Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Nuôi vật, phóng sinh, dùng thuốc: dưỡng sinh để vượt cửa ải

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202615 phút đọc3 lượt đọc
Nuôi vật, phóng sinh, dùng thuốc: dưỡng sinh để vượt cửa ải

Một con chó khỏe nuôi trong nhà, một con rùa thả về đúng phương hợp, một thang thuốc uống đúng lúc: ba việc nhỏ ấy, theo người xưa, có khi gánh được cả một năm hạn. Có người nuôi chó, chó chết giữa tháng mười mà chủ khỏe mạnh suốt năm; có người xoay giường, nuôi mèo, mèo chết trước rồi chủ ngã gãy tay mà bình an qua ải. Vì sao một cái chết nhỏ lại đổi được một đại nạn...


Một con chó khỏe nuôi trong nhà, một con rùa thả về đúng phương hợp, một thang thuốc uống đúng lúc: ba việc nhỏ ấy, theo người xưa, có khi gánh được cả một năm hạn. Có người nuôi chó, chó chết giữa tháng mười mà chủ khỏe mạnh suốt năm; có người xoay giường, nuôi mèo, mèo chết trước rồi chủ ngã gãy tay mà bình an qua ải. Vì sao một cái chết nhỏ lại đổi được một đại nạn...

Vật nuôi và khí trường của người chủ

Muôn vật trên đời cảm ứng lẫn nhau, nhất là giữa người với người, giữa người với loài vật. Hai người sống chung lâu, nhất là vợ chồng hòa thuận, thì tính tình và tướng mạo có nhiều điểm giống nhau. Con nuôi qua một thời gian dài cũng có nhiều nét giống cha mẹ nuôi. Gia súc, nhất là chó nuôi lâu, tính tình và tình trạng sức khỏe đều giống chủ; vì thế tục ngữ mới nói vật nuôi giống chủ. Nguyên nhân là giữa người với người thân, giữa chủ với gia súc có mối liên hệ sâu bên trong: khoảng cách càng gần, tiếp xúc càng nhiều thì sự cảm ứng càng mạnh.

Khi người chủ may mắn, thuận lợi thì khí trường phát ra tốt, người thân khí sắc cũng tốt, súc vật trong nhà cũng hưng vượng. Khi chủ gặp tai họa, khí trường phát ra u ám, người thân và súc vật trong nhà hấp thu phải chịu tổn thương nhất định. Nếu người thân hay vật nuôi không chịu nổi thứ khí u ám ấy thì khí sắc xấu đi, thậm chí ốm đau hoặc chết. Đó là một trong những nguyên nhân khiến người chủ đáng lẽ gặp họa mà vẫn qua được; ngược lại, người thân hay gia súc gặp họa mà chết thì cũng làm chủ thất sắc, kém tài.

Còn nếu sức khỏe người thân hay vật nuôi trong nhà rất tốt, thì không những chống nổi khí u ám của chủ, mà còn phát ra một khí trường tác động ngược lại, điều chỉnh âm dương ngũ hành của chủ đang suy hay vượng quá. Đó là nguyên lý nuôi vật trong nhà để hóa giải tai ách cho chủ. Nguyên lý phóng sinh cũng vậy, đều là những khí trường thông tin mạnh mẽ. Phóng sinh vật nuôi theo phương hỉ thần của chủ, để chúng phát ra khí trường phản hồi, mới có tác dụng hóa giải thật sự; phương phóng sinh sai thì có thể rước rủi.

Phóng sinh: chọn con vật, chọn ngày, chọn phương

Phóng sinh tốt nhất là dùng rùa hoặc ba ba, vì những con vật này không chỉ linh tính nhạy cảm mà sức sống cũng dồi dào. Nên viết tên người chủ lên con vật, chọn ngày tốt, đốt hương, rồi mới phóng sinh; làm vậy chắc chắn bảo đảm được khỏe mạnh. Sau khi phóng sinh không biết con vật đi đâu, nên không biết kết quả. Nhưng từ thực tế nuôi giữ thì thấy vào những tháng chủ nhân bất lợi, vật nuôi thường chết nhiều; từ đó suy ra vật phóng sinh cũng có thể chết, cho nên cần mau chóng nuôi đợt khác để tiếp tục phóng sinh. Không ai mong con vật chết thay cho mình, nhưng muôn vật vốn có tình: bạn cứu nó, nó đền đáp bạn. Hơn nữa chỉ có như thế mới khiến tấm lòng lương thiện, chính trực, chân thành và việc làm bác ái của con người thấu đến trời đất, thần linh, giúp con người vượt qua trở ngại.

Một người đàn ông có lá số Ất hợi, Đinh hợi, Ất mùi, Bính tý, đại vận Tân tị, năm Ất hợi gặp ba hợi xung một tị, vốn là cảnh đại hung. Mệnh này thủy nhiều nên là hàn cục, chọn hỏa hoặc thổ làm dụng thần. Phương Khôn của nhà có một ngôi miếu hương khói nhiều, nên người này hằng ngày đến đó thắp hương; đồng thời nuôi một con chó và một con rùa để phóng sinh. Rùa được thả trên núi theo phương Khôn, còn chó ở lại bảo vệ chủ. Chó lớn rất nhanh, khôn ngoan, đáng yêu; đáng tiếc đến trung tuần tháng mười chó ốm chết. Sau đó người này không nuôi, không phóng sinh nữa, chỉ sang miếu thắp hương và uống thuốc đông y, và cả năm khỏe mạnh.

Một người đàn ông khác, lá số Ất hợi, Đinh hợi, Canh dần, Canh thìn, đại vận Tân tị, lưu niên Ất hợi. Đầu mùa thu năm 1995, khi người đứng ra hóa giải đang làm việc ở nơi khác thì được gọi điện nhờ giúp thay cho người này. Tháng bảy người này mắc bệnh tim, nằm viện hơn một tháng không hiệu quả, rồi về nhà. Tháng mười là cửa ải nghiêm trọng. Phòng ở của người này hợp với phương dần, hợi nên có thể hóa giải; nhưng tháng bảy dần mộc bị xung thương tổn nên nằm liệt giường. Vì không biết mặt cũng không biết nhà, người đứng ra giúp chỉ đưa ba việc: chuyển giường sang phòng ở phương dần của ngôi nhà; mỗi ngày ra sân hướng mặt về phương dần, dâng hương và khấn đọc tên mình, đến khi thấy dễ chịu mới dâng hương; và nuôi một con mèo ngay bên cạnh. Cuối tháng chín bệnh nhân khỏe dần, làm được việc vặt trong nhà, thấy không còn gì đáng ngại. Không ngờ trung tuần tháng mười, trong cùng một ngày, mèo chết trước, tiếp đó chủ nhân ngã gãy tay phải. Người này đã vượt qua cửa ải như vậy, đến nay sức khỏe tốt.

Một người phụ nữ có lá số Bính ngọ, Giáp ngọ, Bính ngọ, Tân mão, đại vận Tân mão, lưu niên Bính tý. Ngày dâng hương được chọn là giờ sửu, ngày 16 tháng giêng năm 1996, tức năm Bính tý, tháng Canh dần, ngày Tân sửu, giờ Kỷ sửu. Chỗ dâng hương là phương sửu cạnh nhà; rùa cũng được phóng sinh theo phương ấy. Khi trời sáng, rùa được mang đi theo phương sửu, cách nhà mười dặm để thả. Bà chủ vốn đã nuôi một con chó rất khỏe nên không cần dặn mua thêm. Tháng năm chó chết đột ngột, mấy hôm sau người chồng nói phải mua chó nữa; người chồng tỉnh ngộ hơn nên mua liền ba con, đến tháng mười một lại chết một con, hai con còn lại khỏe mạnh. Hiện nay gia đình rất tốt, tài vận cũng khá.

Giải hạn bằng thuốc: dưỡng sinh để vượt cửa ải

Cơ thể là nơi tai ách đi qua, nên mọi cách hóa giải rốt cuộc đều phải đi vào cơ thể.

Từ xa xưa người Trung Hoa đã coi trọng dùng thuốc để dưỡng sinh. Trong bộ dược điển cổ nhất là Thần Nông bản thảo, nhiều bài thuốc được ghi là uống lâu nhẹ mình, tăng tuổi thọ, uống lâu trẻ mãi không già. Con người gặp nhiều dạng tai ách, trong đó tử vong là nhiều nhất. Các nhà mệnh học đều biết đến sáu mươi tuổi con người thường gặp nhiều cửa ải, nên ngày xưa sáu mươi đã được coi là thọ. Dùng thuốc có thể vượt cửa ải, tăng tuổi thọ. Bậc thánh dược Tôn Tư Mạc từng viết trong Thiên kim dược phương rằng mình thường uống vài thang thì người khỏe hẳn; điều đó cho thấy ông có thể nghiệm sâu về mặt này. Xưa nay các bậc danh y thường thọ cao, chứng tỏ dùng thuốc giúp vượt tai ách.

Bệnh tật là dạng tai họa thường gặp nhất, và thuốc có thể phòng bệnh. Có quan niệm phổ biến cho rằng năm gặp tai nạn, không bệnh thì cũng rủi, bệnh chỉ là một mặt phản ánh của tai họa. Quan niệm ấy đúng hay không, hãy xem điều được ghi trong Linh lan mật điển luận: tâm là cơ quan chủ tể, chủ về thần minh; phế là cơ quan liên thông; can là tướng quân, chủ về đảm lược; mật là quan trung chính, chủ về quyết đoán; tam tiêu là sứ thần, chủ về mừng giận; tì vị là quan kho tàng; đại trường là quan tải dẫn, đào thải; tiểu trường là quan thu nạp, chuyển hóa; thận chủ về sức sống, khéo léo; tam tiêu điều hòa, thanh lọc; bàng quang chứa nước thải, chứa tân dịch, thải nước thừa. Mười hai cơ quan ấy không thể thiếu một cơ quan nào; minh mẫn thì yên ổn, dưỡng sinh theo hướng ấy sẽ trường thọ, còn không minh mẫn là do có bộ phận bị tắc trở.

Ai nói y học cổ chỉ bàn về bệnh? Người khí tâm hỏa bất túc thì thần trí mơ màng, hành động hồ đồ. Người mộc khí của gan mật thông suốt thì anh dũng, quả cảm, giàu mưu lược. Người khí kim của phế đầy đủ thì mạnh mẽ, uy nghi, coi trọng danh dự. Người thận tinh dồi dào thì chí cao, nhìn rộng, khéo léo tinh thông. Người thổ khí của vùng giữa bụng yếu kém thì nói năng yếu ớt, tính trầm, hướng nội. Đó là những tố chất tinh thần do lục phủ ngũ tạng quyết định, là nguồn gốc phát sinh hành vi thiện ác, cát hung.

Mệnh vận của tứ trụ chỉ phát sinh sau khi cơ thể thai nhi đã hình thành. Thai nhi trong bụng mẹ đã chứa sẵn âm dương ngũ hành, và cát hung họa phúc giáng xuống con người cũng do hình hài cơ thể khác nhau mà có. Nếu âm dương ngũ hành của thai nhi bẩm sinh thiên khô, thì dù vận mệnh tứ trụ tốt đến đâu cũng khó tránh chết yếu. Mệnh vận tứ trụ là lần tiếp nhận âm dương ngũ hành thứ hai của thai nhi. Mọi ảnh hưởng của phần mộ, nhà ở, gen di truyền, dinh dưỡng cho thai nhi trong bụng mẹ, vận mệnh tứ trụ đều thể hiện qua hoạt động của các cơ quan trong cơ thể. Không có cơ thể thì cũng không có mệnh vận; cho nên cơ thể là yếu tố hàng đầu, mệnh vận đứng thứ hai, tức bệnh quyết định tai ách chứ không phải mệnh quyết định bệnh. Không hiểu rõ điều này sẽ lẫn lộn giữa bệnh và mệnh.

Trước khi gặp tai họa, người ta thường có điềm báo. Khi khí sắc u ám hoặc khác thường, đó là biểu hiện bước đầu của chức năng cơ thể bị rối loạn. Nếu không kịp điều dưỡng, phát triển thêm một bước sẽ thành bệnh, hoặc khi khí trường bên ngoài tác động vào thì phát sinh thứ mà mệnh học gọi là tai ách. Dù dùng cách hóa giải nào cũng phải đi qua cơ thể; vì thế muốn đề phòng tai họa, trước hết phải phòng bệnh. Lão Tử nói: tôi sở dĩ có họa lớn là vì tôi có thân, nếu không có thân thì còn họa gì. Thật là câu nói chí lý. Hoàng đế nội kinh viết con người hấp thu ngũ khí của trời, hấp thu ngũ vị của đất; cơ thể nhận âm dương ngũ hành chủ yếu qua hơi thở và ăn uống. Ngũ khí vào mũi, tồn ở tâm và phế, khiến ngũ sắc sáng sủa, giọng nói vang xa; ngũ vị vào miệng, tồn ở ruột, nuôi dưỡng ngũ khí; khí bình hòa thì sống, sinh tân dịch, tinh thần. Cho nên phải làm cho khí và vị hòa hợp để tăng bổ cái chính, trừ cái tà.

Bệnh vào ngũ tạng theo đường ăn uống hằng ngày. Thức ăn nào cũng hàm chứa âm dương ngũ hành; một chất được gọi là thuốc vì tính âm dương ngũ hành của chất ấy mạnh hay yếu hơn các chất thường. Con người hấp thu âm dương ngũ hành vốn có trong chất ấy để điều chỉnh sự vượng suy trong cơ thể; vì vậy thuốc có khả năng hóa giải tai nạn. Chất nào dù phức tạp đến đâu cũng nằm trong phạm vi âm dương ngũ hành; chỉ cần ăn uống đúng chất cần thiết là có thể bù chỗ thiếu hoặc giúp đào thải điều có hại. Người chỉ biết dùng thuốc chữa bệnh là đã đánh giá thấp giá trị của thuốc. Theo thực tiễn lâu dài, người xưa rút ra kết luận: dùng thuốc giải hạn mới là người tinh thông y dịch.

Thuốc là hợp chất của âm dương ngũ hành; dùng thuốc giải hạn không những hiệu quả mà còn ưu việt hơn các cách khác, vì có thể tùy cơ ứng biến, vận dụng linh hoạt. Nếu chỉ dựa vào phương vị để hóa giải thì mới có lợi cho hành động mà chưa bảo đảm an toàn, làm sao so với sự toàn diện của thuốc. Muốn dùng thuốc chính xác phải nắm vững y lý, dược lý và hòa hợp với mệnh lý, điều ấy thêm gánh nặng cho người đi hóa giải. Vì vậy người xưa nói: thánh nhân thuở trước, nếu không sống trong triều đình thì cũng sống trong ngành y.

Hai ca dùng thuốc giải hạn

Một người đàn ông có lá số Ất hợi, Đinh hợi, Ất mùi, Bính tý, các đại vận lần lượt Bính tuất (2 tuổi), Ất dậu (12), Giáp thân (22), Quý mùi (32), Nhâm ngọ (42), Tân tị (52). Mệnh này thủy nhiều, mộc trôi nổi; hai đại vận Ất dậu và Giáp thân có địa chi cắt chân mộc. Mộc thuộc gan, gan mất nuôi dưỡng thì khí thừa làm hại dạ dày; dạ dày thuộc thổ bị hư, con hư thì cầu cứu mẹ mà mẹ vốn bị khắc, nên hình hài yếu mòn, khó tránh đau dạ dày. Vận Quý mùi có hỏa có thổ nên khử được bệnh tim. Năm 1983 can chi đều là thủy nên bệnh dạ dày càng nặng. Người đứng ra giúp cho đơn thuốc Tiểu kiện trung thang có gia giảm, để điều bổ tâm tì, bình kiện can khí; uống hơn ba mươi thang thì yên ổn.

Có người cho rằng bệnh quyết định mệnh, năm vận không tốt thì chữa bệnh cũng khó. Nhưng nếu đúng vậy thì còn cần thầy thuốc làm gì. Vấn đề là gặp năm vận không tốt chỉ khó chữa hơn mà thôi; then chốt là có kết hợp tốt giữa thời cơ của bệnh và của mệnh hay không. Sau khi chữa khỏi, gặp năm hay vận không tốt thì nên điều dưỡng cẩn thận hơn. Năm 1984 vốn không thuận, nhưng nhờ điều dưỡng tốt nên sức khỏe vẫn bình thường; điều đó cho thấy công lực kéo dài của thuốc, vô hình trung đã đổi được mệnh vận.

Trong tứ trụ, một hành nào đó quá vượng không có nghĩa tạng phủ ấy vượng, mà phần nhiều chỉ là thực chứng của tạng phủ đó. Bản mệnh thủy vượng không phải dương thăng âm hóa, mà chủ về thận âm bất túc, nên không được lạm dụng thuốc ôn táo để bổ tâm, nhất là với con người hiện đại luôn mong lợi tâm, âm hư hỏa vượng, phải tùy cơ mà ứng biến. Người ta hay lấy vị bá tử nhân, tính bình, để an thần, liễm tâm khí, vì hạt của cây cỏ đều có thể dưỡng tâm. Sinh địa bổ thận âm, cam thảo bổ tì vị; tì là con đường để tâm kinh giao lưu với tâm thần, nên cam thảo không những thúc đẩy sự giao lưu ấy mà còn chế hỏa vượng, đồng thời làm dịu dược tính của bá tử nhân và sinh địa. Hợp các vị ấy trong một thang, các vị đồng tính cảm ứng lẫn nhau, thủy hỏa tương xung biến thành thủy hỏa tương tế, âm dương điều hòa, hiệu quả rất nhanh. Năm 1995 người này thủy hỏa tương xung, nên phải nhờ các vị trên để hóa giải.

Một người đàn ông khác có lá số Mậu tuất, Kỷ mùi, Đinh tị, Tân sửu, các đại vận Canh thân (1 tuổi), Tân dậu (11), Nhâm tuất (21), Quý hợi (31). Mệnh này thổ nhiều mà táo, nên lấy mộc để khơi thông, dùng thủy để tư nhuận; nhưng thân nhược lại đóng kình dương nên rất sợ bị xung. Nguyên cục vừa có hình khắc vừa có kình dương; ở vận Quý hợi, hai năm 1988, 1989 không những phá tài mà còn gặp nạn kiện tụng, phạm pháp. Năm 1995 kình dương bị xung hai lần, nên chủ mệnh không bị thương thì cũng gặp nạn khác. Người này vốn đã tìm cách hóa giải nhưng không chịu uống thuốc nên càng nguy hiểm. Về sau dùng các vị viễn chí, xương bồ để chữa tâm kinh, dưỡng tâm âm, bổ tâm khí, kết quả rất kỳ diệu; nếu không có thuốc để cổ vũ chính khí thì e khó qua khỏi cửa ải lục hợp.

Người xưa còn kể ra những vị thuốc thường dùng theo từng tạng để tham khảo. Thuốc chủ về tâm có bá tử nhân, viễn chí, xương bồ, phục linh, hợp hoan bì, tùng tử, liên tử, quế tâm, hoàng liên, chu sa (kiêng sao, không uống lâu). Thuốc chủ về can có toan táo nhân, sơn thù nhục, ngũ vị tử, đương quy, xuyên khung, bạch truật, kỷ tử, tang thầm, cam chanh, miên nhân trần, long đởm thảo, sài hồ, cúc hoa. Thuốc chủ về phế có sa sâm, bách hợp, thiên đông, mạch đông, tang diệp. Thuốc chủ về thận có sinh địa, thục địa, tục đoạn, đỗ trọng, thỏ ty tử, tử hà xa, bổ cốt chỉ. Thuốc chủ về tì có đảng sâm, cam thảo, bạch truật, đại táo, mật ong, đường mía, sơn dược.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc