Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bói Dịch

Bài tổng quan

Giáp cốt, tứ tượng và cuộc tranh cãi về bát quái

Bói Dịch26/09/202613 phút đọc3 lượt đọc
Giáp cốt, tứ tượng và cuộc tranh cãi về bát quái

Không một mảnh giáp cốt đời Thương nào khắc hình bát quái, vậy tám quẻ ấy phải hình thành từ đâu? Nguyễn Hiến Lê dựng lại từng bước: từ hai vạch âm dương chồng thành bốn tượng, bốn tượng chồng thành tám quẻ, rồi chính tám quẻ ấy lại được người đời sau xếp thành hai vòng tròn khác hẳn nhau, mỗi vòng mang một cái tên, một cách lý giải riêng. Đến cả tác giả cũng phải thú thực là...


Ý kiến một số học giả ngày nay

Thuyết Phục Hi phỏng theo Hà Đồ, Lạc Thư mà vạch bát quái nhất định là không thể tin được, mà thuyết ông xem xét các hình tượng trên trời, các phép tắc dưới đất, các văn vẻ của chim muông thì cũng rất khó chấp nhận.

Từ đầu thế kỉ đến nay, người ta đã đào được ở An Dương (tỉnh Hà Nam ngày nay) hằng vạn hằng ức giáp cốt (mai, yếm rùa và xương vai, xương chậu của trâu, bò, ngựa...) đời Thương (1766-1401 trước Tây lịch), trên thấy khắc nhiều quẻ bói. Một quẻ trích trong cuốn East Asia – The Great Tradition (Modern Asia Éditions, Tokyo, 1962) mang ý nghĩa: ngày Tân Mão hỏi quỷ thần – ngày hôm nay, ngày Tân, cũng mưa hay không mưa? Chữ thời nay còn phảng phất như chữ khắc trên giáp cốt ấy.

Nhưng trên những giáp cốt đó và cả trên những đồ đồng đời Thương, tuyệt nhiên không thấy hình bát quái. Sự thực là từ đời Thương về trước chưa có bát quái. Người đời Thương chỉ mới biết lối bói bằng yếm rùa gọi là bốc: người ta lấy yếm chứ không phải mai con rùa (vì yếm mềm hơn, dễ nứt hơn mai), dùng mũi nhọn đâm vào những chỗ lõm, rồi hơ trên lửa cho những chỗ lõm đó nứt ra, rồi tùy vết nứt có hình ra sao mà đoán quẻ tốt hay xấu.

Cuối đời Ân hay qua đời Chu, người ta mới tìm được cách bói bằng cỏ thi (tiếng khoa học gọi là Achillea sibirica), một thứ cây nhỏ cao khoảng một thước như cây cúc, có hoa trắng hoặc hồng nhạt. Cách bói đó gọi là phệ, dùng bát quái mà đoán, giản dị hơn cách bói bằng yếm rùa, vì hình nét nứt trên yếm rùa không có hạn lại khó biện giải, còn những quẻ và hào trong phép bói bằng cỏ thi đã có hạn, lại dưới mỗi quẻ, mỗi hào có lời đoán sẵn, nhất định; khi bói gặp quẻ nào, hào nào, cứ theo lời đoán sẵn đó mà suy luận, công việc dễ dàng hơn nhiều. Vì vậy mà phép bói đó mới đầu gọi là dị: dễ dàng – chữ dị này với chữ dịch (biến dịch) là một. Về sau, không biết từ thời nào mới gọi là dịch.

Theo thuyết của Dư Vĩnh Lương trong tập san Nghiên cứu Lịch sử ngôn ngữ của Trung ương Nghiên cứu viện (Phùng Hữu Lan dẫn trong Trung Quốc Triết học sử, chương 15), thì bát quái chỉ có thể xuất hiện trong đời Ân, từ cuối đời Thương đến đầu đời Chu, và bát quái tạo ra chỉ để bói.

Lại còn một thuyết mới nữa của Trần Thực Am trong tập Tiểu học thức tự giáo bản, do Nghiêm Linh Phong dẫn trong tập Dịch học tân luận (Chính trung thư cục ấn hành, Đài Bắc, 1971). Trần Thực Am cho rằng bát quái chỉ là những con số thời xưa Trung Hoa chưa dùng thập tiến pháp (numération décimale), chưa đếm đến mười, chỉ có 7 số thôi, tức chỉ dùng thất tiến pháp. Số 7 ngược lại với số 1, và địa vị của nó như địa vị số 10 trong thập tiến pháp; còn quẻ Khôn ngược lại với quẻ Càn là số 2, là số mấy thì tác giả không dám chắc.

Họ Trần còn bảo vì dùng thất tiến pháp cho nên thời đó gọi bảy ngày là một tuần, cúng người mới chết thì 7 tuần tức 49 ngày gọi là mãn thất; từ đời Ân, đời Chu trở đi mới dùng thập tiến pháp, và truy niệm người chết khi được 10 tuần (mỗi tuần 10 ngày) tức 100 ngày. Đời sau, người Trung Hoa truy niệm theo cả hai cách đó.

Thuyết này mới quá, ngược lại với thuyết trên – vì nếu vậy thì bát quái phải có từ đời Thương trở về trước, sao không thấy trên các giáp cốt? Vả lại nếu hình trên giáp cốt đúng là ở đời Thương thì đời đó người Trung Hoa đã biết kết hợp thập can (giáp, ất, bính, đinh... quý) với thập nhị chi (tí, sửu, dần, mão... hợi) để chỉ ngày, tháng, năm; lẽ nào lại không biết thập tiến pháp? Vì những lẽ đó mà Nguyễn Hiến Lê chưa dám tin Trần Thực Am.

Từ lưỡng nghi đến tứ tượng, rồi thành bát quái

Tóm lại, bát quái do ai tạo ra, từ thời nào, tới nay vẫn còn là một bí mật, sau này cũng không chắc gì tìm ra được manh mối.

Bây giờ chúng ta cứ hãy tạm cho rằng nó có trước đời Văn Vương nhà Chu (thế kỉ XII trước Tây lịch) và do một hay nhiều bộ óc siêu quần vô danh nào đó dùng hai vạch liền và đứt chồng lên nhau, thay đổi lẫn nhau mà tạo nên.

Mới đầu chỉ có lưỡng nghi là dương (vạch liền) và âm (vạch đứt). Lấy dương chồng lên dương rồi lấy âm chồng lên dương, được hai hình tượng; bên kia cũng vậy, lấy âm chồng lên âm rồi lấy dương chồng lên âm, được hai hình tượng nữa. Như vậy được bốn hình tượng, gọi là tứ tượng: thái dương, thiếu dương, thái âm, thiếu âm.

Tứ tượng tượng trưng cho nhật, nguyệt, tinh, thần – mặt trời, mặt trăng, định tinh và hành tinh (thời xưa người ta chưa biết mặt trăng là một vệ tinh của trái đất) – nhưng vì chỉ chú trọng đến phần triết học của bát quái nên không cần xét sâu về phần thiên văn học này.

Sau cùng, lấy dương lần lượt chồng lên cả bốn hình trên theo thứ tự, rồi lấy âm lần lượt chồng lên cũng cả bốn hình đó, được tám hình gọi là bát quái, tám quẻ. Mỗi quẻ có ba vạch gọi là ba hào, xuất hiện lần lượt từ dưới lên; cho nên khi gọi tên cũng như khi đoán quẻ, phải đếm, xét từ dưới lên: hào dưới cùng là hào 1, rồi lên hào 2, hào 3.

Tám hình ấy, cùng ý nghĩa của chúng, như sau:

☰ Càn (hay kiền) vi thiên: là trời, có đức cứng mạnh, là đàn ông.
☷ Khôn vi địa: là đất, có đức nhu thuận, là đàn bà.
☲ Li vi hỏa: là lửa, sáng.
☵ Khảm vi thủy: là nước, hiểm trở.
☶ Cấn vi sơn: là núi, an tĩnh.
☱ Đoài (hay đoái) vi trạch: là chằm (đầm), vui vẻ.
☴ Tốn vi phong: là gió, vào.
☳ Chấn vi lôi: là sấm, động.

Tám quẻ còn nhiều ý nghĩa nữa, như ý nghĩa về các người trong nhà, về phương hướng, màu sắc, loài vật, nhưng biết bấy nhiêu đó cũng tạm đủ.

Điều cần nhất là phải thuộc rõ tám hình trên: hễ trông thấy hình nào thì phải gọi ngay được tên của nó, chẳng hạn thấy ☴ thì gọi ngay "tốn vi phong"; ngược lại, hễ nghe nói quẻ tốn, hay chỉ nghe nói phong, là phải vẽ ngay được hình đó.

Ngày xưa, nhà Nho dùng một thuật để nhớ, là học thuộc lòng tám câu:

Càn tam liên (ba vạch liền) – Khôn lục đoạn (sáu vạch đứt) – Chấn ngưỡng vu (bát để ngửa) – Cấn phúc uyển (chén để úp) – Khảm trung mãn (đầy ở trong) – Li trung hư (rỗng ở trong) – Đoài thượng khuyết (hở trên) – Tốn hạ đoạn (đứt dưới).

Những ai không biết chữ Hán có thể nhớ theo cách khác: trước hết bỏ quẻ Càn và quẻ Khôn đi vì ai cũng nhớ ngay rồi, còn lại sáu quẻ thì ba quẻ có một hào âm (Li, Đoài, Tốn), ba quẻ còn lại (Khảm, Cấn, Chấn) đều có một hào dương. Chỉ cần nhớ vị trí vạch đứt trong ba quẻ có một hào âm: quẻ Li là lửa thì vạch đứt ở giữa, như hình miệng lò; quẻ Đoài là chằm thì vạch đứt ở trên cùng, như chỗ trũng trên mặt đất; quẻ Tốn là gió thì vạch đứt phải ở dưới cùng – vì không thể ở trên như quẻ Đoài, cũng không thể ở giữa như quẻ Li – vạch đứt, âm đó tượng trưng sự mềm mại, dịu dàng của gió.

Nhớ như vậy rồi thì vẽ được ba quẻ đó, vì hai hào kia của mỗi quẻ đều là vạch liền (dương). Vẽ được ba quẻ đó rồi thì vẽ được ba quẻ trái với chúng, cả về ý nghĩa lẫn về các vạch: Khảm (nước) trái với Li (lửa) thì gồm một vạch liền ở giữa, còn hai vạch kia đứt; Cấn (núi) trái với Đoài (chằm) – núi thì nổi lên trên mặt đất, chằm thì trũng xuống – nên vạch liền ở trên cùng; Chấn (sấm) trái với Tốn (gió) – sấm động mạnh, gió thổi nhẹ – nên vạch liền ở dưới cùng.

Tiên thiên và hậu thiên bát quái

Tương truyền là tám quẻ mới đầu Phục Hi sắp theo vòng tròn như trong hình I bên trái, rồi sau Văn Vương sắp lại theo hình II.

Hình I: Tiên thiên bát quái
Hình I: Tiên thiên bát quái (nhìn từ trong ra).

Thuyết đó chưa tin được: không có gì chứng rằng bát quái trước thời Văn Vương có phải sắp như hình I không, mà trong phần kinh của Chu Dịch cũng không có chỗ nào nói tới việc Văn Vương sắp lại bát quái.

Chỉ trong phần truyện (Thuyết quái truyện, chương III – kinh viết đầu đời Chu, truyện viết đời Chiến Quốc) chúng ta thấy câu này:

"Trời và đất vị trí định rồi, cái khí lực của núi và chằm thông với nhau, sấm gió nổi lên với nhau, nước và lửa chẳng diệt nhau, tám quẻ cùng giao với nhau" (Thiên địa định vị, sơn trạch thông khí, lôi phong tương bạc, thủy hỏa bất tương xạ, bát quái tương thác).

Trong đoạn đó tác giả sắp bát quái thành từng cặp trái nhau như trong hình I: càn với khôn, cấn với đoái, chấn với tốn, li với khảm. Chúng ta nhận thấy thêm rằng hai cặp Càn – Khôn, Li – Khảm, quẻ nào lật ngược lên cũng không thay đổi; còn hai cặp Cấn – Đoái, Tốn – Chấn thì khác hẳn: quẻ Cấn lật ngược thành quẻ Chấn, quẻ Tốn lật ngược thành quẻ Đoái.

Nhưng trong chương V cũng Thuyết quái truyện lại có câu "đế xuất hồ chấn": vị chủ tể trên trời xuất hiện ở phương chấn, thì lại hợp với hình II, vì hình này đặt chấn ở phương đông (phương mặt trời mọc), còn hình I đặt chấn ở đông bắc (nên nhớ trên các bản đồ thời cổ của Trung Hoa, bốn phương đặt ngược với bản đồ ngày nay: họ đặt bắc ở dưới, nam ở trên, đông ở bên trái, tây ở bên mặt).

Hình II: Hậu thiên bát quái
Hình II: Hậu thiên bát quái (nhìn từ trong ra).

Hình I gọi là tiên thiên bát quái, hình II gọi là hậu thiên bát quái. Hai tên đó không có trong Kinh Dịch, hiển nhiên là do người đời sau, hoặc đời Hán, hoặc Thiệu Khang Tiết đặt ra.

Tiên thiên bát quái có nghĩa là bát quái tượng trưng vũ trụ (thiên) hồi đầu, hậu thiên bát quái tượng trưng vũ trụ hồi sau. Hồi đầu là hồi nào? Hồi sau là hồi nào? Không ai biết chắc. Có người giảng hồi đầu là hồi vũ trụ còn vô hình, hồi sau là hồi vũ trụ đã thành hình – vô lí: khi vũ trụ còn vô hình thì sao đã có núi, có chằm?

Có người lại giảng tiên thiên bát quái là những hiện tượng xảy ra trên các thiên thể (nghĩa là khi vũ trụ đã thành hình), còn hậu thiên là những hiện tượng ở trên mặt đất (Bửu Cầm, Tìm hiểu Kinh Dịch, Sài Gòn, 1957). Vậy là trên các thiên thể cũng có trời, có đất, có núi, có chằm... như trên trái đất?

Có người đem thiên văn học phương Tây mà giảng tiên thiên bát quái, chẳng hạn bảo Càn gồm ba hào dương, toàn là dương khí, sáng rực rỡ, chính là một vì sao, một định tinh; Khôn có ba hào âm, toàn khí âm, đen lạnh, "có thể ví các sao đen tối của nhà thiên văn học Emile Belot" (Bùi Thị Bích Trâm, Thiên Văn, Huế, 1942, do Nguyễn Duy Cần dẫn trong Dịch học tinh hoa, Sài Gòn, 1973).

Từ khi một số học giả đời Hán dùng Kinh Dịch để giảng về thiên văn, về nguồn gốc vũ trụ, nhất là từ khi có hai hình tiên thiên và hậu thiên bát quái, chắc đã có nhiều người căn cứ vào hai hình ấy, rồi vào hai hình Hà Đồ, Lạc Thư mà lập ra những thuyết mới; sau này khoa thiên văn phương Tây có một phát kiến nào mới thì tất sẽ có người giảng lại tiên thiên và hậu thiên bát quái cho hợp với những phát kiến mới. Chỉ có tám hình, hai mươi bốn vạch liền và đứt, nên rất dễ gợi sự tưởng tượng của con người.

So sánh hai hình I và II, vị trí các quẻ thay đổi hết: hình I, Càn ở Nam, Khôn ở Bắc, Li ở Đông, Khảm ở Tây; hình II, Càn ở Tây Bắc, Khôn ở Tây Nam, Li ở Nam, Khảm ở Bắc.

Nếu quả là do Văn Vương sắp lại bát quái thì tại sao ông lại thay đổi như vậy? Ông để Li ở phương Nam, có lí; Khảm ở phương Bắc, kể như cũng có lí, vì Khảm trái với Li, nước trái với lửa, Bắc đối với Nam. Nhưng tại sao ông lại không cho Càn đối với Khôn như trong hình I, mà cho nó đối với Tốn? Và cho Khôn đối với Cấn? Nguyễn Hiến Lê thú thực không hiểu nổi. Kinh Dịch không giảng gì cho ta về những điểm đó cả; trong Kinh Dịch còn rất nhiều điều khó hiểu nữa, chúng ta đành phải chấp nhận thôi.

Có người – ông Lê Chí Thiệp, trong Kinh Dịch nguyên thủy (Sài Gòn, 1973), chương III – còn dùng khí hậu, đất đai, đời sống của dân tộc Việt Thường (có thể là dân tộc mình về đời Hùng Vương) để chứng minh rằng tiên thiên bát quái xuất phát từ đất Việt Thường, do dân tộc Việt Thường sáng tác và phổ biến.

Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Chương I.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bói Dịch