Bài tổng quan
Khảm, Ly, Cấn, Đoài mang những hình ảnh nào trong đời sống
Nước chảy xuống chỗ trũng, lửa bốc lên chỗ cao, núi đứng yên một chỗ, đầm mở miệng đón mọi thứ. Bốn hình ảnh quen thuộc ấy là bốn quẻ Khảm, Ly, Cấn, Đoài, và mỗi quẻ lại gợi ra cả một kiểu người, một nhóm bệnh, một hướng đi. Điều khiến chúng nói được nhiều như vậy nằm ở…
Nước chảy xuống chỗ trũng, lửa bốc lên chỗ cao, núi đứng yên một chỗ, đầm mở miệng đón mọi thứ. Bốn hình ảnh quen thuộc ấy chính là bốn quẻ còn lại trong tám quẻ đơn. Chúng không chỉ là thiên nhiên, mà còn là cách người xưa đọc con người, cơ thể, đồ vật và nơi chốn quanh mình.
Khảm: nước, hiểm trở và những điều ẩn bên trong
Một dương nằm lọt giữa hai âm, như dòng nước mạnh chảy bên dưới lớp mặt phẳng lặng.
Khảm mang số sáu, thuộc thủy, đứng ở phương Bắc, màu đen. Hình quẻ có hào dương ở giữa, hào âm ở trên và dưới, tức bề ngoài mềm mà bên trong cứng, và xu thế phát triển đi từ bốn phía vào trung tâm. Nước không nơi nào không chảy, không nơi nào không thấm, nên Khảm gắn với kênh rạch, sự ẩn nấp, chỗ hiểm hóc và cả nỗi lo âu bệnh tật. Nước uốn theo địa hình nên quẻ này còn gợi ra cây cung, bánh xe, những vật cong. Khảm cũng là tai và là máu, vì máu cũng là một dòng chảy.
Về ý nghĩa, Khảm là thông minh, trí tuệ, giỏi mưu kế, kiên trì bền bỉ, lấy nhu thắng cương, nhưng cũng là đa nghi, vất vả, quanh co gập ghềnh, phiêu bạt, nhiều biến động, ngầm ngấm, tai nạn, bệnh hoạn, nước mắt, đau buồn, bẫy rập, xảo quyệt, tính toán, kiện tụng, tù tội. Người mang tượng Khảm là con trai giữa, người giang hồ, thủy thủ, nhà tư tưởng, nhà phát minh, nhà toán học, nhà tâm lý học, nhân viên an ninh, người làm ngành cấp nước, người nghèo khó, kẻ mạo hiểm, người nghiện rượu, kẻ lừa đảo, người từng phạm tội, người phá sản, người đã khuất. Tính cách là ngoài mềm trong cứng, nhiều mưu kế, thích tính toán, đa dục, nham hiểm, dễ thay đổi.
Về cơ thể, Khảm là thận, bàng quang, hệ tiết niệu và sinh dục, máu, tai, xương, thắt lưng, cột sống. Bệnh thường gặp gồm bệnh thận và bàng quang, thận lạnh, tiêu chảy, bệnh về máu, hệ miễn dịch, bệnh sinh dục, đau tai, đau thắt lưng, tim, phù thũng. Trên trời, Khảm là mưa, tuyết, sương gió, trăng tròn, nửa đêm, lũ lụt. Động vật là lợn, cá, loài sống dưới nước, chuột, thú bốn chân. Vật dụng là rượu, dầu, giấm, mực, sơn, thuốc, chất độc, dụng cụ đựng rượu, dòng nước, xe cộ, cung tên, luật pháp, thiết bị lạnh, hải sản, tàu ngầm, máy tính, đĩa từ, băng ghi âm, vật màu đen, than đá, vật cong. Nơi chốn là sông, hồ, biển, suối, bùn lầy, quán bar, nhà tắm, hồ bơi, nhà máy nước, kho lạnh, thủy cung, bến xe, phòng tối, nhà tù. Thời gian lợi có can Canh Tân Nhâm Quý, chi Thân Dậu Hợi Tý; kỵ Mậu Kỷ cùng Thìn Tuất Sửu Mùi. Phương lợi là Bắc, Tây, Tây Bắc; màu lợi là đen và trắng, kỵ vàng.
Ly: lửa, ánh sáng và vẻ ngoài cứng
Hai vạch dương ôm một vạch âm ở giữa, như ngọn lửa có phần rỗng bên trong.
Ly mang số ba, thuộc hỏa, đứng ở phương Nam, màu đỏ. Ly đối lập với Khảm: một hào âm ở giữa, hai hào dương bên ngoài, tức bề ngoài cứng mà bên trong mềm, và xu thế phát triển đi từ trung tâm ra ngoài. Mọi vật có vỏ cứng thịt mềm như ba ba, cua, ốc, trai, rùa, hay bộ áo giáp của người lính đều thuộc về Ly. Lửa nóng nên có nghĩa khô hanh. Ly rỗng giữa nên người bụng to cũng mang tượng Ly. Ly là mặt trời, là chớp, và lửa thì bốc lên nên với cây cối là hình ảnh cành khô trên đỉnh.
Về ý nghĩa, Ly là sáng, tiến lên, nương tựa, lộng lẫy, đẹp, văn minh, lễ nghi, soi xét rõ ràng, nóng nảy, kích động, bài xích, khoe khoang, phủ định, phê phán, lưu truyền, tố cáo, phô bày, giả tạo, khô khan, trống rỗng. Người mang tượng Ly là con gái giữa, người đã có gia đình, quân nhân, người bụng to, người đau mắt. Tính cách là trọng lễ, ưa đẹp, thông minh hiếu học, khiêm tốn, có học thức, bên trong thường thấy trống trải, thích văn chương sách vở, nhưng cũng nóng tính và dễ bị kích động.
Về cơ thể, Ly là mắt, tim, thị giác, máu, vú, ruột non. Bệnh là bệnh mắt, bệnh tim, bỏng, nhiễm xạ, sốt, viêm, nước tiểu vàng, bệnh phụ khoa, u nang, huyết áp. Thiên tượng là trời nắng, nóng bức, mặt trời chói chang, cầu vồng, chớp. Động vật là chim trĩ, công, phượng hoàng, cá vàng, cua, ốc, rùa. Vật tượng là văn chương, nghệ thuật, tranh chữ, sách báo, bản đồ, con dấu, giấy tờ, hợp đồng, hoa, đồ đẹp, quảng cáo, điện, lửa, bếp lò, nồi hơi, đồ nướng. Nơi chốn là đất quay về hướng mặt trời, thành phố, trường học, bảo tàng, nhà hát, sở giao dịch chứng khoán, ngân hàng, nhà máy điện, nhà in, bệnh viện, nhà bếp, lò rèn, nhà máy luyện kim. Thời gian lợi có can Bính Đinh, chi Tỵ Ngọ, hoặc Giáp Ất Dần Mão; kỵ Nhâm Quý Hợi Tý. Phương lợi là Đông, Nam, Đông Nam; màu lợi là đỏ và xanh lá, kỵ đen.
Cấn: núi, sự dừng lại và những cánh cổng
Một nét dương nằm trên cùng, như đỉnh núi đội lên trên hai tầng đất rỗng.
Cấn mang số bảy, thuộc thổ, đứng ở phương Đông Bắc, màu vàng. Hình quẻ có một dương ở trên, hai âm ở dưới, biểu thị bên ngoài chắc mà bên trong rỗng, và xu thế phát triển đi xuống. Sự vật đã lên đến đỉnh thì phải cẩn thận, nếu không sẽ trượt theo chiều ngược lại, nên Cấn gợi sự dừng lại, ngăn cản và cũng là cảnh tắc nghẽn, đứng yên không tiến. Núi nằm đó nên Cấn là núi. Một nét dương trên hai nét âm dưới giống cái cửa, cái cổng, nên Cấn gắn với người gác cổng và con đường nhỏ. Ngón tay cản được vật thể, chó giữ nhà, chuột cắn phá, chim mỏ đen, đều là tượng của Cấn.
Về ý nghĩa, Cấn là cấm đoán, cản trở, đình chỉ, giữ gìn, giới hạn, đè nén, an cư, bình tĩnh, bảo thủ, cố chấp, chủ quan, độc lập, chuyển hướng, kiên trì, thật thà, chờ đợi, hậu trọng, mức tối thiểu hay tối đa. Người mang tượng Cấn là con trai út, người gác cổng, người dẫn đường. Tính cách là chất phác, phúc hậu, an tĩnh, bảo thủ, cố chấp, giữ chữ tín, trì trệ, thận trọng, đôi khi khác thường.
Về cơ thể, Cấn là mũi, lưng, mu bàn tay, ngón tay, dạ dày, lá lách, ngón chân, da, khớp gối, khớp khuỷu, chân trái. Bệnh là bệnh lá lách, dạ dày, bất ổn, đầy trướng, viêm mũi, bệnh ở tay chân, bệnh khớp, khối u, kết sỏi, bệnh tiêu hóa, khí huyết không thông. Thiên tượng là trời nhiều mây không mưa, gió núi, sương mù, tiết trời chuyển tiếp. Động vật là chó, chuột, sói, gấu, các loài có mỏ như chim khách, loài giáp xác. Vật tượng là đá, nham thạch, ghế, giường, tủ lớn, bia đá, vỏ trái cây cứng, hũ đất, đồ gốm sứ, cái ô, giấy, kho báu, bình phong, tường. Nơi chốn là núi, gò đất, đồi, đường núi, đường nhỏ, vùng mộ, mỏ đá, chùa, phòng cất giữ, tháp, miếu, tường thành, ngân hàng, bến xe, nhà giam. Thời gian lợi có can Mậu Kỷ, chi Thìn Tuất Sửu Mùi, hoặc Bính Đinh Tỵ Ngọ; kỵ Giáp Ất Dần Mão. Phương lợi là Đông Bắc, Tây Nam, Nam; màu lợi là đỏ và vàng, kỵ xanh lá.
Đoài: đầm nước, miệng lưỡi và niềm vui
Một nét âm nằm trên hai nét dương, như mặt đầm mềm mại phủ lên lớp đất cứng bên dưới.
Đoài mang số hai, thuộc kim, đứng ở phương Tây, màu trắng. Hình quẻ có một âm ở trên, hai dương ở dưới, biểu thị bên ngoài mềm mà bên trong cứng, xu thế đi lên, bên ngoài hư mà bên trong thực. Đoài là đầm, nơi hấp thu và trao đổi thông tin với các vật xung quanh. Hào âm hở ở trên cùng giống cái miệng, gợi nên miệng lưỡi, lời nói, tiếng cười. Người con gái nhỏ tuổi vui vẻ vô tư là hình ảnh của Đoài, vì thế Đoài là thiếu nữ. Đoài thuộc kim ở phương Tây, đúng mùa thu mang khí hủy hoại, nên cũng có nghĩa chặt gãy, hao khuyết. Với đất đai, đó là vùng đất mặn.
Về ý nghĩa, Đoài là nói năng, diễn giảng, thông báo, nghị luận, cười đùa, ồn ào, than thở, chê bai, rao hàng, sức hấp dẫn, ăn uống, thuốc thang, thương lượng, âm nhạc, tín ngưỡng, hư hao, hình phạt, phá hoại, vật ngoài mềm trong cứng, đồ vật có miệng mở ở phía trên. Người mang tượng Đoài là thiếu nữ, cô gái dễ mến, bạn bè, người làm nghề liên quan miệng như nói, hát, người làm nghề vui vẻ, nghề phá dỡ, pháp sư, giáo viên, diễn giả, phiên dịch, bác sĩ ngoại khoa, nha sĩ, công nhân nhà máy thực phẩm, nhân viên nhà hàng, thợ kim khí, vợ lẽ, người trung gian. Tính cách là vui vẻ, nói to, thích ca hát, dễ gần, ôn hòa, giỏi ăn nói, thân mật, trọng tình cảm và nghĩa khí, nhưng có lúc phá phách và nói xấu.
Về cơ thể, Đoài là miệng, lưỡi, phổi, đờm, khí quản, họng, răng, sườn phải, vai phải. Bệnh là bệnh ở miệng, lưỡi, họng, răng, ho đờm, ngực, bệnh phổi, bàng quang, ngoại thương, thiếu máu, huyết áp thấp, phẫu thuật. Thiên tượng là mưa phùn, tiết trời ẩm thấp, trăng non, sao, hết sương. Động vật là dê, báo, vượn, khỉ, thỏ. Vật tượng là dụng cụ ăn uống, thực phẩm, dụng cụ chứa nước, tiền kim loại, dao kiếm, kéo, đồ chơi, bình hộp mở miệng, vật hư hỏng, vật khiếm khuyết, nhạc cụ. Nơi chốn là đầm lầy, đất trũng, giếng nước, ao hồ, rãnh nước, sân trượt băng, khu vui chơi, phòng họp, phòng hòa nhạc, cửa hàng ăn uống, hang động, nơi biểu diễn. Thời gian lợi có can Canh Tân, chi Thân Dậu, hoặc Mậu Kỷ cùng Thìn Tuất Sửu Mùi; kỵ Bính Đinh Tỵ Ngọ. Phương lợi là Tây, Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nam; màu lợi là trắng và vàng, kỵ đỏ.
Từ tượng đến người, bệnh và hướng
Bảng tượng chỉ thật sự có ích khi ta thấy nó mở ra những ngả đường cụ thể.
Gom lại tám quẻ, mỗi quẻ đều trả lời cùng một loạt câu hỏi: nó gợi nhớ loại người nào, tính cách nào, bộ phận cơ thể nào, bệnh nào, đồ vật nào, nơi chốn nào, thời điểm và phương hướng nào. Từ đó, khi một quẻ hiện ra trong một câu hỏi, ta có thể dùng nó để đọc tính khí người trong cuộc như cách người ta tìm hiểu tính cách trong Tứ trụ, hay đọc thể trạng như cách người ta xét bệnh tật qua ngũ hành. Phần thời gian, phương hướng và màu sắc thuận lợi cũng cho một gợi ý thực tế khi cần chọn ngày và chọn hướng.
Điều cần giữ là các bản liệt kê này không nhằm để học thuộc từng chữ. Chúng là minh họa cho một cách suy: bắt đầu từ hình quẻ, nhìn xem hào âm hào dương nằm ở đâu, rồi tìm điểm chung với vật đang hỏi. Khi tiếp xúc nhiều với những lần đoán thật, tượng của tám quẻ sẽ trở thành phản xạ, như người quen đọc chữ không cần đánh vần.
Nguồn: Hoàng Giám, Dịch Hồn – Bát Quái Tượng Số Dự Trắc Pháp.
