Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Can chi chia âm dương, phối phương vị, mùa vượng và vòng trường sinh

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc01/10/202611 phút đọc3 lượt đọc
Can chi chia âm dương, phối phương vị, mùa vượng và vòng trường sinh

Cùng sinh ra trong mùa xuân, cây giáp được khí dày dặn, còn cây sinh giữa mùa thu thì thất thời thất thế. Người xưa gọi một chu trình mười hai bước, từ trẻ sơ sinh tắm gội đến thai nghén trong bụng mẹ, để đo sức mạnh yếu của mỗi hành. Vòng ấy bắt đầu ở đâu, và đếm thế nào cho đúng…


Chia âm dương cho can và chi

Can chi vốn được chia thành âm dương. Dịch truyện nói Thái cực sinh hai nghi, và tính của kim, mộc, thủy, hỏa, thổ là những vật cơ bản cấu thành vạn vật, nguồn gốc cũng là Thái cực. Vì vậy mỗi hành có một can dương, một can âm: giáp, ất cùng thuộc mộc, giáp dương ất âm; bính, đinh cùng thuộc hỏa, bính dương đinh âm; mậu, kỷ cùng thuộc thổ, mậu dương kỷ âm; canh, tân cùng thuộc kim, canh dương tân âm; nhâm, quý cùng thuộc thủy, nhâm dương quý âm.

Với địa chi cũng vậy. Dần, mão cùng thuộc mộc, dần dương mão âm. Tỵ, ngọ cùng thuộc hỏa, ngọ dương tỵ âm. Thân, dậu cùng thuộc kim, thân dương dậu âm. Hợi, tý cùng thuộc thủy, tý dương hợi âm. Thổ nằm ở bốn cuối, tức các tháng cuối của bốn quý, nên thìn, tuất, sửu, mùi cùng thuộc thổ; thìn và tuất là chi dương, sửu và mùi là chi âm. Gom lại cho dễ nhớ:

Can dươngGiápBínhMậuCanhNhâm
Can âmẤtĐinhKỷTânQuý
Chi dươngTýDầnThìnNgọThânTuất
Chi âmSửuMãoTỵMùiDậuHợi

Để dễ nhớ mối quan hệ hình, xung, khắc, hại và các cục hợp của địa chi, người ta ghi mười hai chi lên các đốt ngón của bàn tay. Nhờ vậy quy luật của chi hiện ra thành một hình tượng cụ thể, dễ nhớ hơn nhiều.

Phương vị của can chi và hai mươi tám vì sao

Mười can ứng với phương như sau: giáp, ất ở phương Đông thuộc mộc; bính, đinh ở phương Nam thuộc hỏa; mậu, kỷ ở giữa thuộc thổ; canh, tân ở phương Tây thuộc kim; nhâm, quý ở phương Bắc thuộc thủy. Mười hai chi: dần, mão ở phương Đông thuộc mộc; tỵ, ngọ ở phương Nam thuộc hỏa; thân, dậu ở phương Tây thuộc kim; hợi, tý ở phương Bắc thuộc thủy; thìn, tuất, sửu, mùi ở giữa, là thổ của bốn mùa.

Phương vị của can chi do các nhà thiên văn cổ Trung Hoa quan trắc sự vận hành của mặt trời, mặt trăng và năm vì sao trên bầu trời mà định ra. Hai bên dải hoàng đạo và xích đạo vòng quanh bầu trời được chia thành hai mươi tám nhóm sao, mỗi nhóm lấy tên một vật nào đó trên mặt đất để gọi, thường gọi là "hai mươi tám tú". Hai mươi tám tú lại chia thành bốn nhóm, mỗi nhóm bảy tú, rồi phối bốn phương đông, nam, tây, bắc với bốn loài thanh long, bạch hổ, chu tước, huyền vũ, gọi là "bốn tượng", "bốn phương".

Thiên can che chở, địa chi nâng đỡ

Dù là can chi của mệnh cục, can chi của đại vận, hay can chi của tuế vận, lưu niên, tất cả đều là một chỉnh thể hữu cơ, tức giữa chúng có quan hệ qua lại. Thiên can che phủ địa chi, địa chi tàng chứa thiên can. Giả sử giáp hoặc ất là can ngày của Tứ trụ, tức hành làm chủ mệnh, thì xét xem các can chi còn lại mạnh hay yếu so với can ngày là điều rất quan trọng. Địa chi có dần, mão trợ giúp, hợi, tý tương sinh để nuôi giáp, ất thì bản thân sinh vượng; rất kỵ gặp thân, dậu vì sẽ bị khắc tổn. Ngược lại, nếu trong mệnh dần hoặc mão là chỗ trọng yếu, thì giáp, ất hoặc nhâm, quý nằm trên thiên can sẽ che chở cho dần, mão thêm vượng; gặp thiên can canh, tân che phủ bên trên thì bị khắc hại. Vậy mối quan hệ che phủ hay gánh vác có thể làm một hành nào đó mạnh lên hoặc yếu đi.

Điều thứ hai là thiên can và địa chi cùng loại ngũ hành thì có quan hệ gốc rễ. Thiên can thông gốc ở địa chi: trong dần có giáp, khí gốc của giáp mộc được sinh phù, gốc của thiên can nhờ đó bền chặt. Giáp mộc gặp chi mão thì trong mão ẩn ất mộc là loại cùng hành, sức bền của gốc kém hơn giáp mộc ở dần. Địa chi mà bị xung khắc thì gốc của thiên can dễ bị nhổ bật. Ngược lại, khi địa chi được thiên can ngầm trợ giúp, nếu thiên can gặp sinh phù thì địa chi cũng được hỗ trợ ngầm nên càng mạnh; nếu thiên can bị xung khắc thì sự giúp ngầm dành cho địa chi cũng suy yếu. Mối quan hệ che chở này giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với sự cân bằng chung của Tứ trụ, người mới học không được coi nhẹ.

Mùa vượng của khí năm hành

Sự khởi đầu và kết thúc của vạn vật trong vũ trụ cũng là quá trình năm khí lần lượt chuyển vật này thành vật khác. Mỗi khí đều trải các thời kỳ sinh, thịnh, suy, tử. Thời kỳ thịnh là thời kỳ "nắm lệnh". Lấy can chi làm biểu tượng thì giáp, ất, dần, mão thuộc mộc vượng ở mùa xuân; bính, đinh, tỵ, ngọ thuộc hỏa vượng ở mùa hạ; canh, tân, thân, dậu thuộc kim vượng ở mùa thu; nhâm, quý, hợi, tý thuộc thủy vượng ở mùa đông; mậu, kỷ, thìn, tuất, sửu, mùi thuộc thổ vượng ở cuối bốn mùa. Gộp phương vị và mùa vượng lại ta có bảng sau:

HànhThiên canĐịa chiPhương vịMùa vượng
MộcGiáp, ấtDần, mãoĐôngXuân
HỏaBính, đinhTỵ, ngọNamHạ
ThổMậu, kỷThìn, tuất, sửu, mùiGiữaCuối bốn mùa
KimCanh, tânThân, dậuTâyThu
ThủyNhâm, quýHợi, týBắcĐông

Sinh, vượng, tử, tuyệt của năm hành

Âm dương của can chi sinh ra từ ngũ hành; sức mạnh, yếu, thịnh, suy của kim, mộc, thủy, hỏa, thổ gắn liền với sự vận hành của các thiên thể. Đó là thế giới thống nhất giữa xã hội, lịch sử và tự nhiên. Trong dự đoán vận mệnh, người xưa đã tổng kết nhiều phương pháp suy đoán để cố ăn khớp với quy luật vận hành của thiên thể. Cách làm là lấy âm dương, ngũ hành của thiên can ngày giờ sinh đem đối chiếu với tình trạng khí bẩm sinh của trời đất, tức thuận nghịch, suy vượng, dày mỏng của tháng sinh, để đoán vận mệnh cả đời.

Lấy ví dụ người sinh ngày giáp, tháng dần. Can ngày là giáp mộc, sinh vào sau lập xuân, trước kinh trập, được thiên thời địa lợi, khí bẩm sinh tự nhiên dày dặn, nên gọi là "lâm quan". Nếu sinh vào tháng thân, thân thuộc kim, khắc mộc; tháng thân là sau lập thu, trước bạch lộ, đúng lúc cây cối thất thời thất thế, cây già vừa chết, cây non chưa hình thành, nên mộc "tuyệt" ở thân. Hai ví dụ ấy cho thấy cùng là giáp mộc, nhưng khí bẩm sinh nhận được ở hai tháng khác nhau là hai trạng thái trái ngược: một bên dày dặn, đúng thời; một bên đứt đoạn, thất thế, cũ đã mất mà mới chưa thành. Các tháng khác cũng ẩn chứa tin tức về vận mệnh và có thể suy theo cách ấy. "Lâm quan", "tuyệt" nằm trong vòng mười hai giai đoạn tượng trưng cho khí của mười hai tháng trong một năm. Thứ tự là: trường sinh, mộc dục, quan đái, lâm quan, đế vượng, suy, bệnh, tử, mộ, tuyệt, thai, dưỡng. Mười hai giai đoạn này cho thấy trạng thái của ngũ hành thể hiện ở mười hai chi. Bảng dưới đây cho vị trí của từng giai đoạn với mười can:

Giai đoạnGiápBính, MậuCanhNhâmẤtĐinh, KỷTânQuý
Trường sinhHợiDầnTỵThânNgọDậuTýMão
Mộc dụcTýMãoNgọDậuTỵThânHợiDần
Quan đáiSửuThìnMùiTuấtThìnMùiTuấtSửu
Lâm quanDầnTỵThânHợiMãoNgọDậuTý
Đế vượngMãoNgọDậuTýDầnTỵThânHợi
SuyThìnMùiTuấtSửuSửuThìnMùiTuất
BệnhTỵThânHợiDầnTýMãoNgọDậu
TửNgọDậuTýMãoHợiDầnTỵThân
MộMùiTuấtSửuThìnTuấtSửuThìnMùi
TuyệtThânHợiDầnTỵDậuTýMãoNgọ
ThaiDậuTýMãoNgọThânHợiDầnTỵ
DưỡngTuấtSửuThìnMùiMùiTuấtSửuThìn

Ý nghĩa của từng giai đoạn như sau:

  • Trường sinh giống như người vừa sinh ra, hay lúc giáng sinh; chỉ lúc vạn vật vừa mọc mầm.
  • Mộc dục là trẻ sơ sinh được tắm rửa trừ uế; chỉ vạn vật vừa sinh ra đã được trời đất tắm gội.
  • Quan đái là trẻ đã biết mặc áo đội mũ; vạn vật dần mạnh lên.
  • Lâm quan như người đã trưởng thành cường tráng, có thể làm quan, dẫn dắt người khác; sự vật đã trưởng thành.
  • Đế vượng tượng trưng người mạnh đến cực điểm, có thể giúp vua làm việc lớn; vạn vật đã thành thục.
  • Suy là đã cực thịnh nên khí bắt đầu suy; vạn vật bắt đầu có biến đổi suy yếu.
  • Bệnh như người đau yếu; vạn vật khốn đốn.
  • Tử là khí đã hết, thân xác đã chết; vạn vật bị diệt.
  • Mộ còn gọi là "kho", như người chết nhập mộ, hay vạn vật sau khi thành công thì về kho.
  • Tuyệt như thể xác con người đã tan rã thành đất; khí trước đã dứt, khí sau chưa đến, trong đất chưa có hình hài gì.
  • Thai như con người nhờ khí cha mẹ kết tụ thành thai; lúc khí trời đất giao nhau và kết thành thai.
  • Dưỡng như thai được mẹ nuôi trong bụng rồi được sinh ra; vạn vật hình thành trong đất rồi nảy mầm.

Cứ thế mọi vật đều trải vòng sinh sinh diệt diệt không ngừng. Từ trường sinh qua mười hai giai đoạn là từ nhỏ yếu đến lớn mạnh, từ cực thịnh đến suy bại, lặp đi lặp lại. Đó là nguyên nhân bốn mùa thay nhau biến đổi và khí ngũ hành lần lượt phân bố. Thổ gửi sinh ở dần vì dần là tháng giêng đầu xuân, lúc khí trời giáng xuống, khí đất dâng lên, trời đất hòa đồng, cỏ cây nảy mầm; thổ sinh ở dần cũng thuận trật tự ngũ hành tương sinh.

Còn có một quy luật nữa: khi can dương chết thì can âm sinh. Can dương tính thuận theo mười hai cung, can âm tính ngược lại, vì hai khí âm dương khác nhau, hợp với nguyên lý đạo trời quay trái, đạo đất quay phải. Can dương lâm quan thì can âm đế vượng, can âm lâm quan thì can dương đế vượng, và điều đó ứng theo bốn mùa. Có cách nói rằng giai đoạn mộc dục là "bại địa", nhưng cách nói ấy ngược lẽ tự nhiên: trẻ sơ sinh được tắm gội là để trừ uế, và lúc vạn vật chuyển từ hạt sang nảy mầm là hợp lẽ tự nhiên. Từ trường sinh đến đế vượng vạn vật lớn mạnh dần, vậy nếu nói mộc dục là bại địa thì làm sao giải thích quan đái, lâm quan, đế vượng lại là những giai đoạn hưng vượng dần lên?

Người xưa phân thiên can thành âm dương, còn khi nói về ngũ hành thì không chia âm dương mà chỉ chia thuận, nghịch và phân, hợp. Điều đó hợp lẽ tự nhiên và rất kỳ diệu. Qua kiểm nghiệm thực tế, dù là dương can tính xuôi, âm can tính ngược, hay mộc dục là nơi sinh vượng của can ngày, đều thấy rất chính xác.

Cách nhớ vòng mười hai cung bằng bàn tay

Nhớ được mười can ứng với sự vượng suy của mười hai cung là vô cùng quan trọng, vì lúc nào dự đoán cũng phải dùng đến. Cách nhớ là dựa vào hình bàn tay. Nếu can ngày là một trong năm can dương thì bắt đầu từ cung trường sinh đếm thuận theo thứ tự trường sinh, mộc dục, quan đái, lâm quan... đến mộ, tuyệt. Nếu can ngày là can âm thì cũng bắt đầu từ cung trường sinh của nó nhưng đếm ngược. Chỉ cần nhớ năm can dương giáp, bính, mậu, canh, nhâm có trường sinh lần lượt ở hợi, dần, dần, tỵ, thân rồi đếm thuận theo vòng bàn tay đến tháng cần biết, là biết nó rơi vào cung nào. Với năm can âm ất, đinh, kỷ, tân, quý, trường sinh ở ngọ, dậu, dậu, tý, mão, rồi đếm ngược mười hai cung đến tháng cần biết là xong. Phương pháp này dùng đi dùng lại trong mọi lần xem mệnh, nên phải thuộc cho thật chắc. Trong bảng, bính và mậu chung một cung trường sinh ở dần, đinh và kỷ chung một cung trường sinh ở dậu, nên mỗi cặp được gộp vào một cột. Đem bảng trên đối với hình bàn tay, người học sẽ tự rút ra được cách nhớ.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc