Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Cách xếp trụ năm và trụ tháng trong Tứ trụ, nạp âm và tiết lệnh

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc01/10/202614 phút đọc2 lượt đọc
Cách xếp trụ năm và trụ tháng trong Tứ trụ, nạp âm và tiết lệnh

Nhiều người vẫn tin năm mới bắt đầu từ mồng một Tết, rồi xếp sai ngay cái trụ đầu tiên của lá số. Chỉ lệch một mốc tiết khí là cả tháng, cả vận mệnh đổi theo. Vậy mốc nào mới thật sự chia năm trước với năm sau…


Trụ năm: năm âm lịch ghi bằng can chi

Trụ năm là năm sinh theo âm lịch của một người, ghi bằng can chi. Ai tuổi con trâu thì có thể sinh năm 1949, can chi là kỷ sửu; hoặc năm 1961, tân sửu; hoặc năm 1973, quý sửu. Nghĩa là trong vòng mười hai năm chi không đổi, chỉ có can đổi.

Mười thiên can và mười hai địa chi phối với nhau theo thứ tự thành từng cặp, đi đủ sáu mươi cặp thì hết một vòng. Giáp tý, ất sửu, bính dần... cho tới năm quý hợi là vừa tròn. Vì can giáp và chi tý ghép thành năm thứ nhất nên vòng này cũng gọi là sáu mươi giáp tý; sáu mươi năm âm lịch gọi là một hoa giáp. Qua một hoa giáp, can chi trở lại từ đầu, cứ thế lặp mãi. Theo cách tính thời hiện đại, sáu mươi năm tính từ 1923 trở về trước là thượng nguyên, từ 1924 đến 1983 là trung nguyên, từ 1984 trở về sau là hạ nguyên. Nhờ vậy biết ngay can chi của năm sinh thuộc nguyên nào.

Ranh giới giữa năm trước và năm sau là thời điểm lập xuân. Nhiều người hiểu nhầm, lấy mồng một tháng giêng của năm sau làm mốc. Nhận thức sai ấy dẫn tới xếp sai năm và tháng của Tứ trụ, tức là sai toàn bộ vận mệnh cả đời.

Tính cầm tinh, tuổi và can năm trên bàn tay

Thuộc thứ tự mười thiên can, mười hai địa chi trên bàn tay cùng các con giáp ứng với chúng sẽ rất tiện lợi khi dự đoán. Có người cho biết năm nay tuổi mụ của họ là bao nhiêu, ta lập tức tính ra họ cầm tinh con gì, thậm chí biết cả can chi năm sinh. Nếu người ấy chỉ cho biết con giáp, ta cũng nhanh chóng tìm ra năm nay họ bao nhiêu tuổi.

Tìm con giáp. Giả sử một người nói năm nay họ 47 tuổi mụ, và năm nay là 1994, năm giáp tuất. Theo thói quen, người ta tính vừa sinh ra đã một tuổi. Ngả bàn tay trái ra, ở ngôi tuất đếm là một tuổi. Rồi theo chiều kim đồng hồ, cách một ngôi sang ngôi tý là 11 tuổi, cách một ngôi nữa sang ngôi dần là 21 tuổi; cứ đếm cách ngôi như thế ta được 31 tuổi, cuối cùng ngôi ngọ là 41 tuổi. Từ đó đếm ngược chiều kim đồng hồ từng số một: 42 ở ngôi tỵ, 43 ở thìn, 44 ở mão, 45 ở dần, 46 ở sửu, 47 ở tý. Người này sinh năm tý, cầm tinh con chuột. Muốn biết năm dương lịch thì lấy năm nay trừ đi số tuổi chẵn: 1994 trừ 46 là 1948, tức người ấy sinh năm 1948. Cần nhớ rằng đếm thuận thì cách ngôi, mỗi bước 10 tuổi, đếm tới trước tuổi mụ của năm nay (47 tuổi thì đếm tới ngôi ngọ là 41); sau đó mới đếm ngược từng số một. Nếu năm 1995, năm ất hợi, thì bắt đầu từ ngôi hợi đếm một tuổi mụ.

Tìm số tuổi. Ngược lại, nếu biết người ấy cầm tinh con chuột thì xem ngược lên trên 40 tuổi, cuối cùng tới tuổi nào thì phải bắt đầu đếm ngược. Cách tính giống như trên: năm 1994 giáp tuất, ở ngôi tuất đếm một tuổi mụ, đếm thuận cách ngôi sang tý là 11, dần là 21, thìn là 31, ngọ là 41, rồi đếm ngược từng số một đến tý là 47. Vậy năm nay người đó 47 tuổi mụ.

Tìm can năm. Cách trên cho biết chi năm sinh, tức con giáp. Để tìm can, vẫn dùng ngón cái tay trái bấm lên ngôi tuất ở ngón út, đếm giáp một tuổi. Đếm thuận cách ngôi: ngôi tý là giáp 11 tuổi, dần là giáp 21, thìn là giáp 31, ngọ là giáp 41, thân là giáp 51 (tức đếm tới năm giáp sau 47 tuổi). Rồi dùng ngón trỏ tay phải đặt lên ngôi giáp 51 tuổi, đếm thiên can thuận chiều kim đồng hồ: ất 50, bính 49, đinh 48, mậu 47. Người 47 tuổi mụ có can năm sinh là mậu; ghép với chi tý ta được năm mậu tý. Muốn dùng thạo cách này, trước hết phải biết con giáp, số tuổi và năm sinh âm lịch.

Nạp âm: mượn hình ảnh vạn vật để gọi năm mệnh

Âm dương ngũ hành là khí, nói về một người thì khá trừu tượng, nên người xưa mượn những hình thái rất rõ ràng của vạn vật để ví. Trong kiến thức làm lịch, ai cũng biết sáu mươi giáp tý có năm mệnh nạp âm. Chẳng hạn tuổi giáp tý và ất sửu đều có mệnh "Kim đáy biển", tuổi bính dần và đinh mão đều có mệnh "Lửa trong lò"... Tức là cứ hai năm làm thành một năm mệnh, lấy hai mươi bốn cách gọi ngũ hành khác nhau làm tên năm mệnh. Những năm mệnh ấy lớn thì gắn với hưng suy, mưa thuận gió hòa của đất nước; nhỏ thì cho thấy cát hung họa phúc của vận mệnh từng người. Riêng quan hệ giữa người với người, như cha mẹ vợ chồng ra sao, cha con mẹ con, con cái ra sao, từ trường giữa mọi người là tương sinh, tương hợp hay tương khắc, tương xung, đều có thể nhìn rõ qua đó. Cái khó là nắm cho chính xác mức mạnh yếu và sinh khắc của ngũ hành.

Ngũ hành của nạp âm có quy luật, xác định được. Các hành xếp theo thứ tự kim, thủy, hỏa, thổ, mộc, mỗi cặp năm trên dưới là một loại ngũ hành; ví dụ nhóm thứ nhất toàn người mệnh kim, nhóm thứ hai toàn mệnh thủy, nhóm thứ ba mệnh hỏa, nhóm thứ tư mệnh thổ, nhóm thứ năm mệnh mộc. Địa chi cũng lặp đi lặp lại: theo hàng ngang, hàng trên và hàng dưới hợp thành một nhóm, không chỉ nối theo thứ tự tý đến hợi mà mỗi nhóm trên dưới đều cách sáu ngôi, tức có quy luật lục xung. Theo cột đứng, cột trái đều là tý, sửu, ngọ, mùi; cột giữa đều là dần, mão, thân, dậu; cột phải đều là thìn, tỵ, tuất, hợi. Thiên can cũng có quy luật: thứ nhất, can của mỗi nhóm giống nhau; thứ hai, thứ tự kim, thủy, hỏa, thổ, mộc ứng với thứ tự năm can dương giáp, bính, mậu, canh, nhâm ở cột trái. Các can giáp của cột giữa (giáp dần, giáp thân) bắt đầu từ nhóm hai, can nhâm của cột giữa lại ở nhóm một; thứ tự giáp, bính, mậu, canh, nhâm ở cột này nhớ theo thủy, hỏa, thổ, mộc, kim. Can giáp của cột phải (giáp thìn, giáp tuất) bắt đầu từ nhóm ba, nhâm ở nhóm hai, canh ở nhóm một; thứ tự ở cột này nhớ theo hỏa, thổ, mộc, kim, thủy. Vì nạp âm kim, thủy, hỏa, thổ, mộc đi theo quy luật như thế, nên chỉ cần nhớ giáp ở cột trái bắt đầu từ nhóm một, cột giữa từ nhóm hai, cột phải từ nhóm ba là dựng lại được bảng khi cần.

Ngoài ra, nếu đối chiếu năm dương lịch từ 1924 đến 1983 với sáu mươi năm của trung nguyên thì nhóm trên và nhóm dưới chênh nhau 30 năm. Chẳng hạn 1924 là giáp tý, thêm 30 năm tới giáp ngọ là 1954; năm giáp thìn là 1964, năm giáp tuất là 1934.

Một ví dụ dùng nạp âm: người sinh năm kỷ dậu có năm mệnh là thổ bãi rộng, muốn biết quan hệ với người sinh năm giáp thìn thì trước hết xem ngũ hành của hai năm mệnh sinh hay khắc nhau. Tương sinh thì có lợi, tương khắc thì không lợi, còn hai năm mệnh giống nhau thì kém hơn tương sinh. Theo quy luật nhớ ở trên, thìn, tỵ, tuất, hợi nằm cột phải, can giáp bắt đầu từ nhóm ba, theo thứ tự kim, thủy, hỏa, thổ, mộc thì giáp thìn là mệnh hỏa, hỏa ngọn nến. Mình mệnh thổ; hỏa sinh thổ nên đối phương sinh cho mình, mình có lợi, quan hệ hai người tốt. Nếu là bạn trai hay chồng thì rất yêu mình. Xét về hôn nhân, giáp với kỷ là thiên can tương hợp, thìn với dậu là địa chi tương hợp, năm mệnh hỏa thổ lại tương sinh, tức đôi này ý hợp tâm đầu.

Trụ tháng lấy theo tiết lệnh

Trụ tháng là can chi dùng để biểu thị tiết lệnh của tháng sinh. Ví dụ người sinh ngày mồng một tháng chín âm lịch năm 1973, ngày sinh đã quá tiết bạch lộ nên nằm trong tiết lệnh tháng tám; tra lịch vạn niên được tháng sinh là tân dậu. Dù tháng âm lịch hay tháng nhuận là tháng nào, can chi của tháng cũng lấy tiết lệnh làm chuẩn: trước giao tiết thì lấy lệnh tháng trước, sau giao tiết lấy lệnh tháng sau. Nếu sinh đúng ngày giao tiết, phải tra giao tiết lúc mấy giờ để lấy trụ tháng cho chính xác. Một năm có mười hai tháng, năm năm là vừa một vòng hoa giáp. Địa chi của trụ tháng mỗi năm cố định, bắt đầu từ tháng dần và kết thúc ở tháng sửu; ranh giới giữa các tháng căn cứ vào tiết lệnh:

ThángĐịa chiTừ tiếtĐến tiết
GiêngDầnLập xuânKinh trập
HaiMãoKinh trậpThanh minh
BaThìnThanh minhLập hạ
TưTỵLập hạMang chủng
NămNgọMang chủngTiểu thử
SáuMùiTiểu thửLập thu
BảyThânLập thuBạch lộ
TámDậuBạch lộHàn lộ
ChínTuấtHàn lộLập đông
MườiHợiLập đôngĐại tuyết
Mười mộtTýĐại tuyếtTiểu hàn
Mười haiSửuTiểu hànLập xuân

