Bài tổng quan
Ba hạng số ít, vừa, nhiều theo từng mùa và nghi vấn về số trung hòa
Người ta khen hạng số vừa phải vì nó ăn khách, vào đâu cũng lọt như chiếc chìa khóa chung. Nhưng lịch sử lại cho thấy những kẻ làm nên chuyện lớn hiếm khi đi giữa đường... Vậy số trung hòa là phúc hay là cái bóng nhạt?
Ba hạng số của số Dương: ít, vừa, nhiều
Con số Dương của một tuổi có ba cách nằm trong năm: ít, vừa hoặc nhiều. Mỗi cách chỉ tốt khi rơi đúng vào đoạn năm mà quẻ nguyệt lệnh cho phép.
Số Dương ít, tốt từ đông chí đến Vũ Thủy
Từ sau đông chí đến trước Vũ Thủy, tức tháng mười một, tháng chạp và đầu tháng giêng, số Dương ít là tốt. Trái lại nếu nhiều thì sẽ bị hình thương, cắt chặt.
Số Dương vừa, tốt từ Lập Xuân đến xuân phân
Từ sau Lập Xuân đến trước xuân phân, tức tháng giêng và tháng hai, số vừa thì tốt, hợp với quẻ Thái, ba hào Dương khai thông, cửa nhà đón ngũ phúc. Nếu số Dương ít thì không phát lên được, như điện yếu quá thì bóng đèn tối mờ mờ.
Số Dương nhiều, tốt từ Thanh Minh đến Tiểu Mãn
Từ sau Thanh Minh đến trước Tiểu Mãn, tức tháng ba và tháng tư, số Dương nhiều là tốt, vì quẻ nguyệt lệnh là Quải năm hào Dương rồi Càn sáu hào Dương. Số vừa cũng còn được; số ít thì nên lo.
Ba hạng số của số Âm
Mùa nóng bức mà Âm lấn thì hại. Mùa lạnh Âm vượng lại thành chỗ dựa. Cùng một con số mà đổi mùa, nghĩa đổi theo.
Số Âm ít, tốt từ hạ chí đến đầu tháng bảy
Từ sau hạ chí đến trước Xử Thử, tức tháng năm, tháng sáu và đầu tháng bảy, tiết trời đang nóng bức. Số Dương còn nhiều, số Âm ít thì phải lẽ; nếu Âm nhiều sẽ tổn hại.
Số Âm vừa, tốt từ Lập Thu đến thu phân
Từ sau Lập Thu đến trước thu phân, tức tháng bảy và tháng tám, số Âm vừa là hợp, quẻ Bĩ có ba hào Âm gọi là tam Âm trúng tiết. Trái lại nếu số Âm yếu quá thì nhu nhược, không chân tác lên được, khác nào niêu cơm có lửa mà ít nước quá thì cơm sượng ngầm ngầm.
Số Âm nhiều, tốt từ Hàn Lộ đến Tiểu Tuyết
Từ sau Hàn Lộ đến trước Tiểu Tuyết, tức tháng chín và tháng mười, số Âm nhiều là tốt, vì quẻ nguyệt lệnh là Bác năm hào Âm rồi Khôn sáu hào Âm. Nhiều người làm nên sự nghiệp có thể ví như những bà quả phụ lại làm nên giàu có hơn lúc còn chồng, nên người đời thường khen là hóa rồng hóa phượng. Những câu như gái lo việc triều đình, gà mái gáy gở thì ta cũng đừng coi là điềm xấu nữa. Đó là chỗ linh động tùy thời tùy thế: thời dân chủ, thời nam nữ bình quyền, thời một trăm con trai không bằng một chiếc bông tai hạt xoàn của người con gái.
Số là cái tĩnh, khí là cái động nên con số chỉ phóng chừng
Hai khí Âm Dương thuộc về động lực, còn hai số Âm Dương thuộc về tĩnh thái. Cái tĩnh không thể mô tả hệt như cái động. Nói cách khác, hai khí Âm Dương thực hiện một cuộc hợp tác vô cùng mật thiết, uyển chuyển và tế nhị, mà số học không tài nào đo đếm sát nút được, dù là vi phân. Hãy xem hình hai con rắn thần Âm Dương nút chặt vào nhau, không một khe hở, và ở bất cứ điểm nào cũng giữ được chu vi vành tròn đều đặn trăm phần trăm. Thật kỳ diệu.
