Bài tổng quan
Hào Tử Tôn: Phép Đoán Con Cái, Nuôi Dưỡng Và Nối Dõi Tông Đường
Một người đàn ông ngoài ngũ tuần sinh liền bốn con trai, tưởng đã yên bề gia thất. Nhưng Dã Hạc lão nhân nhìn quẻ Khôn biến Cấn lại lắc đầu: hào Quỷ biến Tử Tôn, hào Tử biến Quỷ, cả hai tượng đều báo không giữ được con. Quả nhiên chín đứa trẻ lần lượt qua đời, người cha phải lập cháu nối dõi. Ở quẻ khác, một đứa con thất lạc mười tám năm giữa loạn lạc lại được đoán đúng ngày đoàn tụ với cha. Tăng San Bốc Dịch dựng cả hệ thống quanh hào Tử Tôn để phân biệt con vợ cả với con vợ lẽ, con ruột với con nuôi, đứa hiền đức với đứa bạc phận. Một hào duy nhất làm sao gánh nổi ngần ấy tầng nghĩa về con cái?
Dụng Thần Tử Tôn: Ranh Giới Giữa Chuyện Đã Qua Và Chuyện Sắp Tới
Xem về con cái, cần phải nói rõ ràng, là đã có con, muốn xem về sau có sinh nở nữa không; hay hỏi xem con cái có sống lâu hay không; hay là chưa từng sinh nở, hỏi xem sau này có con hay không?
Dịch chỉ mách bảo chuyện tương lai, không hiển hiện chuyện đã qua. Ví như khi xem về thời tiết, thì thần linh chỉ mách bảo chuyện lụt hạn trong tương lai, chứ không phản ánh chuyện nắng mưa của ngày qua. Giả sử đã có con cái, hỏi xem sau này có sinh nữa không, nếu quả thực về sau không sinh nở thêm, thì thần ắt mách bảo cho tượng quẻ không con. Nếu câu hỏi hàm hồ, không nói rõ là đã có con, mà quẻ hiện lên là tượng không con, người xem quẻ chỉ căn cứ vào tượng quẻ mà đoán, người xem lúc ấy chắc gì chịu phục.
Cũng có trường hợp tuy đã sinh con, nhưng con không nuôi được lâu, thì thần cũng hiện lên tượng quẻ tuyệt tự.
Ví dụ: Vào ngày Quý Hợi tháng Dần, xem con cái được mấy người, được quẻ Khôn biến Cấn:


Ta đoán rằng: "Hào Quỷ biến Tử Tôn, hào Tử biến Quỷ, chỉ cần gặp một trong hai trường hợp này đã chủ về không con. Quẻ này lại xuất hiện hai tượng không con." Người xem bèn nói: "Thời trẻ khó khăn về đường con cái, ngoài ngũ tuần thì sinh liền bốn con trai, con trai trưởng đã sáu tuổi." Ta đáp: "Nếu theo tượng quẻ này, e rằng khó giữ được."
Người này thê thiếp rất đông, trong vòng năm ba năm, cứ sinh là chết. Sinh đến chín con, không còn được một người. Sau chết đi phải lập cháu nối dõi, thế tập chức vị.
Phúc đức vượng long, dục nhi hiền đức.
Phúc đức hưng vượng, sinh con hiền đức.
Phúc đức tức hào Tử Tôn, nếu hưng vượng, được sinh phù, hoặc lâm Nhật Nguyệt, hoặc gặp Đế Vượng, Trường Sinh tại Nhật thần, hoặc động hóa cát, chủ về sinh con hiền đức.
Tân bình thích: Thuyết này không ổn, suy vượng chỉ có thể nói sức khỏe của con cái, cơ thể có khỏe mạnh hay không, không thể nói hiền đức ra sao. Tử Tôn sinh Thế, vượng mà lâm Thanh Long, là con cháu có tiền đồ mà biết hiếu đạo, lâm Bạch Hổ Huyền Vũ mà khắc Thế, là bị hại bởi con. Tử Tôn lâm Long, tài đức mà biết lễ độ; lâm Tước, thiện ngôn mà nhiều tiếng cười; lâm Câu, hoặc lười biếng hoặc ngu đần; lâm Xà, bí hiểm, xảo quyệt; lâm Bạch Hổ, bướng bỉnh, hiếu động, không nghe lời; lâm Huyền Vũ, tính cách hướng nội. Quý ở phân tích linh hoạt.
Tử Tôn suy nhược, sinh tử ngu si.
Tử Tôn suy nhược, con cái ngu đần.
Nếu hào Tử Tôn suy nhược, ắt sẽ sinh con ngu đần. Suy mà lại bị khắc, hưu tù vô khí, hoặc gặp Mộ, Tuyệt, Không, Phá, hoặc động mà hóa hung, hoặc bị Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động xung khắc, hoặc hào Phụ hóa hào Tử, hoặc hào Tử hóa hào Phụ, hoặc hào Quỷ hóa Tử Tôn, hoặc hào Phụ Mẫu trì Thế, đều chủ về có sinh không dưỡng. Hào Tử động gặp Tuần Không cũng không đáng ngại, vào năm xung Không, thực Không sẽ sinh con trai.
Giác Tử bàn rằng: "Hoàng kim sách" có viết, hào Tử hóa hào Huynh, là điềm sinh con ngu độn, mà không biết được rằng, hóa Huynh là hồi đầu sinh, làm sao lại là tượng con cái không tốt.
Phần chú giải trong sách lại viết: Hào Tử hóa Quỷ cũng là tượng con cái bất tài. Hóa Quỷ trăm con không sống được một, đâu chỉ có bất tài?
Ví dụ: Vào ngày Tân Mão tháng Thân, xem về con cái, được quẻ Phục:

Đoán rằng: "Thân cát mà được Tử sinh phù, là tượng hòa hợp. Nhật kiến Mão xung động hào thượng Tử Tôn mà sinh Thế, nên là tượng con từ xa về đến nhà." Người xem mừng rỡ mà nói: "Năm tôi ba mươi bảy tuổi có sinh một người con trai, nay đã mười tám, nhưng vì loạn lạc mà thất lạc, không biết hiện ở nơi đâu." Ta nói: "Chúc mừng ông! Trong quẻ hiện rõ Tử Tôn từ hào 6 động mà sinh Thế, nên con trai ông ắt sẽ quay về." Người này bèn hỏi: "Vậy lúc nào sẽ gặp? Ta đáp: Năm sau là năm Giáp Thìn, tương hợp với Dậu kim, chắc chắn sẽ thành đạt mà quay về."
Quả nhiên đến tháng sáu năm sau, cha con được trùng phùng.
Con Vợ Cả, Con Vợ Lẽ Và Duyên Nhận Nuôi Con Người Khác
Xác định được dụng thần rồi, câu hỏi kế tiếp xoay quanh gốc gác của đứa trẻ: con dòng chính hay dòng thứ, máu mủ hay nuôi dưỡng.
Tài hóa Tử, khả biện chính xuất thứ xuất.
Hào Tài hóa Tử, cần phân biệt con vợ chính con vợ lẽ.
Trong quẻ có hào Tài mà không có hào Tử Tôn, cần phải xem hào biến. Nếu hào biến là Tử Tôn, là chỉ có con do vợ lẽ sinh, nên có thể đoán rằng: Vợ cả không có con, ắt là con do vợ lẽ sinh.
Nếu trong quẻ có hào Tử Tôn, hào biến cũng là Tử Tôn, lại không luận theo cách này. Trong trường hợp đó, hào biến Tử Tôn tượng trưng cho con đẻ muộn. Nếu vợ chính, vợ lẽ đều đã sinh nở, mà hỏi xem con cái có hiền đức không, thì hào Tử Tôn trong quẻ chính chỉ con vợ cả, hào Tử Tôn trong quẻ biến chỉ con vợ lẽ.
Ví dụ: Ngày Kỷ Dậu tháng Tị, vì sinh con đều chết yểu, nên xem về sau còn có con hay không, được quẻ Bí biến Vô Vọng:


Ta đoán rằng: "Đã đổi qua vợ chưa?" Người xem liền đáp: "Vẫn là một vợ trước." Ta đáp: "Vợ cả có bị tổn thương, con cái mới có thể sống sót." Người xem hỏi nguyên nhân, ta giải thích: "Quẻ nội hào Tài Hợi thủy chỉ vợ cả, gặp phá lại bị khắc. Hào 5 Thê Tài Tý thủy chỉ vợ kế, biến thành Thân kim Tử Tôn, nên ắt sẽ sinh con. Nhưng hào 5 Tý thủy cũng bị Tuất thổ khắc, tuy động hóa Thân là hóa Trường Sinh, lại được Nhật thần Dậu tương sinh, nhưng khó tránh khỏi nhiều bệnh tật."
Xem năm Mão, đến năm Tị thì vợ cả chết, đến mùa đông năm đó tục huyền, sang năm Thân sinh con. Vợ hai sau cũng bị ốm, nằm liệt giường.
Tân bình thích: Lý luận này chưa hẳn hoàn toàn đúng, cần phải phán đoán linh hoạt. Quan niệm của người thời nay đã khác xưa, người vì sinh con mà cưới vợ nhiều lần rất ít, cũng không được cùng lúc lấy nhiều vợ, không có phân biệt vợ chính vợ lẽ.
Ví dụ: Ngày Ất Tị tháng Mùi năm Ất Hợi, một người đàn ông kết hôn đã mấy năm, nhưng vợ mãi không thể mang thai, đoán năm nào có con, được Đại Quá biến Tiểu Quá.


Đây là quẻ có hào Tài mà không có Tử Tôn, hào 2 động mà biến ra Tử Tôn Ngọ hỏa, theo lý luận ở trên thì đây là con vợ lẽ. Tôi không đoán như vậy. Tử Tôn phục dưới hào Thế, được Nguyệt hợp vượng, Nhật thần phù khởi, có con và là con của mình. Phi đến khắc Phục, Phụ Mẫu Hợi thủy lại động đến khắc Tử Tôn, năm Thìn Phụ Mẫu nhập Mộ, năm Tị xung mất Phi thần, không năm Canh Thìn thì năm Tân Tị có con.
Sau đó, năm Kỷ Mão mang thai rồi sảy thai, năm Canh Thìn lại mang thai, tháng Mão năm Tân Tị sinh hạ một đứa con trai.
Tử hóa Tử, tu tri bản cung tha cung.
Tử hóa Tử, nên xem rõ thuộc cùng cung hay khác cung.
Tử Tôn hóa Tử Tôn, có hai điều ứng nghiệm như sau:
Nếu là người trẻ tuổi chưa có con, được quẻ này là tượng đông con. Nếu là người đã sinh con, được quẻ này là tượng đông con nhiều cháu.
Nếu là người già không con, được quẻ này, là tượng nuôi con người khác; còn về con cái, cần phải phân biệt rõ, nếu hóa thành quẻ thuộc cung khác, là tượng nuôi con khác họ; nếu hóa thành quẻ cùng cung, là tượng nuôi cháu trong họ.
Ví dụ: Ngày Mậu Tuất tháng Tý, đã có con, xem về sau có sinh nữa không, được quẻ Truân biến Tiết:


Hào Tử Tôn hóa Tử Tôn, lại được Nguyệt kiến tương sinh, không những chủ về đông con, mà còn nhiều cháu. Người xem hỏi rằng: "Số tôi được mấy con?" Ta bèn đáp: "Trong sách xưa có ghi lại phương pháp xem về số con, ta thấy không hợp lý, nên không dám đoán theo đó để lừa người." Người xem bèn hỏi: "Phép xưa sai ở chỗ nào?" Ta bèn đáp: "Phép xưa cho rằng thủy một, hỏa hai, mộc ba, kim bốn, thổ năm, chỉ dừng lại ở số năm. Vậy như Văn Vương có trăm con, thì dựa vào đâu mà đoán? Ta chỉ xem nhiều hay ít, nếu vượng tướng là đông con; nếu muốn xem hiền hay ngu, cần xem riêng quẻ khác, nếu là vượng tướng thì con hiền, thử nhiều lần thấy đều ứng nghiệm. Nay ta thử đoán quẻ này, xem về sau có ứng nghiệm không. Hào động Tử Tôn Dần mộc, chỉ về con đã sinh; hào biến Tử Tôn Mão mộc, chỉ con sẽ sinh sau này." Hỏi xem đã được mấy con, người xem đáp được bốn. Ta nói: "Vẫn còn bốn đứa nữa!"
Hơn mười năm sau, quả nhiên sinh thêm được bốn trai. Ta đến thăm nhà, thấy có đứa tuổi Mão chỉ có một mắt, còn lại đều không có khuyết tật. Ta bèn nói: "Đứa con này về sau sẽ hiển quý." Người này hỏi nguyên do, ta đáp: "Quẻ trước biến ra hào Tử Tôn Mão mộc, bị Nguyệt kiến tương hình, được Nhật thần tương hợp. Trong hình có hợp, nên nay đứa con này bị phá tướng, ắt sẽ hiển quý." Người con này mười bốn tuổi nhập học, do cuối đời Minh không tổ chức đại khoa, thi Cống sinh đỗ đầu, làm quan đến Tham chính. Còn chuyện sau nữa chưa rõ.
Lại ví dụ: Ngày Đinh Dậu tháng Tị, xem có con trai không, được quẻ Vị Tế biến Tiết.


Người này sinh nhiều lần chỉ được con gái, đều không nuôi được, nên hỏi xem về sau có sinh được con trai không. Quẻ nội Thìn thổ Tử Tôn lâm Không lại bị Dần mộc khắc, là tượng không con. May được quẻ ngoại có Mùi thổ hóa Tử Tôn, nên khuyên người này nên sớm nhận con nuôi. Người xem nói: "Đúng là tôi đang có ý này! Anh vợ có người con trai rất thông minh, đang muốn nhận nuôi, không biết thế nào!" Ta bèn nói: "Cung Ly biến thành cung khác, nên phải là nhận con nuôi khác họ. Sau quả nhiên nhận cháu ngoại làm con nuôi."
Ví dụ: Vào ngày Canh Tý tháng Hợi, xem có con trai không, được quẻ Truân biến Tiết:


Người này tuổi ngoại lục tuần, chưa hề có con. Bản thân cũng hiểu về Dịch lý, nên xem được quẻ này rất vui mừng, cho rằng hào Thế Tử Tôn lại hóa thành Tử Tôn, được Nhật kiến tương hợp, Nhật thần tương sinh, nên ắt là điềm đông con. Nhưng ông ta không biết rằng, hào Tử Tôn hóa Tử Tôn, thì đó không phải là con ruột. Tháng ba năm sau, chết ở nơi nhiệm chức, sau lập cháu để thừa kế.
Tân bình thích: Được hào Ứng hóa ra Tử Tôn hoặc hào Ứng động mà đến sinh Tử Tôn cũng là tượng nhận con người khác làm con thừa tự.
Ví dụ: Ngày Đinh Hợi tháng Tý năm Ất Hợi, nam có vợ nhiều lần sảy thai, đoán sau này có thể có con hay không? Được Phục biến Quải.


Nhật Nguyệt tuy không sinh Tử Tôn, nhưng cũng không khắc Tử Tôn, Tử Tôn được hai tầng thổ động đến sinh, sau này sẽ có con. Nhưng Ứng thổ động sinh Tử Tôn, hào 5 Tài động lại hóa Tử Tôn, đây là cách sơn hóa hào, hào Ứng hóa ra Tử Tôn, chính là con người khác. Vì vậy trước tiên là năm Sửu nhận con người khác làm con thừa tự, năm Dần, hào 5 động mà gặp hợp, mới có thể có con của mình.
Về sau ở năm Đinh Sửu nhận con gái người khác làm con nuôi, năm Mậu Dần lại sinh được một đứa con gái.
Dễ Nuôi Hay Khó Nuôi, Giàu Sang Hay Bần Hàn
Biết được gốc gác của con rồi, phép xem còn phải phân định thêm phúc phận: nuôi có được lâu bền hay không, sau này giàu có hay túng thiếu.
Phụ chiêm tử, tri kỳ dị dưỡng; Tử lâm quý, nan viết thành danh.
Cha xem về con, chỉ biết có dễ nuôi; Tử Tôn vượng tướng, khó nói thành danh.
Cha xem về con, chỉ biết được là dễ nuôi hay khó nuôi, chứ không biết được có giàu sang hay không. Hào Tử Tôn vượng tướng, sẽ khắc chế Quan tinh. Nếu Tử Tôn hưu tù, lại không thể ăn lộc quan, bởi vậy, chỉ đoán được là dễ nuôi hay khó nuôi mà thôi. Hào Tử Tôn vượng tướng, hoặc động mà hóa cát, hoặc lâm Nhật Nguyệt, hoặc được Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động sinh trợ, hoặc gặp Trường Sinh, Đế Vượng, đều đoán là con cái được khôn lớn trưởng thành. Nếu hưu tù Không Phá, hoặc động mà hóa hung, khác gì ngọn đèn trước gió, chỉ sinh khó nuôi. Còn muốn xem con cháu có được giàu sang hay không, nếu hào Tử Tôn vượng tướng lại được sinh phò, tự nhiên sẽ phú quý. Nếu dựa vào đó để đoán công danh khoa cử, là lừa dối người ta. Trong "Hoàng kim sách" có viết: "Tử gặp Quý Nhân, ắt sẽ ngày thăng quan tiến chức." Lại viết: "Lộc Quý ở hào, tuổi trẻ quan cao"; cho rằng nếu Lộc, Quý tại Tử Tôn, mà hóa Quỷ, thì lại là hóa Quan, nên đoán là làm quan lớn. Ta tra xem Thiên Ất Quý Nhân khi xuất hiện tại hào, đều không gặp Lộc; còn Quý Nhân gặp Dịch Mã, chỉ có ngày Đinh Tị gặp Hợi thủy Tử Tôn, thì Quý Nhân và Dịch Mã mới cùng cung, những trường hợp khác đều không có. Lộc xuất hiện, thì không có Quý Nhân và Dịch Mã. Đây là do sách xưa viết bừa bàn liều, chứ không phải tổng kết từ kinh nghiệm. Huống chi ta thường xem về con cái, thấy hào Tử Tôn biến Quỷ, đều không được sống sót.
Ví dụ: Vào ngày Bính Thìn tháng Hợi, xem con có dễ nuôi không, được quẻ Cấu biến Lữ:


Hào Hợi thủy Tử Tôn gặp Nguyệt kiến, được hào 5 Huynh động mà tương sinh, nên là cực vượng. Nếu luận về cát thần, thì ngày Bính gặp Hợi là Quý Nhân, nên cũng là cực quý. Nhưng hiềm vì Tử Tôn biến Quỷ, nên con chết vào tháng năm năm sau.
Tân bình thích: Cách dùng thần sát để phán đoán hoàn toàn không có căn cứ. Quý Nhân không lâm Thìn Tuất, nhưng trong xã hội vẫn có rất nhiều người tuổi Thìn tuổi Tuất giàu sang phú quý, nếu lấy quý nhân mà đoán thì hai tuổi này đều là những người tầm thường mới đúng. Tôi thường thấy cha mẹ thay con cái xem công việc, tiền đồ..., vẫn lấy Quan Quỷ phán đoán ứng nghiệm. Mà Tử Tôn động hóa Quan Quỷ, cũng chưa hẳn đều không được sống sót, nhưng có ứng tàn tật.
Ví dụ: Ngày Bính Thân tháng Mão, nữ đoán sức khỏe cháu trai, được Ký Tế biến Kiển.


Nếu theo phép xưa thì Tử động hóa Quỷ là cháu không thể sống sót, tôi không phán đoán như vậy. Tử Tôn trị Mão mộc, tôi hỏi có phải cháu sinh năm Kỷ Mão hay không, cô ấy xác nhận đúng là như vậy. Tử Tôn động mà hóa Không, năm Canh Thìn thực Không, hào sơ là nền móng, mộc hóa thổ, chính là tượng xây dựng công trình, nhà anh trai người này tại năm Canh Thìn nhất định bắt đầu có xây dựng. Đáp rằng đã xây cất nhà cửa. Tử Tôn tại cung Khảm, Khảm là thận, tai, Tử Tôn động mà hóa Quan là có bệnh, Chu Tước là nói năng, Tử Tôn lâm Chu Tước gặp Tuyệt địa (Nhật thần), đoán là tai không nghe được và không thể nói chuyện, quả nhiên ứng nghiệm.
"Hoàng kim sách" trước có viết, nếu hào Quan Quỷ không bị thương khắc, sẽ được quan tước vẻ vang.
Giác Tử bàn rằng: Hào Quan Quỷ không bị thương khắc, ắt là do hào Tử Tôn bị khắc, bị thương, hưu tù vô khí, nên không khắc thương được hào Quan Quỷ. Hào Tử Tôn suy nhược như vậy, làm sao có thể thăng quan tiến chức, nên ta không tin.
Hựu viết: Phụ thân hữu khí, Xa Dận hiển danh,
Lại nói: Hào Phụ hữu khí, thành tựu hiển danh.
Giác Tử bàn rằng: Cha xem cho con, thì Phụ là Kỵ thần, hoặc động hoặc vượng, đều là khắc con. Muốn cứu sống con còn khó, nói gì đến chuyện hiển danh. Có người hỏi rằng: Liệu đây có phải là trẻ con tự xem hay không? Ta đáp: Con nhỏ chỉ là đứa trẻ vô tri, xem chuyện giàu sang, đều phải dựa vào tâm niệm. Đứa trẻ năm ba tuổi, làm sao biết được giàu sang là gì để khởi niệm. Hơn nữa trong chương "Thân mệnh" phía sau có viết: "Nếu xem về vận mệnh của con trẻ", nên rõ ràng không phải là xem thay.
Đại chiêm Lục thân, bất nghi Thế hào hóa Quỷ;
Xem thay người thân, kỵ gặp hào Thế hóa Quỷ;
Xem Con Cái Mà Ứng Ngược Vào Người Thân
Không phải quẻ xem con cái nào cũng chỉ nói về đứa trẻ; đôi khi tượng quẻ lại hé lộ cả vận mệnh của chính người đi hỏi.
Xem cho cha mẹ, anh em, thê thiếp, con cái, trước tiên cần phải xem hào Thế. Tuy xem cho người thân, nhưng cũng thường hiện kèm điềm dữ của bản thân. Nếu hào Thế hóa Quỷ, hóa hồi đầu khắc, hưu tù, hóa Không, Phá, Mộ, Tuyệt, hay theo Quỷ nhập Mộ, bị Nhật Nguyệt tương khắc, chớ vội hỏi chuyện người, cần đề phòng bản thân vắn thọ.
Thường vấn Phụ Mẫu, diệc hữu kiêm ứng nhi tôn.
Hỏi về cha mẹ, cũng thường ứng với cháu con.
Khi xem về cha mẹ, nhiều lúc trong hào cũng hiện lên tượng khắc thương anh em, con cháu, thê thiếp. Khi xem về con cháu, có khi lại ứng cả vào cha mẹ, anh em, thê thiếp, nên người suy đoán không thể không biết. Đó chính là xem chỗ này mà ứng chỗ khác, lý luận này đã được trình bày tại phần trước, không phải ta nói bừa, mà ta đã gặp rất nhiều lần khi xem quẻ.
Lý Ngã Bình bàn rằng: Trong chương "Thân mệnh" của "Hoàng kim sách", xem về cha con, Quan Quỷ, anh em, Thê Tài, tuy không nên xem chung, nhưng lý lẽ còn tỉ mỉ. Chỉ tiếc rằng có nhiều chỗ phi lý, thật là tì vết không đáng có. "Dịch mạo" tuy đề xướng chia ra để xem, nhưng lý luận quá sơ sài. Ví như xem về thọ yểu, có viết rằng: "phá tán xung Không ắt yểu mệnh". Có để lại quẻ chiêm nghiệm, người mệnh Mậu Tý, xem vào ngày Hợi, sau hành vận hạn Ngọ, gặp Tuyệt tại Hợi, nên qua đời. Nếu không phải xem vào ngày Hợi, thì biết dựa vào đâu để đoán về ngày qua đời? Bình sinh chiêm nghiệm, nếu có linh ứng, tại sao không kê thêm một hai quẻ nữa, để làm khuôn phép cho đời sau? Nói như thế là không biết rằng, sống chết là chuyện lớn, chỉ một hai câu, sao có thể nói cho đủ.
Sách lại nói nếu biết suy đoán sâu xa, đến ngày giờ qua đời cũng biết được, ta không tin điều này. Lại như xem bản thân có được vinh hiển không, thì lấy Thanh Long chỉ nghiệp văn, Bạch Hổ chỉ nghiệp võ, cái lý của "Chu Dịch" liệu có giản đơn như vậy chăng?
Trong sách lại viết: "Ở hào 3 thì là quan đứng đầu châu, mục địa phương; ở hào 5 thì làm quan tại trung ương". Vậy nếu ở hào sơ, hào 2, thì không biết làm chức gì? Nhập nhèm làm rối loạn cho kẻ hậu học, làm sao có thể coi là khuôn phép.
Lại viết: "Hỏi về con cái, kỵ hào Tử Không; hỏi về tiền tài, kỵ hào Tài thất hãm"; chỉ là lâm Không, thất hãm, sao đủ để suy đoán người ta không con, không của?
Thánh nhân làm ra "Kinh Dịch" để cho dân chúng thời cổ sử dụng, người đời sau xem quẻ, chỉ là hỏi về thân mệnh. Ngoài chuyện thân mệnh ra, đâu còn chuyện gì đáng hỏi? Kẻ hậu học lĩnh hội được chỗ tinh thâm, là nhờ tiền nhân truyền thụ đúng phương pháp. Người xem có thể rước lành tránh dữ, đều nhờ người đoán quẻ hiểu được chỗ huyền vi của lý. Phần thân mệnh trong sách này trình bày tỉ mỉ hơn so với những sách khác, rõ ràng mạch lạc, xứng đáng là khuôn phép để dạy người.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
