Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Tính cách trong Tứ trụ: ngũ hành, mười thần và dụng thần

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202617 phút đọc2 lượt đọc
Tính cách trong Tứ trụ: ngũ hành, mười thần và dụng thần

Người đời có câu: biết người, biết mặt, không biết lòng. Nhưng lòng người tốt hay xấu, lành hay dữ vẫn hiện ra trong tám chữ của mỗi người, từ một chữ kình dương đặt lệch chỗ cho đến cả một thế ngũ hành nghiêng về một phía. Mộc chủ nhân, hỏa chủ lễ, thổ chủ tín, kim chủ nghĩa, thủy chủ trí, còn lại mỗi người mang một nét riêng...


Người đời có câu: biết người, biết mặt, không biết lòng. Nhưng lòng người tốt hay xấu, lành hay dữ vẫn hiện ra trong tám chữ của mỗi người, từ một chữ kình dương đặt lệch chỗ cho đến cả một thế ngũ hành nghiêng về một phía. Mộc chủ nhân, hỏa chủ lễ, thổ chủ tín, kim chủ nghĩa, thủy chủ trí, còn lại mỗi người mang một nét riêng...

Vì sao nên biết tính cách trước khi chọn người, kết bạn

Tính cách một người có mừng, giận, buồn, vui, có hiền, có ác. Biết được tính cách thì có lợi cho việc tuyển dụng nhân tài, và trong giao tiếp cũng có lợi cho việc kết bạn rộng rãi. Theo ngũ hành, đại thể mộc chủ về nhân đức, hỏa chủ về lễ độ, thổ chủ về tín, kim chủ về nghĩa, thủy chủ về trí. Người đời hay nói biết người, biết mặt mà không biết lòng, song lòng người tốt hay xấu, lành hay dữ đều có thể thấy được trong Tứ trụ.

Dấu hiệu của người hiền, trung hậu, có đức

Ấn tinh cùng cung với thiên đức là người thành thật, hiền lành. Thiên đức, nguyệt đức không bị phá thì nam trung hiếu, nữ hiền lành. Nhật đức chủ về tính từ thiện. Thiên đức, nguyệt đức được ấn sinh thì hay làm việc ân đức. Chính ấn nhiều là người thông minh, ung dung tự tại, hiền từ. Tài, quan, ấn, thực đều có thì nét đức rất rõ. Ất, Canh hợp sát, nam gặp thì hiền hòa, chan hòa với mọi người. Giáp gặp Kỷ mà sinh vượng là người có lòng trung chính. Ất gặp Canh vượng, ngũ hành không bị xung phá thì thường là người nhân nghĩa. Giáp mộc sinh vào mùa xuân, gặp dần, mão thì tính ôn hòa, hiền hậu. Mệnh nữ thân nhược là người thuần khiết, ôn nhu, kính trọng cha mẹ, giúp chồng.

Thực thần tú khí là người mập. Thực thần thiện ẩm là người thích ca hát. Người thường ngày kính thần tin Phật thì Tứ trụ có tuất, hợi. Bính gặp Tân kim là người tuy nghèo nhưng có đức. Lục giáp không vong gặp sinh vượng là người khoan thai, hào phóng. Giờ sinh gặp tướng tinh là người quyền mưu sâu. Quan vượng, mã vượng là người khảng khái trong tình bạn. Các can của năm, tháng, ngày, giờ cùng một tuần là người vui, ít lo buồn. Tài vượng, thân nhược là kẻ sĩ trung chính, hiền lành lộ rõ. Mộc quan gặp con ngựa cầm tinh là người thông minh, phong nhã. Kim thủy thương quan là người thông minh, hiếu thắng. Thực thần và văn xương cùng cung là người hùng biện, thao thao bất tuyệt.

Trụ tháng có quan, ấn là người khảng khái, thông minh, kiến thức cao, có công phò tá người khác. Dần, thân, tị, hợi sinh vượng là người trong sáng, đẹp, ham tranh đấu. Kim mùa đông đóng ở cục là người chí khí kiên cường, dám hy sinh vì nghĩa. Đinh hỏa thương quan là người ngạo mạn, nhiều mưu. Trụ có thiên tài là người thanh cao, khảng khái; thiên tài ở trụ giờ là người hay giúp người nghèo. Tài lộ ra là người khảng khái, hào phóng; tài ẩn là người nhỏ nhen, bủn xỉn. Kim trắng, thủy xanh là người thông minh hiển đạt. Đinh, Nhâm hóa mộc là người nhân từ, thông minh. Ngũ hành tương sinh là người trung hiếu. Sát có ấn mà không có uy là người đôn hậu, hòa nhã, dễ thân. Giáp, Ất thuận là người nhân từ, đại lượng. Nhâm, Quý thủy thịnh là người thông minh, trí tuệ. Trong trụ hợp nhiều thì tuy sơ mà thân. Trụ kim nhiều là người uy vũ cứng rắn, mộc thịnh là người có lòng trắc ẩn, thủy nhiều là người thông minh, khéo léo. Tứ trụ bình hòa là người hay đố kỵ.

Dấu hiệu của người nóng nảy, tính ác, gian xảo

Trong trụ quan sát hỗn tạp, quan tinh bị hợp là người vô tình. Thất sát hiện rõ là người nóng tính, lòng dạ ác. Kình dương là người oán lại ân nhân, thô bạo mà tham. Trụ ngày quá yếu là người buồn nhiều vui ít. Thổ gặp mão là người mới tuổi trung niên đã nhiều việc hối hận. Kim gặp hỏa thì lúc trẻ mạnh mẽ nhưng về sau nhụt chí dần. Kim, mộc giao nhau, hình phạt nhau là người không có nhân nghĩa. Thất sát đóng ở trụ ngày là người nóng gấp, vụ lợi, thông minh khéo léo nhưng ác. Trụ có thương quan là người nhiều tài nghệ, thích làm lớn, bị quan trên không ưa, người dưới đố kỵ. Trụ có kình dương là người liều, gan, râu dài, cương nghị quả cảm, không có lòng trắc ẩn. Có khôi canh là người thông minh, quả đoán, hiếu kỳ.

Mệnh nữ thân mạnh hay lừa chồng, không hiếu kính cha chồng, nhiều thị phi, nóng tính. Nữ ấn bị thương là người đố kỵ cha chồng. Thương quan gặp quan là tính giả dối, gian giảo. Thất sát, kiêu thần nặng là người tha phương cầu thực. Mã rơi vào không vong là người nóng, ác. Trong trụ nhiều hình thì là người không có nghĩa. Nữ mà thương quan đóng ở trụ ngày thì hay chửi chồng. Thiên ấn, kiếp, kình dương là người lòng lang dạ thú. Thiên ấn, tài lộ rõ là người coi thường tiền của, thích nghệ thuật, thích người khác nịnh mình, hay thị phi, cãi cọ, tham rượu và sắc. Tài tinh nặng quá là người cô đơn, khắc người khác. Hoa cái gặp tuần không là người hà khắc. Trụ ngày yếu, thủy hỏa tương tranh thì chuốc lấy thị phi. Giáp mộc suy gặp kim vượng là người không có nhân nghĩa.

Năm khắc ngày là kẻ trên lăng mạ người dưới; ngày khắc năm là người dưới phạm thượng. Bính, Đinh đóng ở quẻ ly mà không bị kiềm chế thì không tôn trọng lễ phép, tính hung bạo. Ngũ hành vượng quá thì hành động vô lễ. Ấn thụ bị hình xung thì lòng rối loạn. Ngày, giờ ở mộ kho là lo buồn nhiều, vui ít. Trụ có thiên quan, kình dương là người thô bỉ, gian lận. Ấn vượng, thân mạnh là người hay rượu chè. Trụ có thiên quan thì tính cứng, ít lễ độ, ham rượu sắc, thích đấu tranh. Chính ấn lẫn với thực thần thì ăn nói như ngậm hột thị. Thiên ấn chủ về người làm việc có đầu không có đuôi, thích làm việc phi pháp, bề ngoài nhã nhặn nhưng bên trong hiểm độc. Trụ có thực thần là người hiếu thắng, có cả sát thì làm việc tỉ mỉ. Thiên quan có cả sát là người đầu siêng sau lười, hành động không nhất định, hay cãi vã.

Người có tỷ kiếp thì nhát gan, tính không thuần, không nhận ra sai sót. Thất sát đóng ở trụ ngày là nhà có vợ ác. Tài tinh bị can ngày hợp làm cho suy là người bên ngoài hồ hởi mà bên trong gian trá. Dương mộc, kim nhiều mà không có hỏa chế ngự là người tính cương bạo, hung ác. Tài nhiều, thân nhược là người sợ vợ, hay bị xúi giục. Kình dương bị thương quan xung chiếu là người hung ác, bất hòa với xung quanh. Thủy nhiều, mộc ít, thân lại nhược là người lênh đênh phiêu bạt khắp nơi. Trong trụ Mậu, Kỷ nhiều là người kỹ tính, nhỏ nhen, không khoáng đạt. Hỏa mạnh, thổ táo là người thích lễ nghĩa. Trụ có kình dương là người mắt lỗi, nóng tính, chơi bời với người ác. Kình dương, đào hoa ở ngày, giờ là người khéo léo; nếu vượng thì nóng tính, suy thì chậm chạp.

Quan, ấn ở đất hình xung là người tính rối. Kiêu, thực đều gặp là người do dự, hành động rụt rè, đầu voi đuôi chuột. Thương quan mà không có tài, lại có kình dương thì gian dối. Thực thần bị chế ngự là người hay bị khuất phục, không tự lập. Canh, Tân và Giáp, Ất xen kẽ nhau là người bất nhân bất nghĩa. Nam giới tài mạnh, kiếp mạnh thì vợ có dục vọng riêng. Nam gặp thương quan, kình dương, thất sát thì sứt mẻ tình cảm với anh em hoặc bạn bè. Trong trụ chỉ có một ngôi thất sát là người thông minh, hanh lợi; có hai, ba ngôi là ban đầu trong, sau đục. Kiếp tài, bại tài là người lòng dạ thay đổi, tham lam. Ngũ hành làm thương tổn lẫn nhau là người bất nhân bất nghĩa. Can chi hình khắc hợp thì vui biến thành buồn. Đào hoa lẫn hợp là người phong lưu, nho nhã. Ấn lộ rõ là người thông minh, ấn hưu tù là người lười biếng. Hợp nhiều quá là người có tình nhưng chí không lớn.

Trạch mã vô cương là người làm khách của bốn phương. Tị, mão tương hình nhau là người không đức độ. Lục hợp nhiều là kẻ vong ân bội nghĩa. Trụ ngày gặp đất tử tuyệt là người ngu xuẩn, cố chấp. Trạch mã bị xung là người làm khách khắp nơi. Mã nhiều lộc ít là đồ bôn ba, dối trá. Khôi canh lẫn sát là người bình sinh ngạo mạn, cương cường. Thất sát gặp kình dương là kẻ lỗ mãng, cứng rắn. Kiêu nhiều, thương nhiều là người hay đơm đặt chuyện. Mệnh nữ đào hoa lẫn sát là người đa dâm. Kiếp tài, kình dương đứng hai đầu là người bề ngoài màu mè nhưng bên trong rỗng tuếch. Trong trụ gặp kiêu thần là người không nhân nghĩa. Mão, thìn, ngọ, sửu sinh vượng là người hiếu thắng, hay tự ái.

Thiên quan không bị chế ngự là tiểu nhân, không biết điều, thô bạo. Một ngôi khôi canh đóng ở trụ ngày mà bị xung nhiều là kẻ tiểu nhân. Trụ năm, trụ tháng có quan sát hỗn tạp là kẻ tiểu nhân. Người có thương quan phần nhiều tính kiêu ngạo. Trong trụ không có quan tinh là người tự do, không chịu ràng buộc. Dương thủy gặp Mậu thổ là người nóng như hổ, thường bất bình, thích đấu tranh. Vong thần, tỷ kiếp trùng lặp là người khẩu Phật tâm xà. Nữ gặp tỷ kiếp là chị em khó hợp, hay tranh cãi, điêu toa. Tài tinh lẫn kiếp, nhật can suy là người bên ngoài thơn thớt, bên trong dối trá. Kình dương, thất sát là người ham sát, giàu không bền. Thủy chủ về trí, bị thổ hỗn tạp là người ngu, lỗ mãng. Tứ trụ thuần dương là người cương trực mà thô bạo, thuần âm là người nhu. Thiên ấn, kiếp, kình dương là người xa rời tổ tiên, xanh vỏ đỏ lòng, vô ý thức. Tý, ngọ đối nhau là nhà không có con đức độ. Quý hợp với Mậu là hợp vô tình. Vong thần có thêm sát là đồ trộm cướp. Ngũ hành thái quá là cầu ngang dễ gãy, lòng bất chính, bọn lưu manh.

Về tính cách con người, thiện hay ác, xanh vỏ đỏ lòng, ngoài khiêm tốn trong kiêu ngạo, những điều kể trên khá ứng nghiệm.

Căn cứ sự vượng, nhược của ngũ hành nhật chủ

Cùng một nhật chủ, thế vượng suy khác nhau thì tính nết cũng đổi khác.

Nhật chủ thuộc kim. Vượng quá thì khắc bạc, khô khan, hay đấu tranh, ham sắc dục, vô liêm sỉ, dũng mà vô mưu. Vượng vừa thì không biết chừng mực, gặp việc thì hiếu thắng, thấy việc nghĩa thì hay bênh vực, chính trực cứng rắn. Vừa phải thì uy vũ không khuất phục, vào việc thì quyết đoán, có tình có nghĩa. Kim nhược mà thủy nhiều thì lễ nghĩa bề ngoài, tình cảm không sâu, hay nói, bề ngoài bao dung bên trong dối trá. Kim nhược mà mộc nhiều thì phân minh, chính trực, không sợ mất lòng, được bạn bè tin cậy. Kim nhược mà hỏa nhiều thì suy nghĩ không chu đáo, gặp việc không biết tính toán, phải trái không phân biệt, ít tình nghĩa. Kim nhược mà thổ nhiều thì hay đặt điều cãi vã, ngoan cố, cố chấp, đa nghi. Kim nhược quá thì tuy có nghĩa nhưng có đầu không có đuôi, hay suy nghĩ mà luẩn quẩn, việc không thành.

Nhật chủ thuộc thủy. Vượng quá thì đa mưu xảo quyệt, tàn khốc vô tình, hay đặt điều cãi cọ, đa dâm, hoang đường. Vượng vừa thì lòng hay thay đổi, không thành đạt, nói nhiều làm ít. Vừa phải thì bản tính thông minh, nhạy bén, học rộng nhiều tài, rộng rãi hào phóng, tính toán chu đáo. Thủy nhược mà kim nhiều thì tham lam vô độ, gặp việc ít suy nghĩ, tay chân khéo léo, ít tình nghĩa. Thủy nhược mà mộc nhiều thì tính tình lan man, thông minh khéo léo nhưng thấy lợi quên tình. Thủy nhược mà hỏa nhiều thì ham rượu sắc, tham lam, hay lo, quyết đoán vội nên hay hối hận. Thủy nhược mà thổ nhiều thì bề ngoài cứng rắn, bên trong nhu nhược, tín nghĩa thất thường. Thủy nhược quá thì thay đổi thất thường, nhát gan vô mưu, ít mưu trí, thô tục.

Nhật chủ thuộc mộc. Vượng quá thì tính toán phức tạp, vụn vặt, thiên lệch, cố chấp, đố kỵ, bất nhân. Vượng vừa thì học nhiều thành đạt ít, giao thiệp hạn hẹp, mềm yếu không quyết đoán, thông minh nhưng vô dụng. Vừa phải thì phong cách lịch thiệp, cá tính khảng khái, nhân từ trung hậu, tâm tính tế nhị, chu đáo. Mộc nhược mà kim nhiều thì ham muốn quá mức, tính hay đổi, hay làm ít nói, lúc làm lúc bỏ. Mộc nhược mà thủy nhiều thì phiêu lưu bất định, tính cách tiểu nhân, nói một đường làm một nẻo. Mộc nhược mà hỏa nhiều thì thông minh láu cá, không thiết thực, không phân biệt thiện ác, biết sai vẫn làm. Mộc nhược mà thổ nhiều thì thiện ác phân minh, biết cứng biết mềm, biết ăn nói cảm hóa người. Mộc nhược quá thì lời nói và việc làm mâu thuẫn, tự tư tự lợi, thấy sai vẫn làm.

Nhật chủ thuộc hỏa. Vượng quá thì phong cách mãnh liệt, dễ giận, kiêu ngạo, cố chấp, không nghe lời nói ngay, dễ gây thù chuốc oán. Vượng vừa thì tính đạm bạc, bề ngoài phân minh nhưng bên trong mờ ám, gặp việc thì vội vàng, đầu voi đuôi chuột. Vừa phải thì phân biệt đúng sai, thiện ác phân minh, văn võ đều có, ham học hỏi. Hỏa nhược mà kim nhiều thì ít tự ái, hiếu thắng, hay tranh cãi, dễ chuốc lời gièm pha. Hỏa nhược mà thủy nhiều thì dễ thành công cũng dễ thất bại, nghĩ nhiều có hại, hay làm việc tốt, thích được khen. Hỏa nhược mà mộc nhiều thì thô tục, hay làm uy làm phúc, làm ít thì đỡ sai, làm nhiều hay gây tai họa. Hỏa nhược mà thổ nhiều thì dám nghĩ dám làm, nói hay làm dở, cố chấp, ngoan cố. Hỏa quá nhược thì có tài vặt, gặp việc không biết tính toán, ít thành công.

Nhật chủ thuộc thổ. Vượng quá thì u mê chậm chạp. Vượng vừa thì không linh hoạt, dễ chuốc lời chê trách. Vừa phải thì trung hậu, không phản lời hứa, hay tin thần Phật, trung hiếu tận tâm. Thổ nhược mà kim nhiều thì giữ chữ tín mà hiếu nghĩa, cương trực nóng nảy, không kiên trì, ít nhường nhịn. Thổ nhược mà thủy nhiều thì ham thành tích, hám công danh, dễ gặp trắc trở, ít tình nghĩa, qua cầu rút ván. Thổ nhược mà mộc nhiều thì chí lớn nhưng viển vông, làm nhiều mà hiệu quả ít. Thổ nhược mà hỏa nhiều thì vong ân, vong nghĩa, bằng mặt không bằng lòng. Thổ quá nhược thì không được lòng người, không hiểu công việc, bủn xỉn, dối trá.

Tính cách theo dụng thần của chính cách

Dụng thần là chính quan thì tính tình quang minh chính trực; chính quan quá nhiều thì ý chí không kiên định. Dụng thần là thất sát thì hào hiệp, hiếu thắng; thất sát nhiều quá thì do dự, rụt rè. Dụng thần là thực thần thì ôn hậu, hiền lành; thực thần nhiều quá thì cố chấp. Dụng thần là thương quan thì thông minh sắc sảo; thương quan nhiều quá thì kiêu ngạo, cứng rắn. Dụng thần là ngang vai thì đằm thắm, hòa nhã; ngang vai nhiều quá thì quái gở, ít hòa nhập. Dụng thần là kiếp tài thì nhiệt tình, thẳng thắn; kiếp tài nhiều quá thì lỗ mãng, hay gây rối.

Dụng thần là chính tài thì siêng năng, cần kiệm; chính tài nhiều quá là do của nhiều làm hại bản thân. Dụng thần là thiên tài thì nhạy bén, khéo léo; thiên tài nhiều quá thì hay cầu an hưởng lạc. Dụng thần là chính ấn thì nhân từ, đoan chính; chính ấn nhiều quá thì do dự, yếu đuối nên ít thành công. Dụng thần là thiên ấn thì có ý chí phấn đấu, vươn lên; thiên ấn nhiều quá thì tham lam, bủn xỉn. Các cách khúc trực, gia tường, kim cách, nhuận hạ, viêm thượng đều lấy kiếp tài, ngang vai làm dụng thần. Các cách tòng tài, tòng sát, tòng nhi, tòng vượng, tòng cường, hóa khí đều lấy dụng thần theo thế vượng của nó.

Tính cách của các ngoại cách, nhật chủ vượng và nhược

Cách khúc trực: nhân từ, đôn hậu. Cách gia tường: từ thiện, hào phóng. Cách tòng cách: sắc sảo, có chí tiến lên. Cách nhuận hạ: toàn diện mà linh hoạt. Cách viêm thượng: hào kiệt, trọng nghĩa. Cách tòng tài, tòng sát, tòng nhi: hiền lành, lễ nghĩa. Cách tòng vượng, tòng cường: kiên nghị, hào hiệp. Cách hóa khí: thông minh, trí tuệ.

Khi nhật chủ vượng tướng, trong mệnh cục có khắc chế thì bản tính minh bạch, hào phóng, thuận theo tự nhiên, gặp việc biết quyết đoán, lạc quan, nhân từ, nặng tình nghĩa, không sợ khó, không hay nghi ngờ. Nếu không có khắc chế thì tàn bạo, hay đấu đá, tính tình thất thường, không biết kiềm chế, liều lĩnh, hay kết bè đảng, a dua kẻ mạnh, coi thường kẻ yếu.

Cùng một Tứ trụ, khi nhật chủ suy nhược mà trong mệnh cục có sinh phù thì tính tình cần kiệm, thích điều thiện, suy nghĩ chu đáo, trầm mặc ít nói, kín đáo ít bộc lộ, giữ chữ tín, nói năng hành động cẩn thận. Khi không có sinh phù thì dối trá, câu nệ cố chấp, nói làm khác thường, đúng ít sai nhiều, do dự chậm chạp, gặp việc không biết tính toán.

Những điều trên mới chỉ nói được đại thể về cá tính. Trong thực tế phải kết hợp với kinh nghiệm mới nói được chính xác, tức là khi vận dụng phải linh hoạt, không câu nệ. Sau khi lập xong Tứ trụ, phối với mười thần, xác định dụng thần, hỉ thần, kỵ thần, lập đại vận, lưu niên, trên cơ sở đó mới đoán được vượng suy, cát hung và sự thành bại trong sự nghiệp.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc