Bài tổng quan
Cha mẹ ở trụ năm, anh chị em ở trụ tháng
Năm là gốc, tháng là thân cây, ngày là hoa, giờ là quả. Muốn biết mình nhờ được cha mẹ, anh em đến đâu, hãy nhìn đúng hai trụ đầu. Có người trụ năm tốt mà tuổi thơ vẫn nghèo khó, vì sao…
Lục thân nằm sẵn trong từng trụ
Lục thân của Tứ trụ nằm trong mỗi trụ. Sự sinh, khắc, chế, hóa của ngũ hành ảnh hưởng trực tiếp, hoặc phản ánh mối quan hệ có ích hay có hại của lục thân tương ứng. Cho nên quy tắc của lục thân cũng giống quy tắc sinh khắc của mười thần: đi theo vòng thì tương sinh, cách một ngôi thì tương khắc.
Tuy nhiên can ngày của mỗi người khác nhau nên Tứ trụ mỗi người một khác. Người sinh ngày giáp thì quý thủy là chính ấn, lục thân là mẹ đẻ; người sinh ngày ất gặp quý thủy lại là thiên ấn, lục thân có nghĩa là dì ghẻ hay mẹ kế. Nhiều trường hợp trong lá số vừa có chính ấn vừa có thiên ấn, có chỗ thậm chí không biết nên gọi là gì, vì tổ hợp Tứ trụ rất phức tạp, không thể kết luận giản đơn.
Theo mười thần, ấn tinh chỉ đức tính từ thiện, về nghề nghiệp là nghề liên quan đến văn thư, con dấu. Theo ngũ hành, ấn tinh được sinh là có sinh phù, được lệnh là vượng, tính tình hiền lành, học văn chương giỏi, hợp công việc văn chương, hành chính; tổ hợp tốt thì còn có danh vọng, quyền uy. Nếu ấn tinh bị khắc hoặc rất yếu thì từ đức tính đến tiền đồ học hành đều xấu. Theo lục thân, những người có nhật can cùng ngũ hành, như hai người cùng sinh ngày giáp hoặc ngày ất, thì ấn tinh của họ đều là thủy. Người sinh ngày bính, đinh thuộc hỏa mà gặp thủy thì không phải ấn tinh, nhưng tính chất mà mười thần đại diện thì vẫn giống nhau: ấn tinh đại diện cho mẹ đẻ, cho tính hiền lành, cho nghề văn thư, công danh, quyền bính. Cái lợi hay hại đối với lục thân có thể biết theo quy luật sinh khắc của ngũ hành.
Trụ năm vốn là cung của cha mẹ. Nếu trụ năm vượng hoặc được các trụ khác sinh thì trụ năm sinh vượng, nghĩa là cha mẹ mạnh khỏe. Nếu trụ năm không được lệnh hoặc bị các trụ khác xung khắc thì cha mẹ bị tổn thất, bệnh tật. Còn một trường hợp nữa: khi thân vượng mà ấn nhiều là kị thì mẹ khắc mình, không lợi; nguyên lý đó cũng giống như khi thân nhược mà tài nhiều thì chẳng hưởng được tài.
Năm là gốc, tháng là thân cây, ngày là hoa, giờ là quả
Từ cách sắp xếp mệnh cục có thể nhìn ra một quy luật: năm là gốc, tháng là thân cây, ngày là hoa, giờ là quả. Ông bà, cha mẹ là nguồn gốc của bản mệnh; không có gốc thì không có thân cây, càng không thể khai hoa kết quả ở đời sau. Cho nên trụ năm là cung của tổ tiên và cha mẹ; trụ tháng là cung anh chị em; trụ ngày là chính mình, trong đó chi ngày là vợ, với nữ thì chi ngày là cung chồng; trụ giờ là con cái. Ngoài ra trụ năm còn chủ về thời niên thiếu, trụ tháng và trụ ngày chủ về thời trung niên, trụ giờ chỉ về tuổi già.
Lục thân do mười thần của Tứ trụ làm chủ thường được xem kết hợp với cung mà nó đóng. Trong lục thân, cái sinh ra tôi là cha mẹ, là ấn thụ. Chính ấn là mẹ đẻ, thiên ấn là dì hoặc mẹ kế. Tài khắc ấn, mẹ bị cha chế ngự, nên thiên tài là cha; nếu chính tài thấu ra mà bị khắc thì cha cũng bị khắc. Khi bàn cát hung, vừa có thể xuất phát từ cung phụ mẫu, vừa có thể xuất phát từ mười thần để đoán sự sinh khắc, cát hung. Thiên tài và chính tài cũng hiểu là sao vợ, quan sát là sao chồng. Chi ngày trong Tứ trụ của nữ hay nam là hỉ hay là kị sẽ cho biết sao chồng hoặc sao vợ có đắc lực hay không. Trụ tháng đại diện cho anh chị em, và tỉ kiếp trong mười thần cũng đại diện cho số anh chị em và quan hệ sinh khắc giữa họ.
Ông bà, cha mẹ nhìn từ trụ năm
Trong Tứ trụ, phần tổ tiên mới xem qua tưởng không có mối liên hệ trực tiếp gì, nhưng người thành thạo mệnh lý đều biết: trụ năm đại diện cho tổ tiên, bao gồm cả cha mẹ. Mối liên hệ kế thừa ấy trong sự cân bằng của Tứ trụ là không thể thiếu. Khi trụ năm là dụng thần, âm phúc tổ tiên liên quan rất chặt chẽ với mệnh vận.
Xét một ví dụ thực tế. Có người trụ năm là dụng thần, có lực, thì xuất thân trong gia đình cha ông có sản nghiệp, tuổi thơ vận tốt, từ bé đã sống trong giàu sang. Khi trụ năm bị khắc, bại vận đến, tai họa giáng xuống cha mẹ, thì người ấy mau chóng thành kẻ ăn xin hoặc con ở; cuối vận xấu là lúc bị xung khắc rất mạnh. Nhưng khi vận xấu qua đi thì đời sống bắt đầu khấm khá hơn. Hơn nữa nhờ từ bé đã được ăn học, hoặc được bà con ở nước ngoài giúp đỡ, hoặc nhờ chính sách đổi mới, nên âm đức của trụ năm lại phát huy tác dụng, người ấy hoặc giàu lên, hoặc có một chức vụ nhất định trong xã hội. Những mệnh cục như thế gặp rất nhiều trong thực tế.
Cách đoán về cha mẹ thường bàn chung với tổ tiên và căn cứ vào trụ năm; cũng có cách căn cứ vào trụ tháng, ở đây thống nhất lấy trụ năm. Đại để, tài, quan, ấn cùng quý nhân, thần lộc đóng ở trụ năm, hơn nữa trụ năm là dụng thần hay hỉ thần, thì ông bà cha mẹ là người vinh hoa phú quý, và người ấy nhờ đó được hưởng âm đức. Nếu trụ năm là kiêu thần, thất sát, kình dương, kiếp tài, mà lại là kị thần thì tổ tiên và bản thân người ấy xuất thân đều nghèo đói. Nếu trụ năm lâm bệnh, tử, mộ, tuyệt hoặc gặp xung khắc thì tổ nghiệp không vượng, ông bà hoặc cha mẹ không phải người phúc thọ, tuổi thơ của người ấy cũng vất vả.
Từ ông bà cha mẹ để xem người ấy có được nhờ hay không, rồi xem các mặt khác trong Tứ trụ để biết tình cảnh gia đình ra sao. Cũng có thể xem quan hệ giữa nhật chủ với Tứ trụ để biết người ấy có khá hơn ông bà cha mẹ hay không. Nếu nhật chủ là hỉ quan, ngày giờ lại gặp tài; hoặc nhật chủ là hỉ ấn, ngày giờ lại gặp quan, thì người ấy nhất định hơn ông cha. Ngược lại nhật chủ là hỉ quan nhưng ngày giờ gặp thương; hoặc nhật chủ là hỉ ấn nhưng ngày giờ gặp tài, thì người ấy sa sút hơn ông cha.
Những dấu hiệu về cha mẹ
- Can năm hoặc chính ấn được trường sinh, không bị phá tổn: cha mẹ thọ cao, phúc hậu.
- Can năm hoặc chính ấn đóng nguyệt đức hoặc thiên đức: cha mẹ hiền lành, người ấy được cha mẹ yêu chiều, bồi đắp.
- Chi năm là lộc, là hỉ hoặc dụng thần, hoặc chi năm là quý nhân của can năm, gọi là được quý, được lộc: cha mẹ giàu có, của cải để lại nhiều.
- Chi năm là quý nhân của nhật chủ: cha mẹ tuấn tú, nho nhã.
- Chi năm hoặc chính ấn đóng đào hoa: cha mẹ thông minh nhưng ham mê tửu sắc.
- Chi năm là thực thần, không có kiêu thần: cha mẹ cao to, béo, tính thành thực, của cải nhiều.
- Chi năm là chính quan: cha mẹ đôn hậu, hòa nhã; nếu trong can tàng có tài tinh thì cha mẹ còn giàu có.
- Tài tinh của chi năm được lộc, được quý nhân: cha mẹ vinh hoa phú quý, được hưởng sản nghiệp của tổ tiên.
- Chi năm là quan tinh gặp tướng tinh: cha mẹ giàu có, trung hậu.
- Chi năm là trạch mã kiêm lộc, hoặc chi tháng là tài tinh: cha mẹ buôn bán xa nhà, được của nhờ đi lại, hoặc cha mẹ ở trong quân đội. Chính ấn đóng trạch mã: cha mẹ lập nghiệp ở phương xa.
- Chi năm hoặc chính ấn đóng hoa cái: cha mẹ thông minh nhưng tính cô độc.
- Chi năm là thất sát lại gặp ác sát: cha mẹ nhiều bệnh tật. Thất sát kèm kình dương: cha mẹ tính thô bạo, không phúc, không của, nặng hơn thì người ấy còn hình khắc cha mẹ.
- Chi năm thiên ấn hoặc thương quan là dụng thần: cha mẹ được hưởng âm đức và của cải ông bà; nếu là kị thần thì cha mẹ không được hưởng âm đức, hoặc không lợi cho cha mẹ.
- Chi năm thực thần bị kiêu thần cướp đoạt hay bị khắc: cha mẹ thấp bé, yếu đuối hoặc nhiều bệnh, nặng thì bị khắc sớm. Thực thần mạnh, kiêu thần yếu thì không can gì.
- Chi năm hoặc chính ấn gặp xung: khắc cha mẹ, không được hưởng của để lại.
- Tài nhiều ấn nhược, hoặc tài nặng ấn nhẹ: cha mẹ nhiều bệnh tật, nặng hơn thì bị hình khắc.
- Chi năm tài nhược bị tỉ kiếp trùng trùng cướp đoạt: không được của ông cha để lại, sớm khắc cha mẹ.
- Nhật chủ nhược, trụ năm đóng kình dương: được âm đức của cả cha mẹ, nhưng có hình khắc nhẹ đối với cha mẹ.
- Trụ năm có tài tinh hoặc thực thần mà là kị thần: không được hưởng âm đức, tài sản để lại.
- Chi năm là chính quan bị thương quan khắc phá: cha mẹ ốm yếu hoặc đoản thọ.
- Nhật chủ nhược, dụng thần là chính ấn hoặc tỉ kiếp được phù: người ấy được cha mẹ, anh chị em nuông chiều và bồi đắp cho của cải.
- Trụ năm là kị thần, trong Tứ trụ lại không có ấn, tổ hợp các vận thời tuổi trẻ không tốt: khi người ấy sinh ra, hồng vận của cha mẹ đã qua, gia đình ngày càng sa sút, người ấy dần rơi vào đói khổ.
Anh chị em nhìn từ trụ tháng
Trụ tháng có thể xem về anh chị em. Dụng thần hiện ở can tháng hoặc chi tháng thì anh chị em không sang cũng giàu, và người ấy được nhờ. Nếu ngược lại thì người ấy không có chỗ nhờ cậy. Cổ thư lấy ngang vai và lộc để xem anh chị, lấy kiếp tài và kình dương để xem em trai, em gái. Trong đoán thực tế, tất cả đều đưa vào trụ tháng để xem anh chị em, nhưng có phân biệt nam nữ: mệnh nam lấy can tháng xem anh em trai, chi tháng xem chị em gái; mệnh nữ lấy can tháng xem chị em gái, chi tháng xem anh em trai.
Trong mười thần cũng có sự phân biệt nam nữ: lấy can ngày làm dương, các ngang vai khác trong Tứ trụ đều đồng tính. Ví dụ mệnh nam sinh ngày tân thì các can tân khác trong Tứ trụ là số anh em trai, và lấy canh để đếm số chị em gái; mệnh nữ sinh ngày tân thì các can tân khác là số chị em gái, và lấy canh để đếm số anh em trai. Anh chị em và ngang vai là loại tổ hợp phức tạp, có người rất dễ xem, có người chênh lệch rất lớn; vấn đề này vẫn còn đang tìm tòi, khám phá. Việc xem anh chị em căn cứ vào ngang vai đóng ở trụ tháng, đồng thời kết hợp với trụ năm xem cha mẹ để kiểm định.
Những dấu hiệu về anh chị em
- Ngang vai, kiếp tài vượng mà nhiều: anh chị đông. Ngược lại là anh chị em suy và ít, hoặc sống xa nhau, hoặc nhiều bệnh tật.
- Lộc hoặc quý nhân đóng ở ngang vai là hỉ: anh em giàu có, hoặc được tài, có lực. Trạch mã đóng ở ngang vai: anh em ở xa nhau nhưng vinh hiển.
- Kình dương đóng ở kiếp tài mà nhật chủ lại vượng: anh em không hòa thuận hoặc không đắc lợi, hay cãi cọ lặt vặt, nặng hơn là anh em làm hại nhau, bạn bè làm hao của tốn sức nhau. Nhưng khi thân nhược được kình dương giúp đỡ thì được anh em, bạn bè giúp.
- Ngang vai đóng lộc và tướng tinh là tốt: anh em phú quý, đắc lực.
- Tỉ kiếp đóng thiên đức, nguyệt đức: anh em hiền lành, trung thực. Tỉ kiếp gặp trường sinh: anh em mạnh khỏe, sống lâu.
- Tỉ kiếp gặp mộ, tuyệt là khắc anh em; nhưng nhật chủ vượng lại gặp tỉ kiếp vượng thì mình giúp anh em nhiều. Tỉ kiếp đóng dưới hỉ thần hay kị thần cũng tương tự.
- Tỉ kiếp đóng trạch mã: anh em xa nhau; nếu là kình dương gặp xung thì sống nơi xa không lợi hoặc chết nơi đất khách quê người.
- Tỉ kiếp gặp xung: nhẹ thì anh em không hòa thuận, bệnh tật nhiều; nặng thì hình khắc hoặc không có anh em.
- Tỉ kiếp đóng đào hoa: anh em chơi bời, rượu chè. Tỉ kiếp đóng hoa cái: không có anh em hoặc anh em ít, cô độc nhưng thông minh.
- Nhật chủ nhược, trong Tứ trụ không có tỉ kiếp, ấn thụ, tuổi nhỏ đã hành vận tỉ kiếp: người ấy được anh em hoặc bạn bè nuôi lớn, khổ từ bé.
- Nhật chủ nhược, Tứ trụ không có tỉ kiếp, ấn thụ, hoặc chỉ dựa vào tỉ kiếp giúp thân: người ấy không được cha mẹ giúp đỡ mà nhờ phúc anh em để thành gia lập nghiệp.
- Nhật chủ vượng, tỉ kiếp ít, vận tỉ kiếp vào giữa hay cuối đời: nhẹ thì anh em bất hòa, hay cãi nhau, hao tài; nặng thì anh em kiện tụng hoặc mất của vì bạn bè. Nếu nhật chủ nhược thì lại được anh em, bạn bè giúp đỡ.
- Nhật chủ vượng mà tỉ kiếp nhiều: anh em bại gia, bất hòa. Nhật chủ nhược mà được lộc của tỉ kiếp: anh em nhà khá, hòa thuận.
- Sát vượng, thực thần nhẹ, ấn nhược gặp tài, được tỉ kiếp khắc lại sát: được anh em giúp đỡ.
- Quan nhẹ, thương nặng, tỉ kiếp sinh trợ cho thương, hoặc chế ngự thất sát quá mức mà tỉ kiếp lại trợ giúp thực thương: người ấy bị liên lụy vì anh em.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
