Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Thiên nguyên, địa nguyên và nhân nguyên: ba tầng khí của Tứ trụ

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc01/10/202612 phút đọc1 lượt đọc
Thiên nguyên, địa nguyên và nhân nguyên: ba tầng khí của Tứ trụ

Cùng là một lá số, người xưa không đọc một lượt mà tách ra ba tầng: khí trên trời, khí dưới đất và khí giấu trong lòng đất. Mỗi tầng có luật hợp, xung, hình, hại riêng của nó. Nhưng tầng nào mới thật sự là chủ của mệnh…


Thiên nguyên: bốn can và mười thần thấu ra

Can và chi trong Tứ trụ tượng trưng cho khí âm dương, trong đục của trời đất. Thiên can chủ về lộc nên gọi là thiên nguyên; địa chi chủ về thân nên gọi là địa nguyên. Con người là vật giữa trời đất, trong địa chi vốn đã tàng chứa khí trung hòa bẩm sinh của âm dương ngũ hành, là chủ của mệnh, gọi là nhân nguyên. Phán đoán tổng hợp ba nguyên thiên, địa, nhân như một thể thống nhất có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong mệnh lý. Khảo sát tam nguyên của một người là chỉ ra được toàn bộ tiền đồ, cát hung họa phúc, thuận nghịch của cả đời.

Bản mệnh của con người vốn gắn chặt với tam nguyên, đó là sự tổng hợp của mọi pháp tắc.

Mọi suy đoán đều lấy tam nguyên làm cơ sở; nếu kết hợp thêm tướng tay, tướng mặt thì đạt tới độ chính xác, chi tiết đến diệu kỳ. Thiên nguyên là can giờ, can ngày, can tháng, can năm trong Tứ trụ. Việc suy đoán thiên nguyên chủ yếu dựa vào sự hóa hợp sinh khắc ngũ hành giữa can ngày với ba can còn lại, cùng sự ước lượng mười thần, và sự phán đoán độ mạnh yếu, có hại hay có ích của điều mà can ngày làm chủ đã lộ ra trong Tứ trụ.

Từ thiên tượng có thể nhìn ra mức trong sáng, nặng nhẹ của khí bẩm sinh một người. Trong mười thần thấu ra, với điều kiện tiên quyết là sự mạnh yếu, vượng suy của Tứ trụ không bị phá vỡ, thì những tổ hợp trong sáng sẽ lộ ra là: thực (thương) sinh tài, tài sinh quan (sát), quan (sát) sinh ấn, thực thần chế sát, thương quan hợp sát, thương quan (thực thần) mang ấn... Đó thường là một trong những yếu tố của mệnh phú quý. Các tổ hợp còn lại phải tùy hoàn cảnh mà kết luận. Nói "thiên can lộ ra" tức là trên thiên can của Tứ trụ đã hiện mười thần.

Ba ví dụ đọc mười thần thấu trên thiên can

Ví dụ thứ nhất: sinh giờ tuất ngày 14 tháng 2 âm lịch năm 1993, Tứ trụ gồm giờ mậu tuất, ngày bính tuất, tháng ất mão, năm quý dậu. Trước hết xem quan hệ sinh khắc giữa nhật nguyên với các can khác lộ ra. Nhật nguyên là bính hỏa. Can năm quý thủy khắc bính hỏa; can âm khắc can dương của tôi, âm gặp dương là chính, nên can quý của năm lộ ra chính quan. Can tháng ất mộc sinh tôi bính hỏa; can âm sinh can dương, âm gặp dương là chính, nên can ất của tháng lộ ra chính ấn. Can giờ mậu thổ là cái tôi bính hỏa sinh ra; dương sinh dương, dương gặp dương là thiên, nên can mậu của giờ lộ ra thực thần.