Ý nghĩa của mười hai tiết lệnh

  • Lập xuân (tháng giêng): "lập" là bắt đầu, vạn vật gặp mùa xuân thì mở một chu kỳ mới. Khí trời ấm trở lại, vạn vật đổi mới, là mốc khởi đầu mọi việc nhà nông. Rơi vào ngày 4 hoặc 5 tháng 2 dương lịch.
  • Kinh trập (tháng hai): sấm xuân bắt đầu vang, đánh thức côn trùng và các loài vật nhỏ sau giấc ngủ đông; những con sâu qua đông sắp hóa bướm. Xuân đậm hơn, khí hậu ấm dần. Ngày 6 hoặc 7 tháng 3 dương lịch.
  • Thanh minh (tháng ba): khí trời đã ấm, cỏ cây nảy mầm, trời đất hiện cảnh trong xanh sáng sủa. Ngày 5 hoặc 6 tháng 4 dương lịch.
  • Lập hạ (tháng tư): mùa hạ bắt đầu, khí trời sắp nóng bức, nhà nông đã bận rộn. Ngày 6 hoặc 7 tháng 5 dương lịch.
  • Mang chủng (tháng năm): "mang" là lớp lông nhỏ ở đầu vỏ nhọn của hạt ngũ cốc. Ở phương Bắc là lúc gặt lúa mì, cũng là mùa cày bừa bận nhất. Ngày 6 hoặc 7 tháng 6 dương lịch.
  • Tiểu thử (tháng sáu): đã vào sâu mùa hạ, trời nóng bức cực độ. Ngày 7 hoặc 8 tháng 7 dương lịch.
  • Lập thu (tháng bảy): cái nóng mùa hạ sắp qua, trời cao, khí trời tươi sáng, mùa thu bắt đầu. Ngày 8 hoặc 9 tháng 8 dương lịch.
  • Bạch lộ (tháng tám): trời đã mát hơn. Ban đêm hơi nước trong không khí thường đọng thành giọt sương trắng như hạt ngọc treo đầu lá, ngọn cỏ. Ngày 8 hoặc 9 tháng 9 dương lịch.
  • Hàn lộ (tháng chín): mức mát lạnh của khí trời bắt đầu tăng lên. Ngày 8 hoặc 9 tháng 10 dương lịch.
  • Lập đông (tháng mười): cái mát của mùa thu sắp hết, mùa đông lạnh lẽo đã bắt đầu. Ngày 7 hoặc 8 tháng 11 dương lịch.
  • Đại tuyết (tháng mười một): tuyết rơi đã khá dày. Ngày 7 hoặc 8 tháng 12 dương lịch.
  • Tiểu hàn (tháng mười hai): đã vào sâu mùa đông, trời rét buốt, có băng. Ngày 5 hoặc 6 tháng giêng dương lịch.

Khí chất âm dương của can chi mỗi tháng

Trong Tứ trụ, địa chi của mỗi tháng cố định, còn thiên can mỗi tháng một khác, nhưng vẫn tìm được theo quy luật: tên can của tháng đầu năm do tên can của năm quyết định. Lẽ của nó là khí chất âm dương liên quan đến can chi của tháng. Trong vũ trụ vốn chỉ có âm; vì có chuyển động nên phân thành âm dương. Có già trẻ nên có tứ tượng; có tứ tượng tức là khí ngũ hành đã hàm chứa trong đó. Có âm dương nên sinh ngũ hành, mà trong ngũ hành lại có âm dương. Lấy mộc làm ví dụ: giáp là dương mộc, ất là âm mộc; giáp là khí của ất, ất là chất của giáp, là hành của trời, là mộc của âm dương. Dần, mão cũng chia âm dương, dần là dương mộc, mão là âm mộc, là mộc phân âm dương ở dưới đất. Giáp, ất, dần, mão mỗi chữ nắm quyền một tháng. Giáp ất ở trên trời nên động, không cố định, vì thế tháng kiến dần không nhất định là giáp dần, tháng kiến mão không nhất định là ất mão. Dần mão ở dưới đất nên tĩnh, không đổi: giáp tuy dời, tháng giêng nhất định là kiến dần; ất tuy dời, tháng hai nhất định là kiến mão. Nói về khí thì giáp vượng ở ất; nói về chất thì ất vững ở giáp. Có chỗ viết sai khi coi giáp là gỗ rừng xanh rậm rạp nên chặt phá, coi ất là mầm non không được làm tổn thương, như vậy là hiểu chưa đúng đạo lý âm dương. Từ lý luận về mộc ở trên cũng suy ra được kim, hỏa, thủy. Thổ là xung khí của mộc, hỏa, kim, thủy nên vượng ở tháng cuối của bốn mùa và cũng có khí chất âm dương; còn mộc, hỏa, kim, thủy là sự ngưng kết của xung khí mà thành, nên đương nhiên đều có khí chất âm dương.

Bài ca tìm can tháng giêng theo can năm

Cách tra: năm có can giáp hoặc kỷ thì tháng giêng là bính dần, tháng hai là đinh mão, cứ thế tính tiếp. Năm 1994 là giáp tuất, can năm là giáp; năm 1989 là kỷ tỵ, can năm là kỷ; tháng giêng của hai năm ấy đều lấy bính dần. Các năm khác làm tương tự. Có thể nhớ theo bài ca truyền miệng:

Giáp, kỷ lấy bính làm đầu,

Ất, canh lấy mậu để làm tháng giêng.

Bính, tân tìm đến canh dần,

Đinh, nhâm phải lấy nhâm dần trở đi.

Còn mậu và quý thì tháng giêng là giáp dần. Nhìn bảng dưới sẽ thấy: các năm giáp và kỷ, ất và canh... cách lấy can tháng đầu năm giống nhau, và đó là quy luật thiên can lục hợp.

ThángNăm giáp, kỷNăm ất, canhNăm bính, tânNăm đinh, nhâmNăm mậu, quý
Tháng giêngBính dầnMậu dầnCanh dầnNhâm dầnGiáp dần
Tháng 2Đinh mãoKỷ mãoTân mãoQuý mãoẤt mão
Tháng 3Mậu thìnCanh thìnNhâm thìnGiáp thìnBính thìn
Tháng 4Kỷ tỵTân tỵQuý tỵẤt tỵĐinh tỵ
Tháng 5Canh ngọNhâm ngọGiáp ngọBính ngọMậu ngọ
Tháng 6Tân mùiQuý mùiẤt mùiĐinh mùiKỷ mùi
Tháng 7Nhâm thânGiáp thânBính thânMậu thânCanh thân
Tháng 8Quý dậuẤt dậuĐinh dậuKỷ dậuTân dậu
Tháng 9Giáp tuấtBính tuấtMậu tuấtCanh tuấtNhâm tuất
Tháng 10Ất hợiĐinh hợiKỷ hợiTân hợiQuý hợi
Tháng 11Bính týMậu týCanh týNhâm týGiáp tý
Tháng 12Đinh sửuKỷ sửuTân sửuQuý sửuẤt sửu

Khi cần tìm can chi tháng của một năm nào đó trên bàn tay, thuộc bài ca trên thì rất dễ. Ví dụ muốn biết can chi tháng ba âm lịch của năm tân mùi, tức 1991. Mười hai địa chi đã được cố định trên bàn tay nên chỉ cần tìm can tháng rồi ghép với chi là xong. Theo câu "Bính, tân tìm đến canh dần", can năm là tân, tháng giêng là canh dần, ở đốt thứ nhất của ngón trỏ. Giơ bàn tay trái, đặt đầu ngón cái vào ngôi dần đọc là canh, đếm thuận sang mão tháng hai đọc là tân, sang thìn tháng ba đọc là nhâm. Vậy tháng ba năm ấy là nhâm thìn.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc