế hào Ứng tương sinh, nên chuyến đi này sẽ được toại nguyện. Còn như xem nên mua loại hàng nào, ta không có cách đoán định, nên không dám nói bừa. Nhưng đã được quẻ tốt như vậy, cho dù anh mùa đông bán quạt, mùa hè bán chăn, cũng có lãi như thường. Sau người này mua đàn hương và lông chim trả mang về, bán được lãi lớn. Nếu như đoán theo phép cũ, hào Tài là Dậu kim, tức nên mua vàng bạc châu báu; Tài lâm Huyền Vũ, lại lợi về hàng thuộc thủy như cá, muối. Vậy biết theo đường nào?
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