Những số, tên tháng, tên mùa, tên quẻ đặt bên lề đường ấy chẳng qua là những cột mốc, những ký hiệu đánh dấu phóng chừng quá trình của hai khí Âm Dương, chứ không đo đếm đúng được như các chỉ số trên một điện kế hay thủy kế. Vì vậy những số Âm Dương trong phép Hà Lạc còn thuộc loại toán xác suất, chưa phải những con số của một khoa học tính xác để coi là tuyệt đối đúng, nên vẫn cần phối hợp với các thể cách khác thì mới quyết đoán được cát hay hung. Có lẽ phải chờ một bậc thánh nhân toán học ra đời đổi môn xác suất ấy thành một môn khoa học tính xác, thì lúc bấy giờ những con số Âm Dương mới được coi là chắc chắn. Đó là điều rất mong mỏi của những nhà lý số.
Số mà không có lý thì chỉ là cái bóng vô định
Nếu cứ theo mặt chữ thì tháng tư thuần Dương phải có số Âm bằng không. Nhưng trong vũ trụ làm gì có chuyện đó.
Số phải đi liền với lý; số không có lý thì là vô lý. Ví dụ người sinh tháng tư, quẻ Càn thuần Dương, trên nguyên tắc muốn thuận thời thì chỉ nên có số Dương, còn số Âm hoàn toàn bằng không chăng? Hoặc sinh tháng mười, quẻ Khôn thuần Âm, thì muốn thuận thời chỉ có số Âm, còn số Dương hoàn toàn bằng không chăng?
Đây là chỗ phải lấy lý mà hiểu: phải có đủ Âm Dương mới thành vũ trụ. Trong vũ trụ không có đâu chỉ có Dương mà thiếu Âm, hoặc chỉ có Âm mà thiếu Dương. Nên Dịch nói trong Dương có căn Âm, trong Âm có căn Dương. Chỉ khác nhau ở thế tiêu trưởng, ít hay nhiều, ẩn hay hiện mà thôi.
Luận sơ về các hạng số lệch
- Số Dương bằng hai mươi lăm: lợi cho nam, không lợi cho nữ. Sinh tháng lẻ thì phú quý, sinh tháng chẵn thì nghèo nàn và khắc mẹ.
- Số Âm bằng ba mươi: lợi cho nữ, không lợi cho nam. Lợi nhưng không toàn mỹ: sinh tháng chẵn còn mừng, sinh tháng lẻ thì cô đơn khắc khổ.
- Số Dương ít, không đủ hai mươi lăm (bất túc), từ chín đến hai mươi bốn: sinh tháng Tý, Sửu, thuận thời thì còn khá nhưng cũng có điều khiếm khuyết. Sinh từ tháng Dần đến tháng Tị là nghịch thời, hoàn toàn khiếm khuyết, khắc cha, kém phước, kém thọ; nếu không được quẻ hào tốt và yểm trợ thì còn xấu hơn.
- Số Âm ít, không đủ ba mươi, từ mười tám đến hai mươi tám: sinh từ sau hạ chí đến Lập Thu là thuận lợi, còn khá. Sinh từ thu phân trở đi đến trước Tiểu Tuyết thì kém thọ, kém phúc hậu, và chôn mẹ trước.
- Nữ mệnh sinh vào ngày và giờ Tý, Ngọ, Mão, Dậu: ắt khắc mẹ, hoặc cha già mẹ là vợ nhỏ, hoặc sinh ra rồi cho làm con nuôi nơi khác.
- Số Dương quá yếu, từ bốn đến tám: nam mệnh gian nan tân khổ. Sinh tháng chẵn còn đỡ, tháng lẻ càng xấu.
- Số Âm quá yếu, từ tám đến mười hai: nữ mệnh từ nhỏ đã mồ côi hay phải xa lìa cha mẹ, khắc khổ, cô đơn, nghèo nàn.
- Số Dương nhiều (thái quá), từ bốn mươi đến sáu mươi: nguyệt lệnh vốn đáng ít mà số lại nhiều. Sinh tháng ba, tháng tư, khi nguyệt lệnh là Quải năm hào Dương và Càn sáu hào Dương, thì thuận thời không hại gì. Sinh mùa khác thì nghịch thời, xấu vì tượng hào quá cương, có hối hận như rồng lên quá cao.
- Số Âm nhiều, từ năm mươi, sáu mươi trở lên: tật bệnh, hình thương, khốn khổ. Nhưng nếu sinh từ sau Lập Đông đến trước đông chí thì không hại, vì nguyệt lệnh là Khôn sáu hào Âm nên thuận thời. Sinh mùa khác thì tai hại.
- Số vừa phải (trung hòa): hai số Âm Dương vừa thuận thời, vừa không chênh lệch nhau quá nhiều ít, lại được quẻ hào đều tốt, thì trăm việc đều hay, tự nhiên vinh hiển.
Tổng quát thì phải theo phương châm này: được mùa thuận tiết là tốt, nghịch mùa phản nguyệt lệnh là vô dụng. Còn nên tham cứu cả quẻ và hào để xem cát hung tiêu trưởng ra sao, thì mới là chuẩn đích, không sai.
Số vừa phải được khen, nhưng có nên khen mãi?
Ba hạng số xếp hàng, hạng ở giữa luôn được chấm cao nhất. Vậy sự an toàn ấy có thật là đức tính đáng quý?
Điểm lại ba hạng số, thấy Hà Lạc khen hạng số vừa phải, tức trung hòa, là hay hơn cả. Vì sao? Vì nó rất ăn khách. Nó làm vừa lòng không chỉ hai mùa xuân thu là chính thời của nó, mà các tháng khác cũng không đến nỗi ghét bỏ. Nó cứ êm êm vào đâu mà chẳng lọt, như chiếc chìa khóa bách môn: dù không được nhất nhì thì cũng được chữ thứ ba. Khác với hạng thái quá, thuận thời thì lên như diều mà nghịch thời thì xuống tận đất đen.
Trung hòa phải chăng là tư cách cao quý của Y Doãn, vị hiền thần triều đại xưa mà đời sau tôn lên bậc thánh, với câu nói bất hủ: vua nào chẳng đáng thờ, dân nào chẳng đáng sai khiến, thời trị cũng ra giúp, thời loạn cũng ra giúp. Câu ấy được ghi lại trong Mạnh Tử. Tuyệt quá, song đó là chuyện đời cổ, khó nhìn rõ.
Thử tìm ví dụ ngay đời nay để suy ngẫm. Giả sử có người sống qua thời Tàu, thời Pháp, thời Nhật, thời Mỹ, thời nào cũng gặp, cũng ổn, thời nào cũng làm nên phú quý, tự cho mình là khéo dung hòa thời thế. Ta có chịu nhận tư cách người ấy cao quý như Y Doãn không? Hay lại có dư luận chê là hoạt đầu khéo chui, hoặc ít nhất là ba phải, giống như hạng số trung hòa được khen?
Có nên quan niệm lại ba hạng số?
Do đó có nên nghĩ rằng phải quan niệm lại ba hạng số theo tiêu chuẩn tam tùy: tùy thời, tùy nơi, tùy người? Cả cách chấm điểm phê xấu tốt, luận giá trị con người, cũng nên tùy theo quan niệm sống của từng cá nhân, mà người ta quen gọi là duy tâm, duy vật, thích sự nghiệp lớn hay thích cầu an.
Hà Lạc vốn dựa vào đạo lý Kinh Dịch nên hẳn không quên lấy kiểu người quân tử làm khuôn vàng thước ngọc trong việc lập bảng, thành toán để trị giá nhân phẩm qua lá số. Chốt của Dịch là những chữ giản, dị, trung chính, bất quá bất lưu, còn đức của người quân tử là trung dung, nên Hà Lạc khen số trung hòa là phải.
Nhưng nhìn từ khía cạnh lịch sử nhân văn thì ta thấy những bậc vĩ nhân, anh hùng, hào kiệt trên thế giới làm nên sự nghiệp lẫy lừng đều có thể phách hay tâm hồn đặc biệt khác người, quá khổ người, về nhân, về trí hay về dũng, thì mới xuất hồ kỳ loại, bạt hồ kỳ tụy. Còn nếu cứ giữ mực trung dung, ngày cơm hai bữa, hạ tắm hồ sen, đông ngâm thơ tuyết trắng, thì dù số tốt lắm cũng chỉ là hiền thần, mà có khi hiền thần cho cả vợ con nữa.
Quan điểm ấy cũng thấy gần đây trong một công trình tướng pháp của Fred Weber: sự bất điều hòa thường rất có thể đi đôi với một trí tuệ bén nhọn và hoạt động; nhiều người siêu việt trong lĩnh vực riêng của họ tỏ ra có những bất điều hòa rõ rệt, còn những nhân vật vô vị chỉ để lại ấn tượng đạm bạc, thiếu hẳn sức hấp dẫn. Người ta gọi họ là kiểu người trung hòa và ít săn sóc họ, thậm chí còn dễ tha thứ hơn cho những kẻ thực là bất thường hay những tay đần độn vô phương sửa chữa, mà tật của họ đem ra biểu diễn lại ngoạn mục hơn.
Đoạn trích ấy để đặt một câu hỏi, chứ không để trả lời: có nên quan niệm lại ba hạng số bất túc, thái quá và trung hòa hay không.
Nguồn: Giáo trình Bát Tự Hà Lạc.
