Bài tổng quan
Lý Tàng Tượng Trong Lục Hào: Tượng Của Tam Hình
Người cha hỏi về đứa con trai, quẻ gieo ra không có lấy một hào động. Nhìn vào chỉ thấy hào Tử tôn hưu tù, lâm Huyền Vũ, rồi cùng ngày và tháng góp thành đủ bộ Tị Dần Thân. Người đoán nói ngay: đây là ỷ thế hình, cậy thế mà làm càn, thêm Huyền Vũ chủ trộm cắp lừa gạt, nên đứa con sẽ vì trộm cắp hoặc lừa gạt mà phạm hình vào tù, lại không có chỗ nào nâng đỡ để cứu. Quả nhiên đúng như vậy, con ông đi lao động cải tạo. Bao đời nay người học Lục hào vẫn cãi nhau xem tam hình có ứng nghiệm hay không. Vậy đặt nó đúng chỗ thì nó nói được những gì?
Mục lục · 1 phần
Tượng của Tam hình
Tam hình từ xưa đến nay là tiêu điểm tranh luận trong Lục hào. Đại thể có ba loại quan điểm: 1, tam hình là xấu. 2, tam hình chỉ phụ họa cho Dụng thần, tuy là xấu nhưng không có tác dụng quyết định. 3, tam hình không ứng nghiệm.
Thực tế tam hình hữu dụng trong dự đoán. Tuy chỉ bằng tam hình không thể định chuyện cát hung nhưng có thể xem thêm Dụng thần suy vượng để dùng tam hình phân rõ ý tứ. Tam hình đa phần chủ không tốt. Về mức độ xấu nặng hay nhẹ thì tất cả phải xem Dụng thần.
Tam hình: Dần hình Tị, Tị hình Thân, Thân hình Dần, Tý hình Mão, Mão hình Tý, Sửu hình Tuất, Tuất hình Mùi, Mùi hình Sửu, Thìn Ngọ Dậu Hợi tướng hình. Trong đó Dần Tị Thân tam hình, gọi là ỷ thế hình. Tý và Mão hình, gọi là vô lễ hình. Sửu Tuất Mùi hình, gọi là vô ân hình. Hình có hình khắc, thống khổ, hình danh, phạm hình, thụ hại. Trong Lục hào sinh khắc là quan trọng, tam hình không quá quan trọng. Tam hình chỉ phụ họa Dụng thần mà thôi chứ tam hình không thể dùng để đoán cát hung. Dần hình Tị, sinh tàng Hình. Thìn Ngọ Dậu Hợi, trong quẻ xuất hiện tại nhật nguyệt lại có tác dụng sinh trợ, Thìn thổ hóa xuất Thìn thổ thì là phục ngâm, phần lớn luận là không tốt.
Tam hình không chủ nhiều về cát hung mà quan trọng là phân biệt nghĩa. Tam hình có thụ hình, phạm hình, khó chịu, không may, chịu tội, thụ thương, thống khổ, hình sự, hình danh; gây chuyện, chỉ trích, làm khó dễ, thêm buồn phiền, thêm phiền phức, liên lụy, mâu thuẫn, miệng lưỡi; căm hận, ghen ghét, tổn thương, phá hư, đấu tranh, tương tàn, mưu hại, tác quái, âm hiểm. Khi kết luận cần căn cứ tương hỗ giữa quan hệ sinh khắc, nguyệt phá không vong, lục thần mà phán đoán linh hoạt.
Ví dụ 1
Ngày Canh Thân tháng Ất Tị năm Đinh Sửu, một người đàn ông xem con trai cát hung như thế nào? Được quẻ Thủy Lôi Truân.
Lấy Tử tôn làm Dụng thần. Dụng thần hưu tù lâm Huyền Vũ cùng Nhật Nguyệt cấu thành tam hình. Tị Dần Thân là ỷ thế hình, là ngạo ngược cậy thế mà làm càn. Tử tôn lại lâm Huyền Vũ là chủ trộm cắp, lừa gạt. Nên đoán đứa con trộm cắp hoặc lừa gạt mà phạm hình vào tù. Nguyên thần của Tử tôn không vong, Dụng thần hưu tù, không có gì nâng đỡ, rất khó cứu.
Quả nhiên là vì trộm cắp, lừa gạt vào tù, bị lao động cải tạo.
Ví dụ 2
Cùng một chữ hình, đem từ nhà lao về phòng khuê, nó đổi giọng thành nỗi phiền toái do chính mình chuốc lấy.
Ngày Đinh Hợi tháng Bính Thìn năm Mậu Dần, một phụ nữ xem hôn nhân, được quẻ Địa Sơn Khiêm biến Lôi Hỏa Phong.
Lấy Quan quỷ làm Dụng thần. Quẻ này Tử tôn Hợi Thủy vượng trì Thế. Quan quỷ Ngọ hỏa không vong hưu tù, xem hôn nhân tượng quẻ như thế là không tốt. Hương Khuê Hợi Thủy lâm Thế. Quan quỷ Ngọ hỏa nhập hào trạch, là có đàn ông trong nhà. Nhưng Phụ mẫu Sửu thổ động hóa không, nhập mộ tại Thìn thổ. Sơ hào Phụ mẫu Thìn thổ động hóa hồi đầu khắc. Phụ mẫu là giấy đăng ký kết hôn nên không có hôn thú mà chỉ sống chung với nhau.
Quan quỷ lâm Ứng, Ứng là phu vị, tuy là chồng, nhưng vì không vong nên chỉ là danh nghĩa vợ chồng. Tài phục dưới Quan, người đàn ông này có một người phụ nữ khác, khả năng là vợ, lại ở hào hai là hào nhà nên khả năng đã có vợ ở nhà là rất lớn. Hào Thế Hợi Thủy lâm Nhật. Hợi Hợi là tự hình, nghĩa là cuộc hôn nhân này tự bản thân mình tìm lấy. Và cũng chính vì tự hình nên tự mình chuốc lấy phiền phức.
Phản hồi: Cô gái này làm đào ở quán karaoke, quen một người đàn ông đến hát và ở chung với nhau.
Ví dụ 3
Một đứa con nữa bước vào quẻ, lần này cái hào nói về nó lại không chịu lộ mặt.
Ngày Canh Ngọ tháng Kỷ Sửu năm Ất Hợi, một phụ nữ xem cát hung của con được quẻ Phong Địa Quán biến Thủy Lôi Truân.
Lấy Tử tôn làm Dụng thần. Quẻ này Tử tôn Tý thủy không hiện lên quẻ, phục dưới sơ hào Phụ mẫu Mùi thổ bị Nguyệt khắc Nhật xung, nguyên thần cũng phục nên khó sinh phù. Phi hào Phụ mẫu Mùi thổ lâm Bạch Hổ động đến khắc, dữ nhiều lành ít.
Trong quẻ hào sáu Mão mộc phát động cùng Tử tôn Tý thủy tướng hình, hình chủ hình sự, phạm hình. Lâm Đằng Xà, Đằng Xà chủ buộc chặt, con cô ta nhất định là phạm tội, bị công an bắt.
Nguồn: Dịch Kinh Chân Tủy – Lục Hào Tượng Giải (An Hạ)
