Bài tổng quan
Thế nào là vận tốt và chuyện đi đúng phương vị
Có người mệnh rất tốt nhưng đến vận tài vẫn chỉ cơm no áo ấm hơn người một chút, lại có người đi ăn xin mà không chết rét vì về đúng phương Nam. Vận tốt không chỉ là chuyện của riêng lá số. Nó còn gắn với thời và với nơi mình đứng…
Mười năm của một vận không năm nào giống năm nào
Một đại vận mười năm bao hàm sự lưu chuyển của mười thiên can. Thiên can của đại vận có thể gặp vận tốt, nhưng lưu niên thì không phải năm nào trong mười năm cũng tốt như nhau. Những năm tốt nhất là mấy năm dụng thần đắc lực. Ngay trong những lưu niên ấy, các tổ hợp hình, xung, khắc, hợp tốt hay xấu cũng hạn chế tác dụng của dụng thần. Những năm dụng thần bị khắc, bị hao tổn thì gặp một số điều không thuận; cũng có thể vì tổ hợp hình xung khắc hợp làm tổn hại đến dụng thần. Nhưng khi thiên can đại vận là vận tốt thì những điều không thuận ấy chỉ là tạm thời. Còn nếu thiên can đại vận không tốt thì hoàn toàn ngược lại.
Giữa can và chi của đại vận có quan hệ qua lại. Ngũ hành của can chi tương sinh, tương khắc hay tương đồng đều làm tăng hoặc giảm sự tốt xấu của vận. Can trên khắc chi dưới thì khí của can trên bị tổn hao. Can trên sinh chi dưới thì khí của can bị xì hơi. Chi dưới khắc can trên thì áp chế khí của can. Chi dưới sinh cho can trên, hoặc cùng loại với can trên, thì sinh phù cho khí của can.
Đại vận và lưu niên giống như trụ thứ năm và trụ thứ sáu của lá số. Chúng vừa tham gia vào sự cân bằng tổng hợp của Tứ trụ, vừa trực tiếp chia mười năm thành một giai đoạn, trong đó lưu niên là một thái tuế để thể hiện cát hung. Khi thiên can đại vận đang ở vận tốt, nếu ngũ hành địa chi của đại vận sinh phù cho thiên can thì có ích cho dụng thần; nếu khắc, hao, tổn thiên can thì làm hại dụng thần. Cần tham khảo thêm sự hình, xung, khắc, hợp của các địa chi trong Tứ trụ đối với mười năm của đại vận để biết cát hung tăng hay giảm.
Lưu niên, ngoài sự sinh khắc của các can chi phía trên hay phía dưới có ích hay tổn hại dụng thần, thiên can của lưu niên cũng nằm trong phạm trù tác dụng tốt hay xấu đối với mười năm đại vận. Địa chi của lưu niên thì có sự hình, xung, khắc, hợp với đại vận và Tứ trụ, còn thiên can của lưu niên thì làm tốt hay xấu cho riêng năm đó.
Lấy vận tốt làm ví dụ. Nếu theo cách chia can chi mỗi bên quản một khúc, thì khi thiên can hành tài vận nên phát tài. Nhưng nếu thiên can lưu niên lại không lợi cho dụng thần thì năm đó không có của, tức là không có tài để phát. Mấy năm sau của đại vận, theo cách nói chi quản các năm sau thì không phải năm tài, nhưng nhờ thiên can lưu niên sinh tài, vượng tài mà tài vẫn phát lớn. Đó là hiện tượng phổ biến khi đoán thực tế. Vì vậy mới có tranh luận "gặp đại vận tốt không bằng gặp lưu niên tốt", hoặc ngược lại. Sự mâu thuẫn ấy sinh ra từ quan niệm cho rằng thiên can và địa chi của đại vận mỗi bên quản một đoạn. Cách nói hợp lý hơn là: đại vận quyết định hướng tốt xấu của mười năm, còn lưu niên xác định cát hay hung của vận ấy.
Thế nào gọi là vận tốt
Trong cả cuộc đời, thời gian tốt nhất là lúc dụng thần lên ngôi, gọi là đang hành vận tốt. Nếu trong mệnh cục có dụng thần thì gọi là dụng thần nguyên cục, mỗi lần dụng thần được sinh là mỗi lần có ích thêm. Còn nếu mệnh vận không có dụng thần thì cuộc đời gập ghềnh, không thuận lợi. Nguyên cục không có dụng thần thì chỉ còn hy vọng hành đến vận gặp được dụng thần đang thiếu. Dù là mệnh tốt hay mệnh xấu, tức tổ hợp của mệnh chưa tốt, khi hành đến vận gặp dụng thần nhất định là thời kỳ thuận lợi nhất cuộc đời; với mệnh cục tốt thì đó là giai đoạn huy hoàng nhất.
Hành đến vận gặp dụng thần nói chung là thời kỳ có lực nhất, khoảng mười đến hai mươi năm. Chẳng hạn hành quan vận thì thời kỳ quan vận đạt được chức tước cao nhất. Sát vận cũng là quan vận: dụng thần là chính quan, nếu vận là thiên quan thì cũng không phải điều kị, vì vận thiên quan cũng có thể thăng quan tiến chức. Hành đến tài vận cũng được thăng quan, vì chính tài sinh chính quan, thiên tài sinh thiên quan. Chính sinh thiên hoặc thiên sinh chính đều không bằng chính sinh chính hoặc thiên sinh thiên. Tài vận được xem là dụng thần thứ hai, tuy còn thời cơ thăng quan, nhưng vận khí phải kém hơn dụng thần của chính vận đó.
Sau khi đã xác định được thân vượng hay thân nhược thì dụng thần đã rõ. Mệnh cục của Tứ trụ chỉ cung cấp những điều kiện cơ bản về cát hung, tốt xấu của đại vận và lưu niên. Còn trong cả cuộc đời lúc nào là vận tốt, lúc nào là vận tốt vừa, lúc nào là bại vận, lúc nào là đại bại vận, thì phải bắt đầu từ chỗ dụng thần hành đến vận nào. Lưu niên chỉ làm rõ thêm một bước trong vận tốt hay xấu: năm nào tốt, năm nào xấu. Người thành thục điêu luyện thậm chí có thể tính tốt xấu rơi vào ngày tháng nào, nhưng nguyên lý vẫn là sự sinh khắc giữa dụng thần và ngũ hành.
Thân vượng và thân nhược, vận nào tốt vận nào bại
Với người thân vượng, trong điều kiện mệnh cục không bị hình xung khắc hợp làm hại, ngũ hành thiên khô và tổ hợp không thích hợp, thì các vận chế áp, hao tổn, xì hơi đều được xem là vận tốt: quan vận, sát vận; chính tài vận, thiên tài vận; thương quan vận, thực thần vận. Các vận chính ấn, thiên ấn sinh thân, và vận ngang vai, kiếp tài giúp thân đều là bại vận. Vận nào khắc dụng thần là hung vận.
Với người thân nhược, cũng trong tiền đề ấy, thì các vận chính ấn, thiên ấn sinh thân và ngang vai, kiếp tài giúp thân là vận tốt. Khi hành đến quan vận, sát vận khắc mình, hoặc thương quan, thực thần xì hơi mình, hoặc chính tài, thiên tài hao tổn mình thì đều xem là bại vận hoặc hung vận.
Tốt xấu của vận chỉ có thể so với chính mình
Thế nào gọi là tốt, thế nào gọi là bại? Sự tốt xấu của vận khí trong đời người chỉ so được với bản thân mình. Tục ngữ có câu: "Người so với người, tức chết đi được." Sự tốt xấu của mệnh cục mỗi người quyết định sự tốt xấu của vận khí, mệnh khác nhau thì vận cũng khác nhau, nên mỗi người phải trải qua những cuộc sống khác nhau. Cách so sánh trực tiếp nhất và rõ nhất là nhìn thân vượng hay thân nhược, hành vận bị áp chế hay được phù trợ.
Nếu lấy thực tế con đường cuộc sống để so sánh thì rất phức tạp, vì vận mệnh mỗi người còn gắn với vận mệnh chung của quốc gia, của khu vực. Quốc vận đang bằng phẳng, xã hội tiến bộ, con người có cuộc sống hiện đại; tuy trong nước còn có vùng nghèo khó lạc hậu, nhưng phổ biến điều kiện sống đã nâng cao. Không thể đem vận nước so với vận kinh tế của một con người, mà chỉ nên lấy việc người đó hành đến vận tốt sớm hay muộn để so sánh, trong đó điều kiện mấu chốt lại không tách rời vận mệnh của đất nước.
Có người hành vận tốt sớm, có mệnh cục rất tốt, trong điều kiện dễ làm giàu như nay đáng lẽ đã thành người giàu. Nhưng khi đất nước dao động, có những phong trào do con người tạo nên khiến ai cũng không giàu được, thì dù người ấy hành đến tài vận cũng chỉ cơm no áo ấm hơn người khác một chút, hoặc tăng được một bậc lương. Ngược lại nếu trước kia gặp vận không tốt, nhưng Tứ trụ tốt, nay hành đến tài vận lại gặp quốc vận đổi mới thì sẽ thuận lợi. Quốc vận ngày càng tốt, mà Tứ trụ và các điều kiện khác của hai người khác nhau, thì người có mệnh cục tốt chắc chắn sống tốt hơn.
Tự mình khó so với mình. Nhưng nếu chú ý đến sự khẳng định của xã hội, tức sự thừa nhận địa vị của người đó, để so mức cống hiến của người đó cho xã hội, thì việc đánh giá gắn với mệnh cục rõ hơn. Người làm thương nghiệp quy mô lớn, giá trị buôn bán to thì xã hội thừa nhận là người giàu. Người có năng lực chính trị cao thì xã hội thừa nhận địa vị lãnh đạo. Người tri thức uyên thâm, biến tri thức thành của cải cho xã hội, đem lợi ích cho nhân dân thì địa vị và công danh càng cao, càng rộng.
Người nào ngũ hành trong mệnh cục có tình, dụng thần có lực, lại gặp vận tốt thì nói chung phú quý, công danh, quyền ấn đều có. Nhưng số người ấy thường chỉ đếm trên đầu ngón tay, vì trong một vòng sáu mươi giáp tý có hơn năm mươi hai vạn tổ hợp Tứ trụ khác nhau, ngoài ra tướng tay, tướng mặt, cốt tướng mỗi người một khác, rồi còn di truyền, khu vực sống chênh nhau. Cho nên tuy mệnh cục cùng lấy tài làm dụng thần, nhưng rất ít người giàu có, còn đa số chỉ ăn nên làm ra hơn người dân bình thường. Lại còn một vấn đề nữa: dù cùng có dụng thần là tài, người ấy có đạt được mệnh cục như thế hay không còn tùy sự nỗ lực trong đời sống.
Đến đúng phương vị thì dụng thần có lực
Có người có thể phát tài ở phương Nam. Họ đến sống ở phương Nam thì giàu rất nhanh, trở thành chủ tịch hội đồng quản trị của công ty, xí nghiệp, mức sống cao so với dân bản địa. Nhưng quan niệm giàu có ở mỗi vùng một khác: ở nơi này người có một vạn được xem là phát tài, đến vùng khác ở phương Nam, một trăm vạn mới được xem là giàu, thậm chí ở nước Úc phải có tiền triệu mới là giàu có. Giá trị ứng dụng của mệnh học chính là ở đây: đến được vùng có lợi cho dụng thần hoặc sinh trợ cho dụng thần thì mới phát tài, và phát rất nhanh, con đường công danh cũng mới bằng phẳng. Cho dù vận mệnh không tốt lắm, dụng thần không đắc lực, nhưng đến được phương vị hợp với dụng thần thì cuộc sống cũng thuận lợi hơn.
Từng thấy có những người ăn xin, ngay ở các thành phố trù phú ven biển phương Nam cũng có nhiều, nhưng họ không bị chết rét. Tuy là ăn xin, không phải ai cũng đến được vùng phía Nam. Những người mệnh lợi ở phương Nam mà không đến được phương Nam thì đương nhiên phải chịu đói rét. Cho nên đi sai phương vị, tức đi không đúng phương có lợi cho dụng thần, tất sẽ rủi ro, dù gặp vận tốt cũng không bằng đi về phương vị mà trong vận, trong mệnh nên đi. Đó là chưa nói khi hành bại vận còn thảm thương hơn, họa vô đơn chí. Ngược lại có người mù quáng đi về phương Nam là phương không đáng đi, thì không những không cạnh tranh nổi với người bản địa mà còn bị cuộc sống đắt đỏ, thậm chí rơi vào cảnh bị trộm cướp, phá sản.
Vận tốt đến sớm hay đến muộn
Trong một đời người nói chung ai cũng gặp vận khí tốt hay xấu, chỉ có điều gặp nhiều hay ít, gặp sớm hay gặp muộn. Tuổi trẻ hay tuổi già đều có thể hành vận xấu, nhưng cũng có lúc không gặp phải vận xấu nhất. Theo quy luật tự nhiên, ngày nay số người thọ tám mươi tuổi không còn là "xưa nay hiếm". Người từ nhỏ cuộc sống nghèo khổ hơn, đến tuổi trung niên nhờ học hành mà thành đạt, đến tuổi già được hưởng cuộc sống bình thường, như thế là tốt. Người mấy chục năm quãng giữa cuộc đời gặp vận trình tốt là người có phúc; đến lúc tuổi già chết vì bệnh già thì không gọi là tốt cũng đã rất tự nhiên. Chỉ sợ từ tuổi nhỏ đã hành vận tốt, hưởng hết phúc rồi đến cuối đời cuộc sống mới thê lương. Thậm chí có người chưa gặp được vận tốt đã gặp phải những vận khắc hại dụng thần làm đoản thọ, hoặc vì nghèo khổ quá mà chết non.
Những người ngũ hành trong Tứ trụ tương đối cân bằng thì nói chung cuộc đời ít thay đổi. Người nào Tứ trụ có các đại vận thay đổi nhiều thì phải đưa vào vận khí: nếu vận khí giúp đỡ được nhiều thì cuộc sống dễ dàng hơn, giúp đỡ ít thì suốt đời trầm lắng.
Dụng thần vì sự thay đổi của đại vận và lưu niên nên có lúc mạnh, lúc yếu, cuộc đời cũng theo đó mà lúc tốt lúc xấu. Ví dụ người có dụng thần là hỏa thì khi thiên can đại vận là bính, đinh tức là gặp vận tốt. Giáp, ất sinh bính, đinh nên vận giáp, ất cũng là vận tốt, nhưng giáp, ất không phải là vận của dụng thần, nên các tổ hợp can chi với Tứ trụ cũng kém hơn lúc đang hành vận dụng thần. Mệnh cục có dụng thần mà gặp giáp, ất là vận tốt; mệnh cục không có dụng thần thì giáp, ất chỉ có thể bổ trợ cho dụng thần chứ không thay thế được dụng thần bính, đinh. Cần nói rõ thêm: nếu giáp, ất là thương quan, khi thương quan trong mệnh đã vượng quá thì đó là vận dưới mức bình thường, vì thương quan gặp năm quan hạn sẽ lớn. Nếu giáp, ất, bính, đinh là vận tốt sinh phù thì mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý đều là các vận trợ giúp kị thần, hoặc là đương vận kị thần. Do tổ hợp của mỗi vận khác nhau nên mức độ cát hung của sự việc cũng khác nhau; điều đó thể hiện qua sự sinh khắc, hình xung hội hợp với hỉ thần và kị thần, và có thể tính toán được. Hơn nữa những việc tốt xấu của quá khứ và tương lai đều có thể căn cứ vào các tổ hợp ấy để đoán ra.
Một điều cần dứt bỏ khi đọc vận
Khi cân bằng cho Tứ trụ, cũng như khi đoán từng vận, từng năm, luôn phải nhớ: thân vượng thì nên gặp vận hoặc năm xì hơi, hao tổn, áp chế là tốt; thân nhược thì nên được năm hoặc vận tương sinh, trợ phù là tốt.
Có một số lý thuyết mệnh học cho rằng tuổi già sợ gặp vận vượng, tuổi trẻ sợ gặp vận suy, tuổi trung niên sợ gặp các địa chi rơi vào tử, tuyệt, thai. Cách nói đó căn cứ vào quy luật sinh trưởng tự nhiên của con người. Nhưng vận trình của con người lại căn cứ vào thiên can, dụng thần và các tổ hợp với địa chi để định vận tốt hay xấu. Tuổi già, tuổi trẻ hay trung niên, dụng thần đương vận căn bản không dính gì đến vận vượng hay vận suy. Nhiều người mới học không nắm chắc điều này nên bị lý luận kia làm cho hoang mang. Đó là điều nên kiên quyết dứt bỏ.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
