Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bốc Phệ Chính Tông

Bài tổng quan

Chương Quốc Triều Và Chinh Chiến: Xem Vận Nước Và Thắng Thua Trận

Bói Dịch - Bốc Phệ Chính Tông16/09/202620 phút đọc14 lượt đọc
Chương Quốc Triều Và Chinh Chiến: Xem Vận Nước Và Thắng Thua Trận

Quẻ Lục Hào không chỉ dùng cho việc nhà mà còn được nâng lên tầm việc nước. Quốc Triều xem vận nước hưng suy, vua sáng hay vua tối, rồi luận về thái tử, nịnh thần, chiến loạn và cảnh thiên hạ phân tranh. Chinh Chiến bàn chuyện thắng thua nơi chiến trận, kéo theo những câu phú về thất trận, đầu hàng và cả cách chọn vũ khí theo Ngũ Hành. Nét riêng của hai lĩnh vực này là mật độ điển tích dày đặc, bởi gần như mỗi câu phú đều được minh họa bằng một sự kiện lịch sử hay trận đánh nổi tiếng của Trung Hoa. Nơi chiến trận, hào Thế là chủ tướng ba quân, nên cần vượng động mà khắc được hào Ứng.


Quốc Triều: câu 1–11

Quốc Triều (chính sự triều đình) — xem vận nước hưng suy, minh quân hôn quân qua quẻ Bốc Dịch, minh họa bằng các điển tích lịch sử Trung Hoa.

1.

君恕則臣忠共濟明良之會 - 國泰則民樂當推禍福之源 - 雖天地尚知共始終況國家豈能無興廢 - 本宮旺相周文王創八百年之基 - 大象休囚秦始皇遺二世主之禍

Quân thứ tắc thần trung, cộng tế minh lương chi hội
Quốc thái tắc dân lạc, đương suy họa phúc chi nguyên
Tuy Thiên Địa thượng tri cộng thủy chung - Huống Quốc Gia khởi năng vô hưng phế
Bản cung vượng tướng, Chu Văn Vương sáng bát bách niên chi cơ
Đại tượng hưu tù, Tần Thủy Hoàng di nhị thế chủ chi họa

Vua khoan thì thần trung, cùng giúp vận hội (vua) sáng (tôi) hiền

Nước thái thì dân lạc, phải suy căn nguyên phúc họa.

Tuy là Trời Đất phải biết có thủy có chung - Huống chi Nước Nhà há nào không hưng không phế

Bản cung vượng tướng, Chu Văn Vương sáng nghiệp tám trăm năm

Đại tượng hưu tù, Tần Thủy Hoàng truyền lại hai đời chúa.

Như bề tôi bói, lấy bản cung làm triều đình, lấy Thái Tuế làm hào chi vua, hào hợp với Thái Tuế là hào chi Hoàng hậu, Nguyệt kiến là hào chi quan, Nhật thần là hào Đông cung, Tử Tôn là hào của thứ dân, hào Phụ là quốc gia. Bói được bản cung vượng tướng thì như con cháu của Chu Văn Vương hưởng được vận nước dài đến tám trăm năm. Nếu bản cung hưu tù, đại tượng lại hung thì như Tần Thủy Hoàng chỉ được hai đời là mất nước.

2.

九五逢陽當遇仁明之主 - 四交值福必多忠義之臣

Cửu ngũ phùng dương, đương ngộ nhân minh chi chúa
Tứ hào trị Phúc, tất đa trung nghĩa chi thần

Hào ngũ thuộc dương, gặp được chúa nhân từ sáng suốt

Hào tứ ở Phúc, tất có nhiều quan trung nghĩa.

Hào ngũ là vị trí của vua, gặp hào dương là tượng gặp thanh long tài phúc ấy là vua nhân từ sáng suốt. Hào tứ là vị trí của quan, nếu là hào Phúc Đức vượng tướng là quan thẳng thắn can ngăn, nêu ở Quan Quỷ, Huynh Đệ là quan a dua nịnh bợ.

3.

歲剋衰宮玉樹後庭花欲謝

Tuế khắc suy cung, Ngọc thụ Hậu Đình Hoa dục tạ

Thái Tuế khắc mà bản cung thì suy, cây ngọc sân sau hoa muốn rụng (Ngọc Thụ Hậu Đình Hoa mang hai nghĩa: tên khúc hát của Trần Hậu Chúa, và hoa của cây ngọc ở sân sau).

Bản cung suy nhược bị Thái Tuế khắc, nước có điềm vong loạn. Trần Hậu Chúa tuyển cung nữ có làm khúc "Ngọc thụ Hậu đình Hoa", vua tôi sớm tối say mê ca hát, sau bị nhà Tùy diệt.

4.

年傷弱世鼎湖龍去不多時

Niên thương nhược Thế, đỉnh hồ long khứ bất đa thời

Năm khắc Thế suy nhược, không bao lâu vua sẽ mất (Đỉnh Hồ long khứ là "rồng đi khỏi đỉnh Hồ" — Sử Ký chép: Hoàng Đế đúc đỉnh ở dưới núi Kinh Sơn, đúc đỉnh xong, vua cỡi rồng lên tiên. Người sau dùng từ này để nói bậc đế vương chết.).

Câu này nói đến vua tự bói. Nếu Thái Tuế hình xung khắc hại hào Thế thì chủ bị tật bệnh, hoặc trong nước gặp nạn.

5.

世臨沐浴合妻財夫差戀西詩而亡國

Thế lâm Mộc Dục hợp Thê Tài, Phù Sai luyến Tây Thi nhi vong quốc

Thế ở Mộc Dục hợp với Thê Tài là Phù Sai say mê Tây Thi mà mất nước.

Câu này nói trường hợp vua tự bói. Nếu Thế ở Mộc Dục mà hợp với hào Thê, hay hào Ứng hoặc Mộc Dục động khắc hợp với hào Thế tất hiếu sắc, như Phù Sai say mê sắc đẹp của Tây Thi mà bị nước Việt diệt.

6.

應帶咸池臨九五武后革唐命而爲周

Ứng đới Hàm Trì lâm cửu ngũ, Vũ hậu cách Đường mệnh nhi vi Chu

Ứng có Hàm Trì mà ở vị trí cửu ngũ là Vũ hậu thay nhà Đường mà lập nên nhà Chu.

Vua tự bói thì lấy hào Ứng làm Hoàng hậu. Nếu mang Hàm Trì thì về sau tất dâm, nếu lại ở vị trí hào ngũ khắc Thế thì như Vũ hậu nhà Đường phế vua Trung Tông làm Lư Lăng Vương, thay nhà Đường mà lập nên nhà Châu.

7.

遊魂遇空虞舜南巡不返

Du hồn ngộ Không, Ngu Thuấn nam tuần bất phản

Quẻ Du hồn mà lâm Không như vua Ngu Thuấn đi tuần phương nam mà không trở về.

Quẻ gặp Du hồn không nên rời kinh đi tuần thú, nếu thêm hung sát khắc Thế, hoặc hào Thế động hóa Mộ Tuyệt thì như vua Ngu Thuấn đi tuần phương nam rồi mất ở Thương Ngô.

8.

歸魂帶煞始皇返國亡身

Qui hồn đới Sát, Thủy Hoàng phản quốc vong thân

Quẻ Qui hồn mà bị khắc chế thì như Tần Thủy Hoàng trở về nước mà mất.

Nếu gặp quẻ Qui hồn mà động hào khắc Thế Thân thì như Thủy Hoàng cầu tiên ở biển, trở về nước mà mất ở Sa Khâu.

9.

子發逢空張子房起歸山之計

Tử phát phùng Không, Trương Tử Phòng khởi qui sơn chi kế

Tử động gặp Không thì như Trương Tử Phòng tính kế vào núi tu tiên.

Tử Tôn ở cung khác là bề tôi, nếu lâm Không mà động, bị hào Thế khắc hại, tất vua muốn hại tôi như Trương Lương đời Hán bỏ chức mà đi theo Xích Tòng Tử.

10.

將星被害岳武穆抱籲天之冤

Tướng tinh bị hại, Nhạc Vũ Mục bão dụ thiên chi oan

Tướng tinh bị hại thì như Nhạc Vũ Mục ôm nỗi oan thấu trời.

Tướng tinh là như ngày Dần Ngọ Tuất xem bói thì Ngọ là Tướng tinh, ngoài ra cứ thế mà suy. Nếu Tướng tinh ở hào Tài, Tử tất được người trung lương trí dũng, ở Quan Quỷ có Bạch Hổ là tướng hung tợn. Nếu ở Quan Quỷ khắc hại hào Thế sợ có âm mưu tạo biến. Tướng tinh bị động hào khắc hại thì như Nhạc Vũ Mục bị Tần Cối hại.

11.

應旺生合世交聖主得椒房之助

Ứng vượng sinh hợp Thế hào, Thánh chúa đắc tiêu phòng chi trợ

Ứng vượng sinh hợp hào Thế thì vua được trợ giúp của hoàng hậu.

Hào Ứng là hoàng hậu, nếu vượng tướng sinh hợp hào Thế lại ở Tài, Phúc thì hoàng hậu trí lược nhân từ, khiến vua làm thiện như Mã Hậu đời Hán, Tuyên Nhân đời Tống là bậc Nghiêu Thuấn trong đám nữ lưu.

Quốc Triều: câu 12–23

12.

日辰拱扶子位東宮攝天子之權

Nhật thần củng phù Tử vị, đông cung nhiếp thiên tử chi quyền

Nhật thần cùng phù hào Tử là đông cung nắm quyền thay vua.

Nếu Tử Tôn ở bản cung sinh vượng, lại được Nhật thần phò trợ là muốn truyền ngôi cho thái tử, là lúc nước có việc thế quyền cai trị nước.

13.

世剋福交唐玄宗有殺兒之事

Thế khắc Phúc hào, Đường Huyền Tông hữu sát nhi chi sự

Thế khắc hào Phúc là có việc Đường Huyền Tông giết con.

Nếu Thế khắc hào Tử bị Mộ Tuyệt ở bản cung, là Thái tử bị sàm tấu làm hại, như Đường Huyền Tông tin lời dèm pha của Lý Lâm Phủ mà phế cả Thái tử, Anh Ngạc Vương tên Diêu, Quang Vương tên Cứ rồi bắt phải chết.

14.

子傷君位隋楊廣有弒父之心

Tử thương quân vị, Tùy Dương Quảng hữu thí phụ chi tâm

Tử thương hào quân, Dương Quảng đời Tùy có lòng giết cha.

Tử Tôn ở bản cung vượng động khắc hào Thế là có điềm Thái tử muốn đoạt ngôi, như Tùy Dương Quảng giết cha mà tự lập làm vua.

15.

一卦無孫宋仁宗有絕嗣之嘆

Nhất quái vô Tôn, Tống Nhân Tông hữu tuyệt tự chi thán

Gặp quẻ không có Tử Tôn, Tống Nhân Tông than thở vì tuyệt tự.

Trong quẻ không có hào Tử Tôn hoặc Tử Tôn hưu tù động nhập Mộ, tất nước không có Thái tử, như Tống Nhân Tông than thở không có con.

16.

四交剋子秦扶蘇中趙相之謀

Tứ hào khắc Tử, Tần Phù Tô trúng Triệu tướng chi mưu

Hào tứ khắc Tử Tôn, Phù Tô nước Tần trúng mưu của tướng họ Triệu.

Hào tứ là vị trí của bề tôi, nếu vượng động khắc hại Tử Tôn của bản cung thì như Thái tử Phù Tô của nước Tần bị Triệu Cao giả chiếu bắt phải chết.

17.

身值動官唐泰宗禁庭蹀血

Thân trị động Quan, Đường Thái Tông cấm đình điệp huyết

Thân ở Quan Quỷ động, Đường Thái Tông giẫm lên máu ở nơi cung cấm.

Thân Thế trì Quan vượng động tất khắc sát Huynh Đệ, như Đường Thái Tông phục binh ở cổng Huyền Vũ bắn chết Kiến Thành, Nguyên Cát, máu chảy chốn cung cấm làm ngựa dẫm phải.

18.

世安空弟周泰百讓國逃荊

Thế an Không Đệ, Chu Thái Bá nhượng quốc đào Kinh

Thế ở Huynh Đệ lâm Không, Chu Thái Bá nhường nước trốn vào đất Kinh.

Thế trì Huynh Đệ lâm Không, hợp với Ứng hào, bị cát thần động khắc, là tượng anh em nhường nhau ngôi thiên tử, như Chu Thái Bá giả hái thuốc trốn vào Kinh Man, nhường ngôi cho Quí Lịch.

19.

凶神生合世交玄宗信臨甫之佞

Hung thần sinh hợp Thế hào, Huyền Tông tín Lâm Phủ chi nịnh

Hung thần sinh hợp với hào Thế, Huyền Tông tin lời nịnh của Lâm Phủ.

Nếu Quỷ sát động mà sinh hợp hào Thế là nịnh thần du nịnh, được vua tín nhiệm, như Đường Huyền Tông tín dùng Lý Lâm Phủ trong mười chín năm làm thiên hạ đại loạn.

20.

君位傷剋四位商紂害比干之忠

Quân vị thương khắc tứ vị, Thương Trụ hại Tỉ Can chi trung

Quân vị thương khắc hào tứ, vua Trụ nhà Thương hại trung thần Tỉ Can.

Hào tứ là bề tôi, trì Tài Tử mà bị hào vua thương khắc như Tỉ Can tận trung mà bị vua Trụ giết.

21.

離宮變入坎宮帶凶煞而徽欽亡身於漠北

Li cung biến nhập Khảm cung, đới hung sát nhi Huy Khâm vong thân ư mạc bắc

Cung Li biến nhập vào cung Khảm bị hung sát nên Huy Khâm bỏ mạng ở sa mạc phía bắc.

Quái tượng hung, Thế lại bị khắc, hoặc động nhập Mộ Tuyệt là điềm chết. Li nam Khảm bắc, Li hóa Khảm là từ Nam vào Bắc, như Tống Huy Khâm bị nước Kim bắt, chết ở sa mạc phía bắc.

22.

乾象化巽象有吉曜而孫劉鼎足於東南

Càn tượng hóa vi Tốn tượng, hữu cát diệu nhi Tôn Lưu đỉnh túc ư đông nam

Quẻ Càn hóa Tốn, có cát tinh mà Tôn và Lưu chia chân vạc ở đông nam.

Càn biến Tốn đại tượng là hung, nếu có cát tinh như Lưu Huyền Đức cùng với Ngô, Ngụy phân ba chân vạc lập thành tam quốc.

23.

國之治亂興衰卦理推詳剖決

Quốc chi trị loạn hưng suy, quái lý suy tường phẫu quyết

Nước yên, loạn hay hưng, suy đều phân tích quẻ để suy rõ.

Chinh Chiến: câu 1–13

Chinh Chiến (chiến trận) — xem thắng thua giữa hai bên trong việc dùng binh, minh họa bằng hàng loạt điển tích quân sự nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa.

1.

醫不執方兵不執法堪稱大將才能 - 謀事在人成事在天當究先師妙論 - 觀世應之旺衰以決兩家之勝負 - 將福官之強弱以分彼我之君師

Y bất chấp phương, binh bất chấp pháp, kham xưng đại tướng tài năng
Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, đương cứu tiên sư diệu luận
Quan Thế Ứng chi vượng suy, dĩ quyết lưỡng gia chi thắng phụ
Tương Phúc Quan chi cường nhược, dĩ phân bỉ ngã chi quân sư

Trị bệnh không chấp phái thuốc, dùng binh không chấp binh pháp mới xứng tài đại tướng

Mưu sự tại người, thành sự tại trời, trước tiên phải xét luận bàn của các thầy đời trước;

Xem vượng suy của Thế Ứng để quyết hơn thua của hai phe,

Đem mạnh yếu của Phúc Quan để phân quân sư của ta và người.

Thế là ta, Ứng là người. Thế vượng khắc Ứng thì thắng, Ứng vượng khắc Thế thì thua. Tử là tướng của ta, Quỷ là tướng của người.

2.

父母興隆主望旌旗之蔽野 - 金爻空動聽金鼓之喧天

Phụ Mẫu hưng long chủ vọng tinh kỳ chi tế dã
Kim Phụ không động thính kim cổ chi huyên thiên

Phụ Mẫu hưng vượng chủ nhìn thấy cờ xí che kín đồng rộng

Hào Phụ thuộc Kim động lâm Không thì nghe chuông trống vang trời.

Phụ Mẫu là cờ xí. Kim động là nghe tiếng chuông trống, Kim lâm Không nên có tiếng vang.

3.

財爲糧草之本根 - 兄乃伏兵之形勢

Tài vi lương thảo chi bản căn
Huynh nãi phục binh chi hình thế

Tài là nền tảng của lương thảo

Huynh là hình thế của phục binh.

Tài là lương thảo, vượng thì nhiều, suy thì ít, Không thì chẳng có lương. Huynh là phục binh, lại là thần đoạt lương, không nên vượng động.

4.

水興扶世濟川宜駕乎輕舟 - 火旺生身立寨必安於勝地

Thủy hưng phù Thế tế xuyên nghi giá khinh chu
Hỏa vượng sinh Thân lập trại tất an ư thắng địa

Thủy vượng phò Thế, vượt sông nên dùng thuyền nhẹ,

Hỏa vượng sinh Thân, lập trại tất được đất hình thế tốt.

Thế nếu động sinh phò Thế Thân, hoặc Tử Tôn thuộc Thủy động, nên dùng thuyền vượt sông mà đánh tất thắng. Hỏa nếu vượng động sinh phò Thế Thân, dựng trại tất được đất có địa thế tốt.

5.

父母興持主帥無寬仁之德 - 子孫得地將軍有決勝之才

Phụ Mẫu hưng trì chủ soái vô khoan nhân chi đức
Tử Tôn đắc địa tướng quân hữu quyết thắng chi tài

Phụ Mẫu vượng trì Thế, chủ soái không có đức khoan dung

Tử Tôn đắc địa thì tướng cầm quân có tài quyết thắng.

Phụ Mẫu trì Thế động là chủ súy không thương quân sĩ, trên dưới không đoàn kết, nếu với Huynh Đệ và Quan Quỷ thì phòng có biến. Nếu Tử Tôn trì Thế vượng động thì tướng cầm quân tất có tài quyết thắng ngoài ngàn dặm.

6.

水爻剋子子孫強韓信背水陣而陳餘被斬

Thủy hào khắc Tử, Tử Tôn cường, Hàn Tín bối thủy trận nhi Trần Dư bị trảm

Thủy hào khắc Tử mà Tử vượng thì như Hàn Tín xây lưng vào sông bày trận mà Trần Dư bị chém.

Thế trì Thủy động hoặc Thủy hào khắc Tử Tôn, nếu Tử Tôn cũng động được Nhật Nguyệt sinh phò thì có thể bắt chước Hàn Tín dựa lưng vào nước để bày trận mà lại thắng.

7.

陰象持兄兄剋應李愬雪夜走而元濟遭擒

Âm tượng trì Huynh, Huynh khắc Ứng, Lý Tố dạ tẩu nhi Nguyên Tế tao cầm

Huynh trì hào âm, Huynh khắc Ứng mà Lý Tố thừa đêm tuyết mà bắt Nguyên Tế.

Huynh là phục binh, tại Nội quái động khắc hào Ứng, là phục binh của ta, khắc Thế là phục binh của người. Nếu ở hào dương nên phục binh ban ngày, tại hào âm nên phục binh ban đêm, như vào triều Hiến Tông, Lý Tố đi trong đêm tuyết cho ngựa ngậm tăm thẳng đến Sái thành bắt Ngô Nguyên Tế.

8.

世持子而被傷可效周亞夫堅壁不戰

Thế trì Tử nhi bị thương, khả hiệu Chu Á Phu kiên bích bất chiến

Thế trì Tử mà bị thương, có thể bắt chước Chu Á Phu giữ vững không đánh.

Thế trì Tử Tôn thì tướng tất có tài năng, có thể thắng địch. Nếu bị động khắc thì nên cố thủ, không nên tốc chiến, như thời Hán Cảnh Đế bảy nước làm phản, vua sai Chu Á Phu đóng đồn ở Tế Liễu để đánh. Nửa đêm quân sợ hãi rối loạn, Chu Á Phu nằm yên không dậy, lo đào hào đắp lũy, mới ngày sau mới định yên quân, rồi phá được quân của bảy nước.

9.

應臨官而遭剋當如司馬懿固壘休兵

Ứng lâm Quan nhi tao khắc, đương như Tư Mã Ý cố lũy hưu binh

Ứng lâm hào Quan mà bị khắc, nên như Tư Mã Ý giữ vững lũy không ra đánh.

Ứng trì Quan vượng, tướng địch tài năng, ta tuy đối địch dù có Tử Tôn động cũng không thể thắng lớn, giống như thời Tam quốc, Tư Mã Ý tự liệu không bằng Khổng Minh cam chịu nhận lấy khăn yếm của phụ nữ cố thủ không ra đánh.

10.

世持衰福得生扶王剪以六十萬眾而勝楚

Thế trì suy Phúc đắc sinh phù, Vương Tiễn dĩ lục thập vạn chúng nhi thắng Sở

Thế ở Phúc suy, được sinh phò như Vương Tiễn đem sáu mươi vạn binh mà thắng Sở.

Thân Thế tuy trì Tử suy nhược cũng khó thắng. Nếu được Nguyệt kiến, Nhật thần sinh phò, có thể bắt chước thời Tần Thủy Hoàng, Vương Tiễn đem sáu chục vạn quân mà đánh thắng Sở.

11.

卦有眾官臨旺子謝玄以八千之兵而破秦

Quái hữu chúng Quan lâm vượng Tử, Tạ Huyền dĩ bát thiên chi binh nhi phá Tần

Quẻ có nhiều hào Quan mà Tử vượng, như Tạ Huyền đem tám ngàn quân mà phá Tần.

Hào Quan tuy nhiều mà an tĩnh, Tử Tôn tuy ít mà vượng động thì ít có thể thắng đông, như Tạ Huyền Lưu Lao đời Tấn dùng tám ngàn quân phá được chín mươi vạn quân của Tần vương Phù Kiên.

12.

兩子合世扶身李郭同心而興唐室

Lưỡng Tử hợp Thế phù Thân, Lý Quách đồng tâm nhi hưng Đường thất

Hai Tử hợp Thế phò Thân mà Lý Quách đồng tâm chấn hưng nhà Đường.

Quẻ có hai hào Tử vượng động sinh Thế, chủ có hai tướng hợp mưu thắng địch, như hai tướng Lý Bật và Quách Tử Nghi đời Đường giữ lòng trung nghĩa gắng sức dẹp loạn, hưng khởi nhà Đường.

13.

二福刑冲化絕鍾鄧互隙而喪身家

Nhị Phúc hình xung hóa Tuyệt, Chung Đặng hỗ khích nhi táng thân gia

Hai Phúc hình xung hóa Tuyệt mà Chung và Đặng hiềm khích nhau khiến táng thân.

Hai hào Tử Tôn vượng động đều hóa nhập Mộ, Tử, Tuyệt, Không tuy thắng địch, cũng vì tranh quyền đoạt sủng mà tàn hại lẫn nhau như Chung Hội và Đặng Ngãi đời Tấn đem quân bình đất Thục. Thục tuy bình định mà hai tướng tàn hại lẫn nhau khiến tan nát thân gia.

Chinh Chiến: câu 14–26

14.

子化死交曹操喪師於赤壁

Tử hóa Tử hào, Tào Tháo táng sư ư Xích Bích

Tử hòa Tử mà Tào Tháo chôn quân ở Xích Bích.

Tử Tôn là quân ta, nếu động nhập Tử, Mộ, Tuyệt, Bại mà Ứng lâm Quỷ Phụ động thương Thân Thế tất hao binh tổn tướng, như Tào Tháo bị thua Chu Du, Hoàng Cái.

15.

世逢絕地項羽自刎於烏江

Thế phùng Tuyệt địa, Hạng Vũ tự vẫn ư Ô giang

Thế gặp Tuyệt địa mà Hạng Vũ tự vẫn ở sông Ô.

Thế là quốc chủ, tướng súy của ba quân, nên vượng động khắc Ứng. Nếu Thế suy mà bị hào Ứng hình xung khắc hại, động nhập Tử, Mộ, Không, Tuyệt thì như Hạng Vũ tự vẫn ở sông Ô.

16.

水鬼剋身秦符堅有淝水之敗

Thủy Quỷ khắc Thân, Tần Phù Kiên hữu Phì thủy chi bại

Thủy Quỷ khắc Thân như Tần Phù Kiên bị thua ở sông Phì.

Thủy Quỷ vượng động thương khắc Thế Thân, tất quân địch được lợi thuyền bè qua sông, như quân của Tần Phù Kiên bị tám ngàn quân của Tạ Huyền vượt sông đánh bại.

17.

火官持世漢高祖遇平城之圍

Hỏa Quan trì Thế Hán Cao Tổ ngộ Bình Thành chi vi

Hỏa Quan trì Thế như Hán Cao Tổ bị vây ở Bình Thành.

Hỏa hào lâm Quỷ thì trại giặc tất gần, Hỏa hào trì Thế nên phòng bị vây. Tử Tôn vượng động thì bị vây lại thắng. Nếu Tử suy Quan vượng thì giống như Hán Cao Tổ bị vây bảy ngày ở Bình Thành mới được giải vây.

18.

應官剋世卦無財張睢陽食盡而斃

Ứng Quan khắc Thế, quái vô Tài Trương Tuy Dương thực tận nhi tễ

Ứng Quan khắc Thế, quẻ không có Tài, Trương ở Tuy Dương hết lương thực mà chết.

Ứng hào trì Quỷ khắc Thế, trong quẻ không có Tài hào, là tượng chết vì không có lương ăn, như Trương Tuần bị vây ở thành Duy Dương.

19.

世鬼興隆生合應呂文煥無援而降

Thế Quỷ hưng long sinh hợp Ứng, Lữ Văn Hoán vô viện nhi hàng

Thế Quỷ hưng vượng sinh hợp với Ứng, Lữ văn Hoán không có viện quân phải hàng.

Vượng Quỷ trì Thế là tượng bị vây khốn, trong quẻ không có hào Tài, Tử, lại Thế suy nhược, lại sinh hợp hào Ứng, là điềm lương thiếu, quân ít phải hàng địch. Đời Tống Lữ Văn Hoán giữ thành Tương Dương bị quân Nguyên vây lâu ngày, Giả Tự Đạo che giấu việc, thành không có viện quân, hết lương phải hàng.

20.

外宮子動化絕交李陵所以降虜

Ngoại cung Tử động hóa Tuyệt hào Lý Lăng sở dĩ hàng lỗ

Ngoại cung Tử động hóa Tuyệt, Lý Lăng bị bắt phải hàng.

Tử ở ngoại cung động, Thế bị Ứng khắc cuối cùng tất bại. Lại hóa Tuyệt không tránh khỏi bị bắt mà phải hàng, như việc Lý Lăng thời Hán Vũ Đế.

21.

內卦福興生合應樂毅所以背燕

Nội quái Phúc hưng sinh hợp Ứng, Nhạc Nghị sở dĩ bội Yên

Phúc hưng ở nội quái, sinh hợp với Ứng như Nhạc Nghị phải phản Yên.

Tử Tôn phát động mà ngược đi sinh Ứng, thương khắc Thế Thân là điềm binh tướng của ta phản đi hàng địch, như Nhạc Nghị tướng của nước Yên đầu hàng quân Triệu.

22.

鬼雖衰而遇生扶勿追窮寇

Quỷ tuy suy nhi ngộ sinh phù, vật truy cùng khấu

Quỷ tuy suy, gặp sinh phò chớ đuổi địch đến cùng.

Hào Quan tuy suy nếu được động hào, Nhật thần sinh phò cùng hợp thì quân địch tuy ít nhưng được cứu viện.

23.

子雖旺而遭剋制毋急興師

Tử tuy vượng nhi tao khắc vô cấp hưng sư

Tử tuy vượng mà gặp khắc không gấp khởi binh.

Tử Tôn tuy vượng nếu bị Nhật thần, động hào khắc hại, quân địch tất có mưu tính, không thể đánh gấp, đánh tất không đến nỗi đại bại nhưng hao quân, mất uy, cần thong thả.

24.

鬼交暗動傷身吳王被專諸之刺

Quỷ hào ám động thương Thân, Ngô Vương bị Chuyên Chư chi thích

Hào Quỷ ám động thương Thân, Ngô Vương bị Chuyên Chư hành thích.

Vượng Quan ám động khắc hại Thế Thân như Vua Ngô bị Chuyên Chư hành thích. Thế khắc Quỷ ám động, hoặc Tử động đến cứu như Kinh Kha hành thích Tần Vương không được nên bị chết.

25.

子化官交剋世張飛遭范張之誅

Tử hóa Quan hào khắc Thế, Trương Phi tao Phạm Trương chi tru

Tử hóa Quan khắc Thế như Trương Phi bị Phạm, Trương giết.

Tử Tôn hóa Quan Quỷ sinh hợp hào Ứng, ngược lại đi khắc hại Thế Thân thì binh lính ta giết chủ hàng địch, như Trương Dực Đức đời Hậu Hán bị bộ tốt Phạm Cương, Trương Đạt hành thích trong trướng mà hàng Tôn Quyền.

26.

要識用兵之利器五行卦象併推詳

Yếu thức dụng binh chi lợi khí, ngũ hành quái tượng tính suy tường

Muốn biết dùng loại vũ khí nào tốt, phải suy rõ ngũ hành cùng quái tượng.

Thổ là đạn đá, Kim là đao tên, Tùy Mộc là thuyền bè, Hỏa là dinh trại. Lại Càn Đoài là đao, Chấn Tốn là cung, là lửa, là súng. Khôn là đánh ngoài đồng chẳng hạn. Nếu là thần khắc Ứng thì nên dùng vũ khí này để đánh, nếu bị Ứng khắc thì nên phòng địch dùng loại vũ khí đó.

仁智勇嚴之將豈越於此 - 攻守剋敵用兵當審於時

Nhân trí dũng nghiêm chi tướng khởi việt ư thử
Công thủ khắc địch dụng binh đương thẩm ư thời

Nhân trí dũng nghiêm của tướng há vượt qua được sao,

Dụng binh công thủ khắc địch phải xem xét thời vận.


Nguồn: Tăng Bổ Bốc Phệ Chính Tông (增補卜筮正宗) – Vương Hồng Tự, bản dịch và chú thích của Vĩnh Cao.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bốc Phệ Chính Tông