Ví dụ thứ hai: sinh giờ thìn ngày 27 tháng 2 âm lịch năm 1993, Tứ trụ gồm giờ canh thìn, ngày canh ngọ, tháng giáp dần, năm quý dậu; nhật nguyên là canh. Can năm quý thủy là cái tôi canh kim sinh ra; dương sinh âm, dương gặp âm là chính, nên can năm lộ ra thương quan. Can tháng giáp mộc là cái tôi canh kim khắc; dương khắc dương, dương gặp dương là thiên, nên can tháng lộ ra thiên tài. Can giờ canh kim cùng loại ngũ hành với nhật nguyên, dương gặp dương, nên can giờ lộ ra tỉ.

Ví dụ thứ ba: sinh ngày 25 tháng 2 âm lịch năm 1993, Tứ trụ gồm giờ canh tuất, ngày đinh dậu, tháng ất mão, năm quý dậu; nhật nguyên là đinh. Can năm quý thủy khắc tôi đinh hỏa; can âm khắc can âm, âm gặp âm là thiên, nên can năm lộ ra thất sát. Can tháng ất mộc sinh tôi đinh hỏa; âm sinh âm là thiên, nên can tháng lộ ra kiêu thần, tức thiên ấn. Can giờ canh kim là cái tôi đinh hỏa khắc; âm khắc dương, âm gặp dương là chính, nên can giờ lộ ra chính tài.

Ngũ hợp của thiên can và ngũ hành hóa ra

Giáp hợp với kỷ, tức gặp người hay việc là sự hợp trung chính. Ất hợp với canh là hợp nhân nghĩa. Bính hợp với tân là hợp có uy lực chế ngự. Đinh hợp với nhâm là hợp dâm loạn. Mậu hợp với quý là hợp vô tình. Năm cặp hợp của thiên can là sự hợp âm dương, như nam nữ hợp nhau thành đạo vợ chồng. Cho nên kinh Dịch nói một âm một dương gọi là đạo, còn lệch hẳn về một bên thì thành tật. Sự hợp giữa người hay việc bắt nguồn từ bản tính của âm dương ngũ hành. Khi thiên can hợp nhau thì hóa thành ngũ hành: giáp hợp kỷ hóa thổ, ất hợp canh hóa kim, bính hợp tân hóa thủy, đinh hợp nhâm hóa mộc, mậu hợp quý hóa hỏa.

Một can âm hợp một can dương mà hóa ra ngũ hành như vậy giữ vai trò quan trọng đối với sức mạnh yếu của nhật nguyên: nó có thể thêm sinh phù hoặc thêm khắc chế cho nhật nguyên.

Địa nguyên: lệnh tháng quyết định vượng suy

Các địa chi trong Tứ trụ gọi là địa nguyên. Sự hình, xung, hại, hợp của các địa chi ảnh hưởng rất lớn đến nhật nguyên. Lệnh tháng, tức chi của tháng sinh, giữ vai trò quyết định đối với việc nhật nguyên vượng hay suy, đắc địa hay không. Những địa chi tiềm tàng từ các địa tượng còn có ý ẩn dụ đối với người và việc. Giữa các địa chi với nhau chỉ nói đến xung, khắc, hóa, hợp mà không nói đến tương sinh: tý thủy vừa xung vừa khắc ngọ hỏa; thìn thổ với dậu kim chỉ nói quan hệ hóa hợp chứ không nói quan hệ tương sinh.

Lục hợp của địa chi

Lục hợp gồm tý hợp sửu, dần hợp hợi, mão hợp tuất, thìn hợp dậu, tỵ hợp thân, ngọ hợp mùi. Khi hợp, các địa chi hóa thành ngũ hành: tý hợp sửu thành thổ; ngọ hợp mùi thành thổ; dần hợp hợi thành mộc; mão hợp tuất thành hỏa; thìn hợp dậu thành kim; tỵ hợp thân thành thủy. Những hành do địa chi hợp hóa nên đối với sức mạnh yếu của nhật nguyên có thể làm tăng thêm hoặc gây tổn hại. Trên bàn tay, các cặp lục hợp cũng có thể ghi nhớ theo vị trí.

Tam hợp cục và tam hội cục

Một âm với một dương là đạo tự nhiên, còn ba thì hóa; đó là lẽ ba thì sinh ra vạn vật. Ba địa chi thành tam hợp cục sẽ lần lượt rơi vào ba trường hợp là trường sinh, đế vượng và mộ kho của nhật nguyên. Thân, tý, thìn hợp thành thủy cục; hợi, mão, mùi hợp thành mộc cục; dần, ngọ, tuất hợp thành hỏa cục; tỵ, dậu, sửu hợp thành kim cục.

Khi giữa các địa chi của Tứ trụ có lục hợp hoặc tam hợp cục, thường chủ về người có dung nhan đẹp, tính cách thanh lịch, thần khí ổn định, yêu cuộc sống, lòng dạ thẳng thắn, linh lợi, thông minh, hoạt bát. Hợp cục mà là cát thần thì tốt, hợp cục mà là hung thần thì xấu. Hợp thành tương sinh là tốt nhất, hợp thành tương khắc thì không tốt, hợp thành tử tuyệt thì suốt đời sống bất đắc chí. Trong tam hợp hóa cục, hóa cát là tốt, hóa hung là xấu.

Còn tam hội thì các địa chi trong Tứ trụ hội thành một ngũ hành: dần, mão, thìn tam hội là phương Đông, mộc; tỵ, ngọ, mùi tam hội là phương Nam, hỏa; thân, dậu, tuất tam hội là phương Tây, kim; hợi, tý, sửu tam hội là phương Bắc, thủy. Tam hội cục tụ thành vượng khí của cả một phương, nên khí âm dương ngũ hành của nó vượng nhất; sau đó mới đến tam hợp cục, rồi đến lục hợp.

Lục xung, lục hại và tam hình

Người xưa lấy số 7 để giải thích: đó là số tận cùng của trời đất, là khí cực của âm dương. Vị trí của mười hai địa chi đối địch nhau nên ngũ hành xung nhau. Xung nghĩa là bất hòa. Dương gặp dương, âm gặp âm, hai âm là thiếu, cũng là khắc; đạo lý này giống như bệnh tật do thiên lệch hẳn về âm hoặc về dương. Các cặp xung là tý ngọ, sửu mùi, dần thân, mão dậu, thìn tuất, tỵ hợi. Trong đó tý ngọ và tỵ hợi là sự xung khắc của thủy với hỏa; dần thân và mão dậu là sự xung khắc của kim với mộc. Riêng thìn tuất sửu mùi cùng một ngũ hành nên chỉ nói xung, không nói khắc.

Lục hại gồm tý mùi, sửu ngọ, dần tỵ, mão thìn, thân hợi, dậu tuất. Lẽ của nó là: tý hợp với sửu, mùi đến xung tan, nên tý mùi hại nhau; sửu hợp với tý, ngọ đến xung tan, nên sửu ngọ hại nhau; dần hợp với hợi, tỵ đến xung tan, nên dần tỵ hại nhau; mão hợp với tuất, thìn đến xung tan, nên mão thìn hại nhau; tỵ hợp với thân, dần đến xung tan; thân hợp với tỵ, hợi đến xung tan nên thân hợi hại nhau; dậu hợp với thìn, tuất đến xung tan, và tuất hợp với mão, dậu đến xung tan, nên dậu tuất hại nhau.

Tam hình thì ân sinh ra hại, hại sinh ra ân; tam hình sinh ra từ tam hợp, giống như lục hại sinh ra từ lục hợp. Với người và việc, như vợ chồng vốn hợp nhau nhưng khi phản lại thì thành hại nhau. Theo đạo trời, tam hình là số cực, tức khi tội ác đầy trời thì dẫn tới đổ sập. Vì thế tý hình mão, mão hình tý là hình phạt do vô lễ; dần hình tỵ, tỵ hình thân, thân hình dần cứ nối vòng với nhau; còn thìn, ngọ, dậu, hợi tự hình lẫn nhau.

Nhân nguyên: can tàng trong địa chi

Cái mà địa chi tàng độn gọi là nhân nguyên, làm chủ về mệnh nên còn gọi là thần nắm sự việc. Mười hai địa chi ứng với mười hai tháng, và mỗi địa chi đều tàng độn ngũ hành, gọi là nhân nguyên. Số thiên can mà mỗi chi tàng độn không giống nhau: có chi chỉ tàng một can, có chi tàng hai can, có chi tàng ba can. Cụ thể như sau:

Địa chiCan tàng độn
TýQuý
SửuKỷ, tân, quý
DầnGiáp, bính, mậu
MãoẤt
ThìnMậu, quý, ất
TỵBính, canh, mậu
NgọĐinh, kỷ
MùiKỷ, ất, đinh
ThânCanh, nhâm, mậu
DậuTân
TuấtMậu, đinh, tân
HợiNhâm, giáp

Khi địa chi chỉ tàng một can thì can đó là bản khí ngũ hành của nó. Khi tàng hai hoặc ba can thì phân biệt: can có khí ngũ hành giống địa chi là bản khí, can thứ hai hơi thấp hơn là trung khí, can thứ ba là khí thừa. Lấy lại Tứ trụ ví dụ thứ ba ở trên làm mẫu (nhật nguyên đinh): trong chi năm, dậu kim tàng tân kim; nhật nguyên đinh hỏa khắc tân kim, âm khắc âm là thiên tài. Trong chi tháng, mão mộc tàng ất mộc; ất mộc sinh tôi đinh hỏa, âm sinh âm là kiêu. Trong chi giờ có ba can tàng độn: mậu là bản khí của tuất, khí nồng đậm nhất; tân kim kém hơn; đinh hỏa kém hơn nữa. Can ngày tôi đinh hỏa sinh mậu thổ, âm sinh dương là chính ấn; tôi khắc tân kim, âm khắc âm là thiên tài; đinh hỏa với đinh hỏa cùng loại là tỉ, tức ngang vai. Vậy là đã sắp xếp xong nhân nguyên của địa chi.

Xưa nay chuyện nhân nguyên tàng can khó trình bày thành mục rõ ràng, nên nói như sau. Xét theo bản khí, bản khí của dần, mão là giáp mộc, ất mộc; của tỵ, ngọ là bính hỏa, đinh hỏa; của thân, dậu là canh kim, tân kim; của hợi, tý là nhâm thủy, quý thủy; của thìn, tuất là mậu thổ; của sửu, mùi là kỷ thổ. Chuyện hợi tàng giáp, dần tàng bính, tỵ tàng canh, thân tàng nhâm là do lẽ thổ sinh kim, thủy. Mùi tàng ất, tuất tàng đinh, sửu tàng tân, thìn tàng quý và ất; mùi còn tàng đinh, tuất còn tàng tân, sửu còn tàng quý, đó là do dư khí của mộc, hỏa, kim, thủy. Dần, tỵ còn tàng mậu, ngọ còn tàng kỷ, đó là lẽ thổ được mẹ hỏa sinh vượng. Tóm lại, nếu chỉ có khí của chính nó thì không thể phân vị trí của địa chi; mỗi địa chi được chia cho một vài nhật can để chủ quản việc của mình, vì nó còn dư khí. Cho nên trong dự đoán phải tham khảo thêm các dư khí ấy.

Để người mới học dễ tra, có thể xét địa chi của nhật chủ tàng các can sẽ hiện ra mười thần nào. Khi tra, ví dụ địa chi là tý, can tàng là quý, can ngày là giáp, thì quý thủy sinh giáp mộc, âm gặp dương là chính, nên là chính ấn. Các trường hợp khác cũng suy luận tương tự.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc